Vận dụng phương pháp dãy số thời gian để phân tích chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp giai đoạn 1997-2001 và dự báo 2002 của các Tổng Cty thuộc Bộ Xây dựng - Pdf 12

Lời nói đầu
Năm 1975, đất nớc ta kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vĩ đại.
Bớc vào công cuộc xây dựng đất nớc sau 30 năm chiến tranh với những biến đổi
kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam hoạt động với phơng thức cũ, tập chung
quan liêu bao cấp gặp những bất cập nhất định không hiệu quả. Nhận thức đợc
điều đó, Đại hội Đảng cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (Năm 1986 ) với nghị quyết
đã đợc thông qua, đã đặt nền móng cho sự nghiệp đổi mới của hoạt động nền kinh
tế nớc nhà: chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng bình đẳng tham gia sản xuất, tạo ra nhiều
chủng loại hàng hoá vật chất và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao trong
tiêu dùng đời sống toàn xã hội, cho đầu t tích luỹ và phục vụ cho xuất khẩu.
Giá trị sản xuất là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt
động của các thành phần kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời
kỳ nhất định ( thờng là một năm). Đó là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản
xuất của mõi một thành phần kinh tế không chỉ biểu hiện hiệu quả của tái sản xuất
theo chiều sâu mà cả hiệu quả của tái sản xuất theo chiều rộng, và là một trong
nhừng chỉ tiêu quan trọng với nội dung của nó làm căn cứ để tính các chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp khác. Mặt khác để đề ra các chính sách và chiến lợc phát triển một
ngành nghề nào đó trong tơng lai đòi hỏi cần tìm sự biến động của hiện tợng xem
hiện tợng đó biến động theo xu hớng nào từ đó có có quyết định đúng đắn cho
ngành nghề đó.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này trong thời gian thc tập ở vụ
Kế hoạch- Thống kê của Bộ xây dựng, đợc sự giúp đỡ của các bác, các cô, và các
anh chị trong vụ tôi mạnh dạn chọn vấn đề: Vận dụng phơng pháp dãy số thời
gian để phân tích chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp giai đoạn 1997-2001 và dự
báo 2002 của các Tổng công ty thuộc Bộ Xây dựng làm chuyên đề thực tập tốt
nghiệp của mình.
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, chuyên đề bao gồm 3 chơng:
Chơng I. Phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp.
Chơng II. Đặc điểm vận dụng phơng pháp dãy số thời gian để phân
tích và dự báo.

phẩm tiêu dùng), giá trị sản phẩm dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất và phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho đời sống dân c xã hội.
Tổng giá trị sản xuất chỉ bao gồm giá trị sản xuất các hoạt động xã hội đợc
pháp luật của quốc gia đó thừa nhận là là hữu ích và cho phép hoạt động. Nh vậy
giá trị sản phẩm là hàng giả hoặc không nằm trong danh mục sản phẩm sản xuất
theo quy định và pháp luật của nhà nớc sẽ không nằm trong tổng giá trị của sản
xuất.
Vậy giá trị sản xuất đợc tính theo nguyên tắc nào ?.
2. Nguyên tắc và công thức tính giá trị sản xuất.
a. Nguyên tắc tính giá trị sản xuất.
3
Việc tính giá trị sản xuất phải tuân theo những nguyên tắc sau.
+Tính theo lãnh thổ kinh tế ( nguyên tắc thờng trú) Nguyên tắc này xác
định đối tợng phạm vi tính toán đợc tính cái gì và không đợc tính cái gì.
+Tính theo sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ.
+Tính theo giá thị trờng (giá sản xuất và giá bán).
+Thời điểm tính tổng giá trị sản xuất.
Là thời điểm tự sản xuất: Tức là kết quả của sản xuất của thời kỳ nào phải
tính vào giá trị sản xuất của thời kỳ đó. Theo nguyên tắc này chỉ tính vào gía trị
sản xuất chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ nửa thành phẩm và thành phẩm dở dang, tức
là phải loại trừ tồn kho đầu kỳ hai loại kể trên vì nó là kết quả sản xuất của kỳ tr-
ớc.
Tính toàn bộ giá trị sản phẩm.
Theo nguyên tắc này, cần tính vào giá trị sản xuất cả nguyên vật liệu của
khách hàng.
Tính toàn bộ kết quả sản xuất.
Theo nguyên tắc này cần tính vào giá trị sản xuất không chỉ thành phẩm mà
cả nửa thành phẩm và sản phẩm dở dang.
b. Phơng pháp tính tổng giá trị sản xuất.
Trong nền kinh tế quốc dân tổng giá trị sản xuất đợc tính theo một số phơng

