Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư- nhóm 4 potx - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ

Bài tập nhóm môn kinh tế đầu tư
ĐỀ TÀI: Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình
hình kích cầu đầu tư ở nước ta.
Nhóm thực hiện: Lý Thị Hảo
Dương Ngọc Hoa
Hồ Diệu Hồng
Bùi Xuân Quỳnh
Vũ Minh Thành
Lớp: Đầu tư 50D
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Quang Phương

Hà Nội - 2011

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ VÀ KÍCH CẦU
ĐẦU TƯ
I.Một số khái niệm cơ bản
1.Khái niệm về đầu tư
2.Phân loại đầu tư
3. Chi tiêu đầu tư
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
1. Lợi nhuận kì vọng
2. Lãi suất tiền vay
3. Sản lượng quốc gia
4. Chu kì kinh doanh
5. Đầu tư nhà nước
6. Môi trường đầu tư
7. Lợi nhuận thực tế

2.Nhóm giải pháp về qui hoạch
3.Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng
4.Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
5.Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ
6.Nhóm giải pháp về giải phóng mặt bằng
7.Nhóm giải pháp về phân cấp, cải cách hành chính
8.Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư
9.Nhóm giải pháp ổn định hóa môi trường vĩ mô
III.Nhóm giải pháp nhằm tăng hiểu quả các gói kích cầu
1.Về phía Cơ quan quản lý Nhà nước
2.Về phía các đối tượng được thụ hưởng lợi ích từ gói kích cầu
LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư là hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế của các quốc
gia, dù là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển. Đầu tư góp phần
tạo nên tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Có thể nói đầu tư đã trở thành
mối quan tâm hàng đầu của chính phủ các nước nói chung và của chính phủ
Việt Nam nói riêng.
Hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính chất lâu dài được thể hiện ở
thời gian thực hiện đầu tư, thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi số vốn
đã bỏ ra đối với các cở sở vật chất kĩ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh. Do
đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế. Mọi kết quả và hiệu quả
của quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố không ổn
định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian. Bởi vậy, để đảm bảo
cho mọi công cuộc đầu tư được tiến hành thuận lợi, đạt được mục tiêu mong
muốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì phải xác định được các nhân
tố ảnh hưởng đến đầu tư, nghiên cứu các tác động của chúng, từ đó đưa ra
được các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực và gia tăng tác động tích cực.
Đây là vấn đề cần phải được quan tâm đúng mức.

Đầu tư tài chinh và đầu tư thương mại hay còn gọi là đầu tư dịch
chuyển. đây là hình thức đầu tư trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển
quyền sở hữu giá trị của tài sản. Trong đầu tư dịch chuyển không có sự
gia tăng của taì sản. Chỉ có sự gia tăng về tài sản tài chính của người đầu
tư. Loại đầu tư này gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự
đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát
triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và tạo thúc đẩy quá
trình lưu thông phân phối sản phẩm do quá trình đầu tư phát triển tạo ra.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động chi
dùng vốn nhằm duy trì và tạo ra những năng lực sản xuất mới, những tiềm
lực mới của nền kinh tế, tạo them công ăn việc làm và vì mục tiêu phát
triển. Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư đóng vai trò quan trọng với sự
tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia. Đầu tư phát triển là tiền đề, cơ
sở cho các hoạt động đầu tư khác. Các hoạt động đầu tư khác không thể
tồn tại và vận động nếu thiếu đầu tư phát triển.
3. Chi tiêu đầu tư:
Xét ở tầm vĩ mô,chi tiêu đầu tư là sự dịch chuyển vốn từ các khoản tiết
kiệm của hộ gia đình và chính phủ sang khu vực kinh doanh nhằm làm
tăng lượng sản phẩm đầu ra và góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Chi tiêu
đầu tư bao gồm quyết định trì hoãn tiêu dùng, tìm kiếm và tích lũy vốn để
tăng tiềm năng sản xuất cho nền kinh tế.
Trên góc độ vi mô, chi tiêu đầu tư là quá trình nhà đầu tư quyết định
thời điểm thực hiện đầu tư và kết hợp các nguồn lực với tỷ lệ như thế nào
để quá trình thực hiện đầu tư đạt được kết quả cao nhất.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư:
1. Lợi nhuận kì vọng:
1.1. Lý thuyết của Keynes:
Theo Keynes thì lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 yếu tố cơ bản quyết
định đến đầu tư.
Lợi nhuận kì vọng là khoản lợi nhuận nhà đầu tư mong muốn sẽ thu

