TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp nhăm góp phần
tăng kim ngạch xuất khẩu gạo trong
năm 2001 và một vài năm tới
của chúng ta và con cháu chúng ta. Vì vậy, bài viết nhỏ này sẽ không tránh khỏi
những khiếm khuyết, rất mong các thầy cô, các bạn và tất cả những người quan
tâm cùng giúp đỡ tôi để bài viết sau hoàn thiện hơn bài viết trước. I . Những vấn đề chung về xuất khẩu gạo.
1.Khái niệm chung về xuất khẩu gạo.
Xuất khẩu gạo hiểu theo nghĩa đơn giản là việc các cá nhân, tổ chức, chính
phủ nước này chuyển giao gạo cho các cá nhân, tổ chức, Chính phủ nước kia để
thu một lượng ngoại tệ nhất định hoặc một lượng vật chất có giá trị tương đương.
2. Vai trò của xuất khẩu gạo trong đời sống xã hội và trong chiến lược
xuất khẩu của đất nước.
1.1. Vai trò của xuất khẩu gạo trong đời sống xã hội.
Trên thế giới, lúa xếp hàng thứ hai sau lúa mì về diện tích gieo trồng, nhưng
đứng trên quan điểm dinh dưỡng mà xét thì lúa gạo đã cung cấp số calo tính trên
đơn vị héc- ta lúa gạo có thể nuôi sống 5,7 người trong một năm, so với 5,3 đối
với ngô và 4,1 đối với lúa mì. Trong các khẩu phần dinh dưỡng của các nước châu
á, kể cả Việt Nam, gạo đã cung cấp 40-80% lượng calo và đã cung cấp được ít
nhất là 40% lượng Protein , Protein của lúa gạo có giá trị dinh dưỡng cao vi tính
cân bằng của các amimôacid không thể thay thế (essentilaminoacids) và vì độ tiêu
hoá của protein này rất cao (có thể lên tới 100%).
Còn xét về mặt xã hội thì nghề trồng lúa và công nghệ sản xuất lúa gạo, kể cả
công nghệ sau thu hoạch, đã tạo công ăn việc làm cho một cộng đồng lớn nhất của
nhân dân trong vùng nông thôn trên hành tinh của chúng ta. Khoảng 80-100 triệu
người tằng thêm hàng năm yêu cầu được cung cấp lương thực, phần lớn lại ở
những nước kém phát triển và nghèo. Theo Tiến Sĩ Lampe, nguyên Tổng giám đốc
Viện lúa Quốc tế IRRI, trong 30 năm tới dự đoán mỗi năm sẽ cần khoảng 870 triệu
phối, lưu thông, xuất nhập khẩu…
Những năm gần đây, Việt Nam đã đứng vào hàng những nước xuất khẩu gạo
hàng đâu thế giới. Sản lượng của Việt Nam tăng từ 1,4 triệu tấn năm 1989 lên 3,8
triệu tấn năm 1998, năm 1999 đạt trên 4,3 triệu tấn năm 2000 đạt 3,6 triệu tấn.
Trong những năm tới Việt Nam dự kiến xuất khẩu ở mức ổn định 4,0-4,5 triệu tấn/
năm. Về số lượng khá lớn, song hiệu quả xuất khẩu và khả năng cạnh tranh thì gạo
của Việt Nam đang còn thấp, một trong những nguyên nhân là do chất lượng gạo
của Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu về phẩm cấp của thị trường gạo thế
giới. Gạo của chúng ta thiếu sự đồng đều về phẩm cấp hạt, dù trong cùng một
vùng sinh thái song lại có quá nhiều giống lúa khác nhau được trồng. Trong cơ cấu
giống lúa đang sử dụng ở ĐBSCL thì các giống lúa hạt dài, chất lượng gạo cao thị
trường thế giới ưa thích lại chiếm tỷ trọng thấp. Trái lại, các giống lúa có năng suất cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt, song hạt gạo ngắn, chất lượng thấp lại
được đa số nông dân ưa chuộng. Mặt khác, tỉ lệ hạt bạc bụng, hạt vàng, hạt xanh
non,tạp chất,… trong gạo xuất khẩu còn cao cũng đã làm giảm khả năng cạnh
tranh.