tế quốc dân bởi nó bị tính trùng rất lớn diễn ra ngay trong cùng một ngành và tính
trùng giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân.
Ví dụ: Giả sử nền kinh tế quốc dân của một địa phơng có 3 ngành kinh tế
lớn:
Ngành 1: Công nghiệp chế biến.
Ngành 2: Ngành nông nghiệp.
Ngành 3: Ngành xây dựng.
Ngành 1 bao gồm các xí nghiệp luyện kim, xí nghiệp chế tạo máy, xí
nghiệp sản xuất vật liệu sây dựng.
Ngành 2 bao gồm xí nghiệp chuyên trồng trọt, xí nghiệp chuyên chăn nuôi
và các trạm máy kéo.
Ngành 3 bao gồm chuyên xây lắp , và sản xuất vật liệu xây dựng.
Nh vậy khi tính giá trị sản xuất của xí nghiệp chuyên chăn nuôi ta đã
chuyển một ít giá trị sản xuất của xí nghiệp chuyên trồng trọt sang. Tức là trong
trờng hợp này một phần giá trị sản xuất vẫn đợc tính hai lần.
Chú ý: Chỉ tiêu giá trị sản xuất tính ra lớn hay nhỏ nó còn phụ thuộc vào
trình độ tổ chức và trình độ chuyên môn hoá của doanh nghiệp. Để khắc phục nh-
ợc điểm này ta thờng sử dụng phơng pháp tính theo ngành và tính nền kinh tế quốc
dân.
5
Ph ơng pháp2. Phơng pháp ngành.
Chỉ tiêu giá trị sản xuất tính theo phơng pháp ngành tức là lấy ngành làm
đơn vị tính nên phạm vi mở rộng hơn phơng pháp xí nghiệp. Thực chất của phơng
pháp này chính là cộng tất cả các giá trị sản xuất của tất cả các ngành trong nền
kinh tế quốc dân.
trungnoiboXN
J
nganhJnganh
GOGOGOGO
==

XN SXVLXD
.
Trong ngành XD: GO
XD
bao gồm hoạt động chuyên xây lắp. Trong hoạt
động xây dựng đã sử dụng sản phẩm của xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
(gạch, xi măng...) nhng vẫn tính cả vào giá trị ngành xây dựng. Vậy là có phần
tính trùng giữa hai ngành.
Vậy để đạt kết quả gía trị sản xuất một cách chính xác hơn và không bị tính
trùng nữa ngời ta sử dụng phơng pháp KTQD.
Ph ơng pháp3 . Phơng pháp kinh tế quốc dân.
6
Phơng pháp này ta xem nền kinh tế quốc dân làm đơn vị chính. Thực chất
của phơng pháp này phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của nền KTQD.
GO
KTQD
=GO
nganh
-GO
trùng nội bộ ngành
=GO
XN
-(GO
trùng nội bộ XN
+GO
trùng nội bộ ngành
)
GO
KTQD
: giá trị sản xuất nền KTQD tính theo phơng pháp KTQD.