được cung ứng vào nền kinh tế. Cung tăng dẫn đến giá sản phẩm giảm.
chi phí sản xuất coi như ổn định, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư giảm.
Khi quy mô vốn đầu tư tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các
nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư đến khi hiệu quả biên của vốn lớn hơn lãi
suất của vốn vay trên thị trường vốn. Khi nào hiệu quả biên của vốn thấp
hơn mức lãi suất vốn vay tức là lợi nhuận tăng thêm thấp hơn so với chi
phí tăng thêm thì các nhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộng
sản xuất. điểm cân bằng đạt được khi hiệu quả biên của vốn đầu tư bằng
với lãi suất cho vay của ngân hàng.
Theo Keynes tỷ suất lợi nhuận là đại lượng khó xác định. Tuy nhiên
chính điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư. Lợi nhuận thu
được có thể rất cao, có thể thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà
đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được lợi nhuận cao. Bên cạnh đó họ
cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra. Đó là tính hai mặt của
đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng.
1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng:
- Cung cầu hàng hóa:
Cầu là lượng hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng
mua tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định. Cầu hàng
hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đó là thu nhập, mức sống, thói quen tiêu
dùng và thị hiếu của người dân. Nếu cầu tiêu dùng trên thị trường tăng thì
lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp tăng và ngược lại.
Cung hàng hóa là lượng hàng hóa mà người sản xuất muốn bán và có
khả năng bán tại những mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác
định. Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất của xã hội tức là khat
năng kết hợp các yếu tố đầu vào, công nghệ sản xuất. bên cạnh đó là các
yếu tố khác như chính sách thuế, các kỳ vọng… Khi cung hàng hóa trên
thị trường tăng thì giá hàng hóa giảm xuống làm cho lợi nhuận của doanh
nghiệp giảm xuống, nếu cung hàng hóa trên thị trường thấp dẫn đến giá
hàng hóa tăng làm cho lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp tăng lên.

phân phối cùa cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các
ngành , vùng miền. Thuế tác động đến cung cầu trên thị trường. Thuế thu
nhập cá nhân làm giảm thu nhập của người dân làm giảm cầu tiêu dùng,
thuế còn tác động đến giá các yếu tố đầu vào làm tăng chi phí sản xuất và
ảnh hưởng đến cung hàng hóa. Mà cung cầu hàng hóa lại ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp. Mặt khác, thuế thu nhập
doanh nghiệp còn trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vấn đề ở đây là xây dựng một chính sách thuế phù hợp. Nếu ưu đãi quá
mức sẽ gây thất thu ngân sách và giảm đầu tư công cộng. Còn nếu thuế
quá cao sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các mặt hàng sản xuất trong
nước và gây ra hiện tượng trốn thuế, buôn lậu.
2.Lãi suất tiền vay:
2.1. Khái niệm:
Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, giá cả
của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê hoặc cho thuê các dịch vụ về vốn
dưới hình thức tiền tệ hoặc dưới dạng thức các tài sản khác nhau. Khi đến
hạn, người đi vay trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số
tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi
là lãi suất.
Lãi suất là cơ sở để các cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết
định kinh tế của mình xem đầu tư vốn của mình vào danh mục đầu tư này
hay danh mục đầu tư khác.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trương hiện nay, chính sách lãi suất
còn được sử dụng như một công cụ góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô.
Thông qua việc thay đổi mức lãi suất và cơ cấu lãi suất trong từng thời kí
nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn
đầu tư, do vậy tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu;tốc độ tăng
trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình hình lạm phát của đất nước.
Mặt khác, lãi suất còn góp phần điều tiết các luồng vốn đi ra và đi vào của
một nước. Nếu mức lãi suất trong nước thấp hơn mức lãi suất trên thị