2.1. Số lượng và giá cả gạo xuất khẩu.
Thị trường lúa gạo là một trong những thị trường ngũ cốc quan trọng của thế
giới. Năm 1995,cả thế giới xuất khẩu 21 triệu tấn, đến năm 1998 xuất khẩu 27,42
triệu tấn và năm 2000 thế giới sẽ xuất khẩu khoảng 23 triệu tấn. Thực tế thị trường
gạo hiện nay đang gặp phải hai vấn đề khó khăn ảnh hưởng đến số lượng và giá cả
gạo xuất khẩu:
+ Mức cung và mức cầu: Có khuynh hướng luôn luôn biến động mạnh do
sản xuất phải phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Cụ thể năm 2000 do lũ
lụt ảnh hưởng nặng nề, không những ảnh hưởng đến chất lượng gạo mà còn ảnh
hưởng lớn đến sản lượng, làm chúng ta không đạt được kim ngạch xuất khẩu như
dự kiến.
Diễn biến tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới chia theo vùng lãnh thổ.
Other Africa 7/ 10.697 11.236
South Asia 8/ 108.815 111.000
Other Asia 9/ 237.914 239.477
Oceania 10/ 495 505
+ Vấn đề tài chính: Các nước xuất khẩu luôn luôn tăng sản lượng sản xuất
lúa gạo không chỉ để thoả mãn cho nhu cầu tăng dân số mà còn mang lại nguồn
ngoại tệ đáng kể. Vì vậy, xu thế sẽ xuất hiện thêm nhiều nước xuất khẩu lúa gạo,
dẫn đến xu hướng cạnh tranh ác liệt trên thị trường lúa gạo thế giới. Trong những
năm gần đây, Pakistan, Myanma, ấn Độ và Trung Quốc mỗi nước xuất khoảng
trên 2,0 triệu tấn/năm,riêng Việt Nam năm 1999 đã xuất được trên 4,5 triệu tấn, và
dự kiến trong năm 2000 sẽ xuất khoảng 4,3 triệu tấn, được xem là một trong các
nước xuất khẩu mới có thể cạnh tranh với hai nước xuất khẩu gạo truyền thống là
Thái Lan (xuất khoảng 5-6 triệu tấn/năm), Mỹ xuất khoảng 2,5-3,0 triệu tấn/năm,
đặc biệt là ấn Độ năm 1996 đã xuất khẩu gần 4 triệu tấn gạo và năm 1998 đã xuất
khẩu gần 4,5 triệu tấn. Tình hình xuất khẩu gạo ở một số nơi trên thế giới qua các năm.
ĐVT:1000 tấn
Nước 1999 2000
Argentina 525 500
Australia 700 700
Burma 200 225
China 2.000 2.100
Guyana 300 310
India 2.750 2.200
Pakistan 2.000 2.000
Thailand 5.700 5.700
Uruguay 725 700
Vietnam 4.000 3,64.000
Để tăng mức độ cạnh tranh, những nước xuất khẩu truyền thống có nguồn tài
chính dồi dào đã trợ giá cho nông dân và xuất khẩu dưới hình thức tín dụng
thương mại nên có ưu thế hơn.
Chẳng hạn, mùa thu năm 1990 Thái Lan đã bán cho gạo Liên Xô (cũ) với
giá 235USD/ tấn (giá FOB) nếu trả ngay. Chính phủ Thái Lan cũng đã tổ chức
nâng đỡ thị trường nội địa,và cuối năm 1990 Nhà nước đã mua được khoảng
200.000 tấn lúa của nông dân với giá nâng đỡ. Đầu năm 1999, Chính phủ Thái Lan
đã thực hiện bán gạo số lượng rất lớn cho Iran với hình thức tín dụng thương mại
2 năm.
Đầu quý 1/2000 Chính phủ Thái Lan tiếp tục can thiệp để hỗ trợ thị trường
gạo trong nước bằng cách Chính phủ mua thêm 100.000 tấn gạo của các nhà máy
mua thóc có độ ẩm 25% của nông dân với giá 4450 bah/tấn (37.983 Bah/ USD) đối với hạt gạo dài và 4.300 Bah/tấn đối với hạt gạo ngắn. Chính phủ Thái Lan dự
kiến phải mua 500.000 tấn gạo niên vụ 99-2000 trong chương trình can thiệp của
mình.