ơng tiện thiết bị xe máy thi công có ngời đi theo điều khiển. Giá trị sản xuất xây
lắp là bộ phận chính của giá trị sản xuất ngành xây dựng bao gồm:
Giá trị công tác xây dựng.
7
Giá trị công tác lắp đặt thiết bị máy móc.
Giá trị công tác sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc.
1.Nguyên tắc tính chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp.
_ Chỉ tính những kết quả trực tiếp có ích của sản xuất tạo ra trong quá trình
thực hiện hợp đồng nhận thầu (kể cả khối lợng phá đi làm lại do bên A gây ra),
không tính vào giá trị sản xuất xây lắp những khối lợng phải pha đi do không đảm
bảo chất lợng theo yêu cầu của thiết kế do đơn vị thi công gây ra.
Kết quả lao động có ích của đơn vị xây lắp bao gồm những công trình, hạng
mục công trình, bộ phận công trình hoăc công viêc xây lắp hoàn thành theo đúng
tiêu chuẩn kỹ thuật đuợc ghi trong bản thiết kế và đã đợc đơn vị giao thầu (bên A)
xác nhận.
Không đợc tính vào giá trị sản xuất xây lắp những giả trị phế liệu, phế phẩm
nh gỗ, tre, sắt vụn, gạch vụn do quá trình thi công sinh ra.
Nhng nếu những phế phẩm, phế thải đó bán ra thu hồi đợc tiền thì đơn vị
xây lắp đó vẫn đợc tính là giá trị sản xuất của mình trong kỳ, và đó là giá trị sản
xuất của ngành xây dựng, không coi là giá trị sản xuất của ngành xây lắp.
Đối với cấu kiện mua ngoài hoặc nguyên liệu do bên đi thuê lo liệu mang
đến thì chỉ đợc tính vào giá trị sản xuất khi những nguyên vật liệu cấu kiện đó đợc
sử dụng và kết cấu nên thực thể công trình, không tính số nguyên vật liệu cấu kiện
cha đa vào công trình. Riêng những đơn vị làm nhiệm vụ lắp đặt máy móc, thì
những giá trị thiết bị máy móc đó không đợc tính là giá trị sản xuất của xây lắp,
cũng không đơc coi là giá trị sản xuất của ngành xây dựng. Những thiết bị máy
móc này đợc nói rõ trong hợp đồng và thiết kế.
_ Chỉ tính kết quả thi công xây lắp theo thiết kế của hợp đồng nhận thầu
phù hợp với dự toán đã đợc duyệt. Trờng hợp thay đổi thiết kế phải có hợp đồng bổ
sung. Những khối lợng thi công vợt thiết kế phải có sự thoả thuận của bên A. Quản

chung trong thông t lập toán công trình XDCB.
Trong dự toán xây lắp kể từ ngày 1-7-1990 không đợc phép tính chi phí vay
lãi ngân hàng- việc bảo đảm vốn xây lắp để thanh toán kịp thời do A- B thoả thuận
và ghi vào trong hợp đồng kinh tế.
Trờng hợp đơn vị xây lắp chỉ nhận thầu thi công còn nguyên vật liệu do bên
A (đi thuê) lo liệu mang đến hoặc mua của ngoài thì giá trị sản xuất cũng tính cả
9
giá trị nguyên vật liệu nói trên. Nói cách khác giá trị sản xuất xay lắp (bộ phận
chính của giá trị sản xuất) là giá trị dự toán lần cuối của công trình xây lắp đã
hoàn thành, không kể giá trị bản thân thiết bị máy móc cần lắp đặt.
_ Ngoài những thu nhập của công việc của xây lắp thực hiện, giá trị sản
xuất ngành xây dựng còn đợc tính thêm các khoản sau:
Khoản thu chênh lệch với bên A, do đơn vị làm nhiệm vụ tổng thầu xây
dựng, chia thầu với các đơn vị khác.
Khoản thu do có phơng tiện xe, máy thi công cho bên ngoài thuê có ngời
điều khiển đi theo.
Khoản thu do bán những phụ liệu, phế liệu, sản phẩm hỏng, phế thải trong
sản xuất xây dựng tạo ra. Nhng chỉ tính đén khi đơn vị bán ra thu đợc tiền, không
tính số tập trung trong kho bãi cha bán ra.
2. Các công thức tính.
GO
XL
=GO
công tác XD
+GO
công tác lắp đặt MMTB
+GO
SCNCVKT
a. Tính giá trị sản xuất cho công việc xây dựng mới.
Xây dựng mới là quá trình biến đổi các đối tợng lao động của ngành xây