dự án lớn hơn lãi suất thực tế, vì vậy lãi suất càng cao càng có ít dự án
đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư giảm.
Tuy nhiên nếu lãi suất càng thấp thì sẽ có nhiều dự án IRR thấp được
triền khai tức là những dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao. Khi đó nền kinh tế
có thể tăng trưởng nhanh do tổng đầu tư tăng nhưng có thể dẫn đến lạm
phát cao, chính phủ buộc phải thực hiện các biện pháp kiểm soát tiền tệ.
Những dự án có hiệu quả thấp sẽ bị lỗ và tiếp tục vay vốn, nhiều dự án bị
phá sản, nền kinh tế bị suy thoái. Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp
hơn lãi suất thế giới thì có thể dòng vốn trong nước sẽ chảy ra nước ngoài
làm cho đầu tư trong nước giảm.
Mặt khác theo công thức: I=a-b×r
Trong đó: a: đầu tư tự định , b: độ nhạy của đầu tư
r: lãi suất. Đầu tư và lãi suất tỷ lệ nghịch với nhau. Lãi suất càng tăng thì chi phí
vốn vay của doanh nghiệp tăng dẫn đến lợi nhuận thực của doanh nghiệp
giảm. Theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì đầu tư tỷ lệ thuận với lợi
nhuận thực của doanh nghiệp. do đó khi lợi nhuận thực giảm thìđầu tư
giảm. Trên thực tế vẫn có nhiều doanh nghiệp vẫn quyết định tăng quy
mô vốn đầu tư khi lãi suất ở mức cao. Đó là những doanh nghiệp nhận
thấy nếu mở rộng quy mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao, hoặc những
doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng ít vốn đầu vaònên tác động của lãi suất
đến quyết định đầu tư là không lớn nên vẫn quyết định đầu tư. Bên cạnh
đó có những doanh nghiệp khi lãi suất thấp vẫn không tăng quy mô vốn
đầu tư vì nhận thấy việc mở rộng đầu tư không mang lại nhiều lợi nhuận
và có độ rủi ro cao. Vậy bất kỳ sự tăng giảm nào của lãi suất cũng luôn
gây bất lợi cho nền kinh tế. việc giữ cho lãi suất ổn định là yêu cầu bức
thiết để tăng cơ cấu đầu tư, ổn định nền kinh tế.
-Khi quy mô vốn thay đổi:

không tăng nữa hoặc có thể bị thu hẹp.
Theo chiều ngược lại, tác động của quy mô vốn đầu tư đến tỷ suất lợi
nhuận là khi quy mô vốn đầu tư tăng lên thì tỷ suất lợi nhuận cũng giảm
dần
c, Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ suất lợi nhuận:
- Tỷ suất ảnh hưởng đến lãi suất:
Tỷ suất lợi nhuận giảm làm cho quy mô vốn đầu tư giảm kéo theo nhu
cầu về vốn vay giảm trong khi cung cầu về quỹ cho vay không thay đổi.
Từ đó lãi suất giảm để kích thích đầu tư tăng để làm cân bằng cung cầu
quỹ cho vay.
Tỷ suất lợi nhuận tăng làm quy mô vốn đầu tư tăng làm cầu về quỹ cho
vay tăng trong khi cung cầu của quỹ cho vay không tăng kịp vì vậy để
tăng cung quỹ cho vay đáp ứng sự tăng lên của cầu về vốn vay thì lãi suất
phải tăng.
Lãi suất ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận:
Trong ngắn hạn: tỷ suất lợi nhuận là nói đến lợi nhuận ròng sau khi
đã khấu trừ chi phí trong đó chi phí thanh toán lãi suất cho ngân hàng
cũng chiếm một phần không nhỏ. Do đó khi lãi suất tăng thì lợi nhuận
giảm dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm.
Trong dài hạn lợi nhuận giảm làm cho doanh nghiệp phải thu hẹp đầu
tư làm cho cung sản phẩm trên thị trường giảm trong khi cầu về hàng hóa
trên thị trường không thay đổi làm cho giá hàng hóa tăng lên. Lợi nhuận
tăng dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cũng tăng. Nếu hoạt động đầu tư có nhiều
rủi ro hoặc vì một lý do nào đấy doanh nghiệp không mở rộng đầu tư thì
tỷ suất lợi nhuận không thay đổi.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất:
- Cung cầu qũy cho vay:
Lãi suất là giá cả cho vay vì vậy bất kỳ một sự thay đổi nào của cung
hoặc cầu hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ cũng
làm thay đổi lãi suất vốn vay, tuy mức biến động ít nhiều phụ thuộc vào