Mục tiêu của chính sách ngũ cốc mới đươc Chính phủ Trung quốc công bố
vào năm 1999 là nhằm khuyến khích nông dân trồng các giống lúa chất lượng cao
hơn và giảm sản xuất các loại chất lượng kém. Kể từ đầu năm 2000,một số loại
gạo Indian chất lượng kém vụ đầu sẽ không còn được Chính phủ mua theo giá bảo
hộ.
2. Đánh giá thực trạng xuất khẩu gạo.
2.1. Triển vọng của việc xuất khẩu gạo.
Kinh tế tế thế giới ổn định trong tương lai sẽ làm sản lượng gạo ổn định và
tăng cao đồng thời làm tăng nhu cầu về gạo.
Cho đến nay, nhiều dự báo của IMF, WB, OECD, Viện nghiên cứu Nhận
Bản (JRI) và Viện kinh tế Đức (DIW) đã đưa ra kết luận khả quan rằng, 5 năm đầu
của thế kỷ 21, kinh tế thế giới sẽ phát triển ổn định. Tốc độ tăng GDP bình quân
của thế giới giai đoạn 2001- 2005 sẽ đạt 3,4%/năm. Trong đó, GDP của các nước
Thái Lan, tằng đều trong hai năm 2001-2002, sẽ ở mức 240 USD/ tấn vào cuối
năm 2001, tăng lên 280 USD/tấn vào năm 2002 là 290 USD/tấn và tăng đều trong
hai năm 2001-2002, sẽ ở mức 240 USD/tấn vào cuối năm 2001, tăng lên 280
USD/ tấn vào năm 2002 và 290 USD/tấn vào quý I/2003. Dự báo giá gạo trắng của
Thái Lan trong quý I/2001 là 205 USD/tấn; quý II là 215 USD/tấn; quý III là 230
USD/tấn và quý IV là 240 USD/tấn. Mức giá trung bình của cả năm là 223
USD/tấn.
Theo phó Thủ tướng Kiêm Bộ trưởng thương mại Thái Lan Supachía
Panitchpakdi xuất khẩu gạo của Thái Lan trong năm qua đã vượt quá mức tiêu thụ
do Chính phủ đặt ra về số lựợng và giá trị. Ông cho biết số gạo xuất khẩu của Thái
Lan năm 2000 đạt 6,61 triệu tấn, trị giá 68 tỷ Baht (1,74 tỷ USD), vượt 10% so với
mục tiêu về số lượng đề ra là 6 triệu tấn và tăng 13% so với mức tiêu thụ đề ra
1.55 tỷ USD. Đó là nhờ sự tăng trưởng về xuất khẩu gạo của nước này sang các thị
trường chính như Nigeria, Iran, Senegal, Nam Phi.
Theo ông Supachai, mặc dù kim ngạch xuất khẩu gạo của Thái Lan trong
năm qua thấp hơn so với năm 1999, đạt 6,71 triệu tấn, doanh thu 72,33 tỷ Baht,
nhưng vẫn được coi là một kết quả khả quan bởi vì xuất khẩu gạo trên thế giới
trong năm 2000 đã tăng chậm và giá cả bị giảm. Ông cho hay, trong năm 2001, Chính phủ Thái Lan cũng đặt ra mức tiêu thụ về xuất khẩu gạo bằng năm
2000.Trước đó, Bộ thương mại Thái Lan đã dự báo mức xuất khẩu gạo của nước
này năm nay sẽ giảm xuống do nhu cầu về gạo ở các thị trường chính, trong đó có
thị trường Mỹ tăng chậm.
Cái đói đang đe doạ tại nhiều nước:
FAO và Chương trình lương thực thế giới (WFP) cảnh báo hiện có khoảng
28 triệu người dân sinh sống ở khu vực Phía nam sa mạc Sahara đang bị đoí chầm
trọng kéo dài và nguyên nhân do hạn hán và nội chiến liên miên từ nhiều năm nay.