dọn dẹp, trồng cây sau khi xây dựng xong.
Tuy nhiên khi vận dụng cần chú ý đối với khối lợng xây dựng dở dang. Cần
phân biệt các trờng hợp sau:
Đối với những khối lợng xây dựng dở dang đã thi công đến phần việc cuối
cùng của đơn giá dự toán nh đổ xong 1m
2
bê tông, trát xong 1m
2
tờng... thì ta lấy
khối lợng nhân với giá dự toán, tiếp đó tính thêm phần chi phí chung và lợi nhuận
định mức.
Đối với những khối lợng cha thi công đến phần việc cuối cùng của đơn giá
dự toán thì lấy khối lợng hiện vật nhân với đơn giá phân đoạn (nh đơn giá buộc
1kg cốt thép, ghép 1m
2
cốt pha...). Nếu không có đơn giá phân đoạn thì lấy khối l-
ợng dở dang nhân với %lao động hao phí của từng giai đoạn chiếm trong tổng số
ngày công lao động hao phí cho toàn bộ các giai đoạn của khối lợng đó (tính theo
ngày công hao phí định mức) để quy đổi thành khối lợng xây dựng xong, rồi tính
theo công thức chung.
11
Đối với những công trình, hạng mục công trình do bên A cấp một phần hay
toàn bộ nguyên vật liệu đơn vị xây lắp vẫn tính đợc toàn bộ giá trị sản phẩm vào
giá trị sản xuất xây lắp nghĩa là vẫn tính đợc giá trị bản thân vật liệu do bên A cấp
(không nên nhầm lẫn giữa báo cáo GTSXXL của bên B với báo cáo thanh quyết
toán giữa A và B).
b.Phơng pháp tính giá trị sản xuất công tác lắp đặt thiết bị máy móc.
Công tác lắp đặt thiết bị máy là quá trình lắp đặt các thiết bị máy móc (có
tính chất lâu dài hay tạm thời, có ghi trong thiết kế dự toán xây lắp) lên trên nền
hoặc bệ máy cố định để máy và thiết bị có thể hoạt động đợc: Nh lắp đặt các thiết


=q
dt
.t
1
(II)
Trong đó:
q
dt
: là số tấn máy lắp xong từng động tác.
t
1
=t/T*100: Là tỷ trọng ngày công lắp máy xong từng động tác của 1 tấn
máy chiếm trong tổng số ngày công lắp xong (t là định mức ngày công lắp xong
từng động tác của một tấn máy, T là định mức ngày công lắp xong toàn bộ 1 tấn
máy).
Q

: là khối lợng khối máy lắp quy đổi đã lắp xong.
Ví dụ: Có tài liệu của xí nghiệp lắp máy I nh sau:
Qđầut (tấn) T(ngày/công) T(ngày/công) t
1
(%)
A 1 2 3 4
- Loại máy A.
+ Lắp xong động tác 2 100 1 11 9,1
+ Lắp xong động tác 3 55 3 3 11
- Loại máy B.
+ Lắp xong động tác 4 90 1.5 1,5 7,1
+ Lắp xong động tác 5 40 3.5 3,5 16,6

1d
: Tỷ lệ % hoàn thành trong từng động tác.
Cùng tài liệu của xí nghiệp xây lắp máy I ta có :
Loại máy A: lắp 50% động tác 3 đợc 20 tấn.
Loại máy B: lắp 60% động tác 5 đợc 30 tấn.
áp dụng công thức (III) tính quy đổi ra tấn máy quy ớc nh sau:
q
d đt
t
1
(%) t
d
(%) Q

(tấn)
A 1 2 3 4
- Loại máy A
+ Dở dang động tác 3
- Loại máy B
+ Dở dang động tác 3
20
30
27,2
16,6
50
60
2,22
3,01
Định mức công lắp xong toàn bộ 1 tấn máy và lắp xong từng động tác cho
một tấn máy phải căn cứ vào trọng lợng của máy, độ cao , độ sâu, vị trí treo leo nơi