- Các chính sách của chính phủ:
Chính phủ có thể thông qua chính sách lãi suất để điều chỉnh cơ cấu
kinh tế của một vùng miền địa phương nào đó. Có thế dùng chính sách lãi
suất ưu đãi để hỗ trợ các vùng miền địa phương phát triển ngành nghề
kinh tế mà chính phủ mong muốn.
Những thay đồi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh hưởng
tới lãi suất. Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty ảnh hưởng đến
lãi suất như ảnh hưởng của thuế đến giá cả hàng hóa. Nếu các hình thức
thuế này tăng lên cũng có nghĩa là điều tiết đi một phần thu nhập của cá
nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh
doanh chứng khoán. Thông thường ai cũng quan tâm đến thu nhập thực
tế, lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Do vậy để duy trì một
mức lãi suất nhất định thì phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay
đồi về thuế.
- Những thay đổi về đời sống xã hội:
Sự thay đổi của lãi suất còn chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố về
đời sống xã hội. Đó là sự phát triển của thị trường tài chính với các công
cụ tài chính đa dạng phong phú, độ phát triển của các tổ chức tài chính
trung gian bên cạnh đó là sự cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ
của các tổ chức này, hiệu suất sử dụng vốn hay tỷ suất đầu tư cận biên
trong nền kinh tế trong các thời kỳ khác nhau do sự thay đổi công nghệ và
phát triển mạng tính chu kỳ của nền kinh tế cũng tác động đến sự thay đổi
lãi suất. thêm nữa là tình hình về kinh tế chính trị cũng như những biến
động về tài chính quốc tế… đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất
của các nước khác.
3.Sản lượng quốc gia:
3.1.Khái niệm:
Sản lượng quốc gia hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị của tất cả
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên lãnh thổ quốc gia trong
một thời kỳ nhất định.

trước.
* Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:
- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư. Nếu x không đổi trong kì
kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác.
- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ. Khi kinh tế
tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng , cơ hội kinh doanh lớn, dẫn
đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư tăng nhiều.
4.Chu kì kinh doanh:
4.1.Khái niệm chu kỳ kinh doanh:
Chu kỳ kinh doanh là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba
pha: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Nói cách khác đó là sự biến động
của nền kinh tế quanh xu thế tăng trưởng dài hạn bao gồm cả thời kỳ tăng
trưởng nhanh và thời kỳ suy thoái của nền kinh tế.
Suy thoái là pha mà GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, quy định
nếu tốc độ tăng trưởng mang giá trị âm hai quý liên tiếp thì gọi là suy
thoái.
Phục hổi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng với mức trước khi
xảy ra suy thoái. Điểm ngoặt giữa pha suy thoái và phục hồi là đáy của
chu kỳ kinh tế
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và cao hơn trước khi xảy ra suy thoái thì
nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt
đầu một pha suy thoái mới. Điểm ngoặt giữa pha hưng thịnh và suy thoái
là đỉnh của chu kỳ kinh tế.

4.2.Tác động của chu kỳ kinh doanh đến chi tiêu đầu tư:
Chu kỳ kinh doanh tác động gián tiếp đến quyết định đầu tư của doanh
nghiệp thông qua lợi nhuận kỳ vọng.
-Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng. Theo lý thuyết tính kinh tế
của quy mô, trong những điều kiện nhất định thì việc gia tăng quy mô sản
lượng sản xuất có thể giúp chủ đầu tư tiết kiệm được chi phí sản xuất, họ

Đầu tư từ NSNN là nguồn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của quốc gia. Nguồn lực này thường được sử dụng cho
các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các
dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà
nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông
thôn. Nguồn chi này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chi
đầu tư khác vì nó giúp cải thiện môi trường đầu tư và đồng thời là nguồn
chi không thể thiếu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, nếu hoạt động chi
NSNN không hợp lý, sai mục đích, thất thoát sẽ gây ra thâm hụt ngân
sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực
trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Bên cạnh đó,
nguồn vốn này còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển
kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hôi. Đầu tư từ các doanh
nghiệp này góp phần rất lớn cho sự phát triển kinh tế từ việc kết hợp với
các doanh nghiệp tư nhân thực hiện các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên trong
một số trường hợp đầu tư nhà nước lấn át đầu tư tư nhân như cạnh tranh
không công bằng, hạn chế sự phát triển của một số doanh nghiệp tư nhân.
Nhìn chung, nếu đầu tư nhà nước được thực hiện một cách hợp lý, đúng
hướng có thể góp phần làm tăng hiệu quả chi đầu tư, phát triển kinh tê –
xã hội.
6. Môi trường đầu tư:
Môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định của nhà
đầu tư. Sự cải thiện môi trường đầu tư có quyết định vô cùng quan trọng
đối với chi đầu tư và nền kinh tế. Nếu môi trương đầu tư thuận lợi có thể