Báo cáo lưu ý rằng tình trạng thiếu lương thực sẽ còn tiếp tục kéo dài trong năm
tới, nhất là tại Eritria, Etiopia, Kenia và Sudan. Riêng ở Eritria, hiện có 1,5 triệu
Việc phân vùng lúa phẩm cấp chất lượng cao, cùng với việc hỗ trợ về vốn, kỹ
thfuật…cho người dân đã có những kết quả đáng khả quan.
Năm 2001, tổng sản lượng lúa cả nước dự kiến cũng sẽ đạt hơn 32 triệu tấn.
Vụ đông- xuân sớm đã bắt đầu thu hoạch, các tỉnh ĐBSCL dự kiến được mùa lớn,
ước đạt khoảng 16,5 triệu tấn. Cân đối lương thực ngoài nhu cầu 1,2 triệu tấn lúa
làm giống và một phần nhỏ phẩm cấp thấp để chế biến làm thức ăn gia súc, lượng
lương thực còn lại dành cho xuất khẩu khá lớn. Trong thống kê kết quả xuất khẩu
gạo năm 2000, tổng công ty lương thực miền Nam xuất khẩu đạt 1.662.113 tấn,
Tổng công ty lương thực miền Bắc xuất khẩu trực tiếp 434.500 tấn, uỷ thác
275.000 tấn. Trong số 44 đầu mối xuất khẩu gạo, các doanh nghiệp xuất khẩu đạt
180.000-200.000 tấn, gồm có công ty lương thực Vính Long, Tiền Giang, Long
An. Các doanh nghiệp đạt mức 100.000-200.000 tấn gồm các công ty lương thực
Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, An Giang, Công ty Afiex, An Giang, nông
trường Sông Hậu. Đạt mức 70.000-80.000 tấn gồm có công ty lương thực Cần Thơ
và CTTNHH nông sản Vĩnh phát. Các công ty liên doanh có vốn ĐTNN xuất
khẩu được 120.000 tấn. Các doanh nghiệp xuất khẩu theo chuyến nhỏ lẻ mới được
13.900 tấn.
2.2. Những tồn tại và những nguyên nhân nó về xuất khẩu gao.
Nhìn lại xuất khẩu gạo năm 2000.
Theo số liệu mới nhất mà Hiệp hội lương thực Việt Nam (gọi tắt là Hiệp hội)
vừa công bố, trong năm 2000 cả nước ta đã xuất khẩu được 3.393.800 tấn gạo (
không kể lượng xuất tiểu ngạch qua biên giới), đạt tổng kim ngạch
615.820.670USD (trên cơ sở giá FOB), các hội viên trong Hiệp hội vẫn chiếm tỷ
trọng cao nhất với 96,15% tổng lượng gạo xuất khẩu, kế đến là các công ty liên doanh chiếm 3,54%, còn lại chỉ có 0,31% do các doanh nghiệp xuất khẩu khác
thực hiện.
So với năm 1999, lượng gạo xuất khẩu này giảm đến 26% (năm 1999 Việt
Nam xuất 4,56 triệu tấn), và giá bình quân cũng giảm tới 40USD/tấn. Rõ ràng đây
giảm, đảm bảo có lợi cho người sản xuất và giảm khó khăn cho doanh nghiệp xuất
khẩu.
Các doanh nghiệp cũng đã chứng tỏ được sự trưởng thành của mình trong
việc tìm kiếm thị trường, nhanh chóng nắm bắt được diễn biến của thị trường và
đẩy nhanh xuất khẩu. Số lượng gạo xuất trong các quý II và III trong năm để tăng
hơn các quý trước, và tốc độ so với Thái Lan là không xa. Chỉ trong quý IV/2000,
do lũ ĐBSCL về sớm, nhiều nhà máy chế biến phải ngừng hoạt động, chi phí bảo
quản, vận chuyển gạo xuất khẩu tăng làm giá thành gạo xuất khẩu tăng, trong khi
Thái Lan giảm giá bán, nên tốc độ xuất khẩu gạo của Việt Nam có giảm sút.
Về giá cả, những số liệu ghi nhận được cũng chứng tỏ giá gạo xuất khẩu của
Việt Nam ngày càng được cải thiện hơn, được giá hơn và khoảng cách giữa lúa
gạo xuất của Thái Lan được thu ngắn. Nếu như sáu tháng đầu năm khoảng cách
này là 20-25 USD/tấn, thì đến sáu tháng cuối năm chỉ còn chênh nhau 10-15
USD/ tấn. Có thời điểm giá gạo xuất khẩu cùng loại của Việt Nam đã ngang giá
gạo xuất khẩu của Thái Lan; mặt khác tốc độ giảm giá gạo Việt Nam chậm hơn
tốc độ giảm giá gạo của Thái Lan. Cụ thể với loại gạo 5% tấm của Việt Nam
chênh lệch giá giữa tháng 1 và tháng 12/2000 là 46 USD/ tấn (219-173 USD),
trong khi của Thái Lan là 54 USD (237-183 USD); tương tự với loại 25% tấm là
38 USD (189-151 USD) và 47 USD (201-155 USD).
Do liên tục áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp và liên tục mở rộng
diện tích canh tác lúa. Do vậy, mà sản lượng lúa hàng năm từ 1995 –1999 liên tục
tăng.
Sản xuất lương thực từ 1995 – 1999.
1995 1996 1997 1998 1999 1999 tăng
giảm so
với 1998
(%)
Tổng sản lư
ợng
lương thực quy thóc
tấn)
10.736,6
12.209,5
13.310,3 13.559,5
14.104,2
4,0
b. Lúa hè thu
Diện tích (nghìn ha) 1.742,4 1.984,2 1.885,6 2.115,6 2.335,4 10,5
Năng suất (tạ/ha) 37,3 34,7 35,2 35,6 37,5 5,3
Sản lượng (nghìn
tấn)
6.500,8 6.878,5 6.637,8 7.524,4 8.756,9 16,4
c. Lúa mùa
Diện tích (nghìn ha) 2.601,9 2.473,0 2.531,8 2.438,5 2.423,0 -1,3
Năng suất (tạ/ha) 29,7 29,5 29,9 33,0 35,2 7,4
Sản lượng (nghìn
tấn)
7.726,3 7.308,7 7.575,8 8.057,8 8.532,7 5,9
2. Mầu quy thóc
nghìn tấn
2.607,2 2.821,2 3.084,2 2.712,2 2.860,1 5,5
Do vậy, với xu thế này, năm 2001 và những năm tới dự đoán sản lượng lúa
của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng.
Năm 2001 sản lượng gạo thế giới tăng và giá cả hạ.
Vụ lúa đông xuân năm 1998-1999, giá lúa 2.200 đ/kg, nông dân ĐBSCL xây
nhà, mua xe máy, sắm tiện nghi gia đình… Nhưng, niềm vui đó chỉ thoảng qua,
1. Các giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng gạo Việt Nam.
1.1. Hoàn thiện công tác vùng quy hoạch, xây dựng vùng lúa phẩm chất
gạo cao.
Hiện nay, theo Bộ NN và PTNT thì chúng ta nên triển khai đầu tư xây dựng
vùng lúa phẩm chất gạo cao có tổng diện tích 1,3 triệu ha, trong đó ở ĐBSCL 1
triệu ha, có khả năng cung cấp 3,5- 4,0 triệu tấn gạo phẩm chất cao cho xuất khẩu.
Diện tích canh tác lúa phẩm chất gạo cao dự kiến phân theo tỉnh: Long An 68.000
ha, Tiền Giang 55.000 ha, Bến Tre 20.000 ha, Trà Vinh 50.000 ha, An Giang
157.000 ha, Kiên Giang 100.000 ha, Cần Thơ 140.000 ha, Sóc Trăng 120.000 ha,
Bạc Liêu 60.000 ha và Cà Mau 50.000 ha.