ngoại tệ, tỷ giá hối đoái, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Những quy định
này có ảnh hương lớn tới nhà đầu tư nước ngoài.
-Quản lý hoạt động đầu tư: trong quá trình hình thành và triển khai dự án
đầu tư, chủ đầu tư phải chịu sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền từ
khâu cấp giấy phép, thẩm định dự án đến quản lý thực hiện dự án.
- Ngoài những chính sách trên còn có những chính sách khác mà nhà đầu
tư cần xem xét khi đưa ra quyết định đầu tư như:
Chính sách về công nghệ.
Chính sách về bảo vệ môi trường.
Chính sách về lao động, tiền lương.
Chính sách về việc sử dụng các nguồn tài nguyên
7. Lợi nhuận thực tế:
Liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư và lợi nhuận thực tế ta có
thể xem xét đến lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ, thể hiện qua phương trình
I = f (lợi nhuận thực tế)
Do đó dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn. Vì lợi
nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn.
Nguồn vốn có thể huy động cho đầu tư bao gồm: lợi nhuận giữ lại, tiền
trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái
phiếu và bán cổ phiếu. Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là
nguồn vốn nội bộ của doanh nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu,
bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả
nơ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có
thể không trả được nợ và lâm vào phá sản. Do đó việc đi vay khôn phải là
hấp dẫn, trừ khi có ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát
hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, còn bán cổ phiếu
để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệu quả của
dựa án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ
lớn hơn chi phí đã bỏ ra.
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ thì doanh nghiệp thường

lại, khi cần tăng lượng tiền cung ứng, ngân hàng nhà nước thực hiện các
chính sách tiền tệ mở rộng. Keynes lập luận rằng khi nền kinh tế lâm vào
khủng hoảng, chính sách tiền tệ tương đối ít hiệu quả hơn. Hơn nữa khi
kinh tế khủng hoảng hay các nhà đầu tư bi quan về triển vọng kinh tế
trong tương lai, lãi suất cần giảm để khuyến khích các doanh nghiệp đầu
tư nhiều hơn.
Mặt khác, khi chính phủ thay đổi tỉ giá cũng làm ảnh hưởng đến nhiều
hoạt động đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Trước khi đầu tư
vào một nước, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ xem xét tỉ giá, giá trị đồng
tiền của quốc gia đó, kết hợp với nhiều yếu tố khác nữa rồi mới đưa ra
quyết định đầu tư.
III. Kích cầu đầu tư:
1. Khái niệm:
Kích cầu là một giải pháp nhằm kích thích, khuyến khích tiêu dùng với
mục tiêu làm tăng tổng cầu, tổng cung hàng hóa xã hội, thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ
pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút
ngày càng nhiều vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phát triển
kinh tế xã hội trong một giai đoạn hay thời kì nhất định.
Theo lý thuyết của keynes, thành phần của tổng cầu bao gồm:
AD = C + I+ G + NX
Trong đó:
C -chi tiêu của hộ gia đình.
I - đầu tư của tư nhân.
G- chi tiêu của chính phủ, trong đó có chi thường xuyên và chi
cho đầu tư phát triển
NX- xuất khẩu ròng.
Như vậy, theo lý thuyết của keynes, kích cầu tức là phải làm tăng sản
lượng và mức nhân dụng, làm tăng nhu cầu đầu tư của tư nhân và chính