Để các vùng dự kiến thực sự phát huy hiệu quả khi đi vào sản xuất theo quy
hoach, ngay từ bây giờ, chúng ta cần có ngay phương án rà soát, bổ sung quy
hoạch nông- lâm nghiệp của các tỉnh, cũng như cả 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) theo
nghị định của quốc hội và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. ở những vùng này
cần ưu tiên đầu tư đồng bộ hệ thống thuỷ lợi, giao thông nhằm tạo điều kiện thuận
lợi việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, ổn định sản xuất, người trồng lúa yên tâm đầu
tư thâm canh. Đồng thời, chú trọng phát triển mạng lưới nhà máy chế biến lúa gạo
kết hợp với kho chứa nằm ngay trong vùng để có thể thu mua hết và chế biến kịp
thời. Và giữa vùng sản xuất với các đơn vị xuất khẩu gạo các Viện khoa học NN,
các trung tâm khuyến nông các tỉnh, huyện phải có sự phối hợp chặt chẽ giúp
người sản xuất lúa có đủ vốn, giống tốt, vật tư đầu vào, kỹ thuật canh tác và tiêu
thụ sản phẩm. Với các hộ nông dân, cần khuyến khích và tạo điều kiện cho họ
hình thành các HTX dịch vụ, bảo đảm cung ứng kịp thời, nhanh chóng các dịch vụ
nông nghiệp cũng như tiêu thụ lúa với khối lượng lớn.
1.2. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sản xuất, cung ứng và ứng dụng các
giống lúa có chất lượng gạo cao.
Giống là yếu tố hàng đầu góp phần cải thiện phẩm chất gạo và làm tăng năng
suất lúa. ở ĐBSCL, nông dân hiện đang sử dụng khoảng 50 giống lúa cao sản ngắn
ngày, trong đó có khoảng 10 giống có phẩm chất gạo đáp ứng yêu cầu xuất khẩu:
Các đơn vị nghiên cứu và công ty giống cây trồng trung ương chịu trách
nhiệm sản xuất hạt giống lúa nguyên chủng để cung cấp cho các tỉnh theo kế hoạch và đơn đặt hàng của các tỉnh. Hạt giống lúa nguyên chủng cũng cần được
trợ giá để giảm nhẹ chi phí cho các khâu nhân giống kế tiếp về sau.
Với hộ nông dân khuyến khích đổi và sử dụng giống mới. Hiện có khoảng
90% lượng hạt giống do dân tự để có chất lượng thấp, nhiều hộ sử dụng cùng một
loại giống cho trên 5-6 vụ, đã là nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất
lượng lúa, đồng thời giống bị thoái hoá nhanh.
1.3. Nâng cao phẩm chất lúa sau thu hoạch.
Phơi sấy và tồn trữ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gạo, mà
còn tạo điều kiện chủ động cho hộ nông dân có thể lựa chọn được thời điểm bán
lúa thích hợp để tăng thu nhập. ở ĐBSCL, có khoảng 67-70% hộ có phương tiện
phơi sấy lúa, số hộ còn lại phơi lúa trực tiếp trên đường hoặc trên nền đất bờ kênh
rạch,… Trong tổng số hộ có phương tiện phơi sấy, 25% hộ có sân phơi là gạch,
29% hộ có sân phơi là xi măng, còn lại là những phương tiện khác như tấm đệm,
lưới.nylon… với diện tích bình quân hộ 70m
2
. Do thiếu phương tiện phơi sấy nên
tổn thất lúa từ 1,9-2,2%, tỷ lệ tạp chất từ 1,8-2,5%, đây là tỷ lệ quá cao, đặc biệt
trong vụ hè thu lúa phơi không kịp nên bị lên men, biến vàng nhanh, nhiều lô lúa
bị mọc mầm, giảm chất lượng nghiêm trọng, tỷ lệ hạt lúa gãy cao tới 28%.
Về tồn trữ bảo quản: Hiện có khoảng 55-60% hộ nông dân trữ lúa bằng bồ,
vựa. Khối lượng dự trữ trung bình hộ 1,99 tấn, thời gian dự trữ trung bình là 103
ngày. Do hầu hết phương tiện dự trữ của nông hộ không có nắp đậy, bục kẽ đơn
giản và thấp, lúa đưa vào dự trữ độ ẩm cao nên chỉ sau một thời gian ngắn chất
lượng lúa giảm rõ rệt.
Để khắc phục tình trạng phơi, trữ trên, ở ĐBSCL cần đầu tư nâng cao năng
lực sấy và tồn trữ cho các đơn vị quốc doanh, bảo đảm tăng khả năng thu mua lúa
là các nước đang phát triển, nhập trên 50% sản lượng gạo giao dịch trên thị trường
thế giới , các nước phát triển nhập 2,6 triệu tấn (1995). Dựa vào đặc điểm địa lý,
văn hoá kinh tế thị trường gạo thế giới có thể chia tương đối thành những khu vực
sau: Bắc Mỹ (North America), Nam Mỹ (South Amer- ica), Châu Âu (Europe),
Cộng đồng các quốc gia độc lập và Đông âu (CIS và Eastem Europe), Trung Đông
(Middle East), Nam á, á Châu (Asia), Bắc phi (North Africa), Phi Châu đen (Other
Africa) và Châu Đại Dương (Oceancia).
Bắc Mỹ (North America): Gạo không chỉ là thực phẩm chủ yếu (Staple food)
cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Gạo được tiêu dùng ở cộng đồng Châu á tại Bắc Mỹ, nhưng chủng loại rất đa dạng: gạo hạt dài, tròn, trong… hạt lức, gạo
trắng, gạo đồ, gạo Pastima, gạo thơm…
Khu vực Bắc Mỹ sản xuất khoảng 8,0- 10 triệu tấn lúa (chủ yếu là Hoa Kỳ),
xuất khẩu khoảng 3,1-4,3 triệu tấn, nhập khẩu khoảng 0,7-0,9 triệu tấn, chiếm
3,0%-4,4% thị trường thế giới. Đây là thị trường có sức mua cao (purchasing
power), đòi hỏi chất lượng cao. Gạo bán lẻ được đóng gói bao nhỏ (1kg, 2kg, 5kg
và 25kg), mẫu mã đẹp. Quy chế kiểm dịch thực vật khắt khe, gạo Việt Nam vẫn có
thể vào được thị trường này.
Bắc Mỹ còn là thị trường nhập khẩu tái suất thông qua các chương trình viện
trợ thực phẩm cho các nước khác.
Mức tiêu thụ gạo tính theo đầu người (rice per capita) vào khoảng 6,54kg
(năm 1994). Khu vực này có hiệp định mậu dịch chung là NAFTA.
Châu Mỹ la tinh (Latin America): Được hình thành bởi các đảo lớn vùng
biển Caribe và những lãnh thổ thuộc Anh, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam.
Châu Mỹ mang đậm nét văn hoá Latin Châu Âu. Các nước vùng núi thì nghèo
hơn, đa số là dân da đỏ và người lai. Khu vực này sản xuất được 20,9- 22,00 triệu
tấn lúa, xuất khẩu 1,2-1,5 triệu tấn, nhập khẩu khoảng 2,3-3,1 triệu tấn gạo chiếm
khoảng 11-13% thị trường gạo thế giới. Gạo được xem là một trong những lương
thực chính của các nước như Brãil, Peru, Cuba, Mexico…
kinh doanh thì phải đổi hàng hoặc qua tài trợ. Khu vực này sản xuất được 10,5-
11,0 triệu tấn gạo/năm, nhập khẩu 3,2- 4,2 triệu tấn/ năm chiếm khoảng 15 – 20 %
thị trường thế giới. Gạo phẩm cấp thấp (30 – 35% tấm) được ưa chuộng vì giá rẻ,
số lượng mua được nhiều. Đây cũng là thị trường có nhiều rủi ro vào loại bậc nhất
trên thế giới. Mức tiêu thụ tính trên đầu người (rice per capi ta): 14,44kg (năm
1994).