có quan hệ ngược chiều. Vì thế khi lãi suất giảm, các nhà đầu tư sẽ vay
vốn nhiều hơn để thực hiên hoạt động đầu tư của mình, quy mô vốn đầu
tư tăng. Mặt khác, khi lãi suất tăng thì quy mô vốn đầu tư sẽ giảm. Đối
với yếu tố lãi suất, ngân hàng trung ương có thể thông qua các chính sách
sau:
- Khi chính phủ thực hiện giảm lãi suất thì đầu tư tăng
- Thông qua nghiệp vụ thị trường mở: khi NHTW mua trái phiếu trên thị
trường, cung tiền tăng làm giảm lãi suất, đầu tư tăng.
- NHTW giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương
mại(NHTM): khi đó, NHTM sẽ dự trữ ít hơn và cho vay nhiều hơn, cung
tiền tăng và đầu tư tăng.
-NHTW giảm lãi suất chiết khấu: lãi suất chiết khấu là lãi suất mà
NHTM vay tiền từ NHTW. Khi lãi suất chiết khấu giảm, NHTM sẽ tin
tưởng vào khả năng trả nợ của mình trong tương lai nhờ vay tiền từ
NHTW nên sẽ cho vay nhiều hơn, làm cung tiền tăng, đầu tư tăng.
3.2. Chính sách thuế:
Khi thuế tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm do chi phí tăng. Do
đó, để kích cầu, chính phủ cần giảm thuế, đặc biệt là thuế doanh nghiệp.
Các chính sách cụ thể có thể áp dụng như:
- Giảm mức thuế.
-Giãn hạn nộp thuế.
- Thực hiện ưu đãi về thuế suất đối với những ngành cần khuyến khích
đầu tư như những ngành mũi nhọn hay có tính xã hội cao.
3.3. Chính sách tỉ giá:
Tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán
cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của nhà nước.
Bên cạnh tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu, tỷ giá còn tác động tới
lĩnh vực đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư từ bên ngoài vào.
Khi tỉ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ tăng, đồng ngoại tệ sẽ đắt
hơn tương đối so với đồng nội tệ, khi ấy sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước

nhà khoa học, các tổ chức, các doanh nghiệp thực hiện dưới nhiều hình
thức như tổ chức các hội thảo khoa học, các chuyến viếng thăm ngoại
giao cấp chính phủ, diễn đàn đầu tư, tham khảo, quan sát và thông qua
các phương tiện thông tin, xây dựng các mạng lưới văn phòng đại diện ở
nước ngoài.
Một môi trường đầu tư tốt nhưng nếu ít được thế giới biết đến hoặc biết
không đầy đủ, sai lệch thì cũng kém thu hút các nhà đầu tư. Thông qua
xúc tiến, ta cũng có thể tìm kiếm dược những thị trường mới để tăng cầu
đầu tư.
3.7. Kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả:
Trong một nền kinh tế có lạm phát thì dù kinh tế có tăng trưởng cao, thu
nhập quốc dân cao thì cũng chưa chắc mang lại mức sống cao hơn cho
người dân. Hơn nữa trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát thì tích lũy
của nền kinh tế sẽ không đủ cho đầu tư và hoạt động đầu tư cũng khó
mang lại hiệu quả.
Bởi vậy, nhà nước cần có biện pháp để kiểm soát lạm phát, bình ổn giá
cả để tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư khi tham gia đầu tư.
3.8. Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước:
Một môi trường có tính pháp lý ổn định sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư
hơn. Vì vậy, để kích cầu đầu tư cần tạo dựng một môi trường luật pháp
đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo và có tính hiệu lực
cao.
Đồng thời, trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, nhà nước cần điều
chỉnh chính sách pháp luật cho phù hợp với môi trường quốc tế.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ TÌNH HÌNH KÍCH
CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY.
I. Thực trạng đầu tư ở Việt Nam
1. Đầu tư trong nước
1.1. Đầu tư nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm : nguồn vốn của ngân sách nhà

2009 (%)
TỔNG SỐ 830,3 100,0 117,1
Khu vực Nhà nước 316,3 38,1 110,0
Khu vực ngoài Nhà nước 299,5 36,1 124,7
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài 214,5 25,8 118,4
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010
Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, và luôn có sự tăng trưởng cao trong các năm. Xét về
cơ cấu, vốn ngân sách chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư từ khu vực nhà
nước, còn 50% là từ các nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp Nhà nước

Trích đoạn Nhóm giải pháp ổn định hóa môi trường vĩ mô Nhóm giải pháp nhằm tăng hiểu quả các gói kích cầu 1.Về phía Cơ quan quản lý Nhà nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status