á Châu (Asia): Đặc điểm nổi bật là nông dân (theo uỷ ban kế hoạch hoá và
Dân số Thế giới dự kiến vào năm 2000 sẽ có khoảng 1,2 tỷ người Trung Hoa, 1 tỷ
người ấn Độ, 220 triệu người indonesia, 150 triệu người Banglades) là một thị
trường lý tưởng cho gạo, vì gạo là loại thực phẩm chính của dân á châu. Sự năng
động của một quốc gia là một nhân tố quan trọng cho tương lai của lục địa này,
sức mạnh công nghiệp tài chính của nhật bản, sự tăng trưởng kinh tế cao của Hàn
Quốc, Đài Loan, Hồng kông, Sìngapore…
Châu á là khu vực sản xuất và tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, tập trung những
nước xuất khẩu gạo lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam , Pakistan, ấn Độ, Bangladesh. Mọi sự tăng hay giảm khối lượng xuất khẩu của các nước này đều có
ảnh hưởng quyết định đến giá cả thế giới. Về thị trường có sức mua khác nhau:
Phẩm chất cao 100% Grade B hoặc 5% tấm ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia:
Phẩm cấp thấp 25%-35% tấm như Philippine và indonesia. Các nước Châu á rất
coi trọng mặt hàng gạo vì mọi sự thâm hụt đều có thể gây ra đột biến cho quốc gia,
gây bất ổn định về chính trị, xã hội nên việc mua bán, xuất nhập khẩu gạo thường
được Chính Phủ quản lý thông qua một công ty kinh doanh của Nhà nước. Thị
trường khó điều tiết, dự đoán vì nó gần như không phải là thị trường tự do, Chính
phủ can thiệp thường xuyên, đôi khi giá cả biến động mạnh khi một quốc gia tiêu
thụ bị mất mùa, tham gia vào thị trường thế giới với một nhu cầu quá lớn trong
một thời gian ngắn, gây nên sự xáo trộn cung- cầu. Hàng năm, toàn Châu á (trừ
Trung Đông) sản xuất được 336,4 – 350 triệu tấn gạo, xuất khẩu được trên
15,5triệu tấn gạo, nhập khẩu từ 4,6 triệu tấn (1997)- 13,3 triệu tấn (1998), chiếm
và các quần đảo Melanésie, Menonése, Polynésie hầu hết thuộc Anh, Pháp, Hoa
Kỳ. Các quần đảo thuộc Anh đều độc lập, đây là thị trường gạo nhỏ bé. Gạo không
phải là thực phẩm chủ yếu nhưng lại là phần phụ gia đáng kể cho công nghiệp thức
ăn. Hàng năm, khu vực này sản xuất được trên 1,0 – 1,38 triệu tấn ( chủ yếu là úc),
xuất khẩu được 0,6 triệu tấn gạo, lượng nhập khẩu 0,19 – 0,2 triệu tấn gạo/
năm.Mức tiêu thụ đầu người rất nhỏ.
Trước đây úc Châu tụ coi mình thuộc châu Âu nhưng gần đây nó đang tìm
cách đạt những thoả thuận ngoại giao và kinh tế vơí các nước Châu á và trong
vùng Thái Bình Dương.
2.2. Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
Hoa Kỳ: Lượng gạo xuất khẩu chiếm khoảng 11,5% - 13,3% tổng lượng mua
bán quốc tế, đứng hàng thứ ba thế giới cho đến năm 1995 trở lại đây. Hoa kỳ trồng
lúa không phải để ăn mà để bán (cash crop), nên sản lượng tăng giảm thất thừơng
do chi phí sản xuất bên tăng cao nếu giá cả thế giới không bù đắp nổi chi phí, nông
dân sẽ chuyển sang trồng các loại hoa mầu khác có giá trị kinh tế cao hơn. Thị
trường truyền thống EU, Nam Mỹ, Caribe, ả Rập, Trung Đông, thị trường mới
năm 1993 là Nhật Bản (nhập do thâm hụt và theo UR quy định sẽ mở cửa thị
trường bắt đầu từ năm 1996) loại gạo chủ lực là 2,4%. Các loại gạo phẩm chất cao
và thấp của Hoa Kỳ luôn gặp các đối thủ cạnh tranh mạnh từ Châu Âu do giá
thành của Hoa Kỳ luôn luôn cao (farm price) ở mức là 8,25 – 8, 45 USD/CWT (1CWT= 50,8kg) đối với phẩm chất cao. Thông thường mức giá chênh lệch giữa
gạo Mỹ và Thái Lan khoảng 92 USD/ tấn riêng gạo Mỹ cạnh tranh tốt ở mức
chênh lệch 15 – 30 USD/T.
Để tăng cường tình cạnh tranh do các loại gạo phẩm chất thấp, Mỹ dùng các
chương trình hỗ trợ xuất khẩu EEP (Export Enhancement Phogram) chương trình
GMS (Commodity Credit Corporations Genral Sales Manager) cung cấp tín dụng
và cùng với chương trình bán nhượng (Concessional Sales, PL 480 and Food Aid).
Thái Lan: Tổng sản lượng xuất khẩu của Thái Lan chiếm khoảng 24,4 – 28%