3. Các nhân tố ảnh hởng đến việc tính toán các chỉ tiêu xây lắp.
Trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng tính các chỉ tiêu GO chính
xác và đầy đủ chỉ có các đơn vị áp dụng chế độ báo cáo thống kê định kỳ tính các
chỉ tiêu này theo các phơng pháp đã nêu mới thu đợc kết quả chính xác và sát
thực.
Việc tính toán chỉ tiêu GO là chính xác hay không là do ảnh hởng của nhân
tố chủ quan và khách quan mang lại nh:
15
_ Do đặc điểm phức tạp của Xây dựng, do trình độ công nghệ và tổ chức
xây dựng còn thấp, trong đó có cả khó khăn về vốn và trình độ con ngời. Vì vậy số
liệu báo cáo thiếu chính xác, cha có hệ thống thanh tra kiểm soát hữu hiệu, trong
cùng một doanh nghiệp. Trong cùng một thời kỳ tính toán tuỳ theo mực tiêu của
doanh nghiệp có nhiều báo cáo với nội dung khác nhau dẫn dến tình trạng lái giả,
lỗ thật là tơng đối phổ biến ở các doanh nhgiệp công nghiệp xây dựng.
_ Do tác động của đấu thầu cạnh tranh làm cho giá cả luôn luôn biến động
do đó việc định ra nhũng tỷ lệ, định mức cụ thể, chính xác cho từng yếu tố trong
chi phí gía thành là không cố định, không theo định mức đa ra của nhà nớc. Chẳng
hạn nh chi phí khấu hao tài sản cố định do giá đấu thầu thấp nên phải kéo dài thời
hạn khấu hao trong khi các nguồn vốn vay tín dụng, đàu t thờng là trung hạn(từ
3-5 năm). Điều này cũng ảnh hởng không nhỏ đến công tác hạch toán.
Tình trạng chậm thanh toán vốn thi công xây dựng công trình dẫn đến các
chi phí vay lãi ngân hàng lớn. Mặt khác chi phí tiêu cực trong hoạt động xây dựng
cơ bản chiếm một tỷ trọng tơng đối lớn làm cho việc phân bố chi phí và đánh giá
các chỉ tiêu bị sai lệch, không còn mang ý nghĩa thực chất chính xác của chi phí
giá thành.
Yếu tố thờng sai lệch nhiều nhất là tình trạng đấu thầu doanh thu báo cáo
của các doanh nghiệp và sự quản lý thiếu chặt chẽ chi phí dở dang.
16
Chơng II.
Đặc điểm vận dụng dãy số thời gian để phân tích và

2. Đặc điểm cơ bản của sản phẩm xây lắp.
_ Đặc điểm của sản xuất xây dựng.
Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lu động cao theo lãnh thổ
kinh tế: vì trong xây dựng, khác với nhiều ngành khác, con ngời và công
cụ luôn phải di chuyển từ công trờng này đến công trờng khác, còn sản
phẩm xây dựng (tức là các công trình xây dựng ) đứng yên tại chỗ. Đăc
điểm này kéo theo một loạt các động tác ví dụ nh:
Các phơng án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn biến đổi phù hợp
với thời gian và đị điểm xây dựng, do đó làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất,
cho việc cải thiện điều kiện lao động và làm nảy sinh cho nhiều chi phí cho khâu
di chuyển lực lợng sản xuất cũng nh các công trình tạm phục vụ thi công xây
dựng.
Tính lu thông của sản xuất đòi hỏi phải chú ý tăng cờng tính cơ động, linh
hoạt và gọn nhẹ các phơng án tổ chức xây dựng, tăng cờng điều hành tác nghiệp
lụa chọn vùng hoạt động hợp lý, lợi dụng tối đa các lực lợng và tiềm năng sản xuất
tại chỗ, chú ý đến độ xa di chuyển lực lợng sản xuất đến công trờng khi lập phơng
án tranh thầu.
Đòi hỏi phát triển rộng khắp và đIều hoà trên lãnh thổ các loại hình dịch vụ
dịch vụ sản xuất về cung cấp vật t và thiết bị cho xây dựng, về cho thuê máy móc
xây dựng...
Vì sản phẩm xây dựng có tính đa dạng cá biệt cao, có chi phí lớn nên sản
xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng của chủ đầu t thông qua đấu thầu
hoặc chỉ định thầu cho từng công trình một. Đặc đIểm này gây nên một số tác
động đến quá trình sản xuất Xây Dựng nh:
Trong xây dựng nói chung hình thức sản xuất sẵn hàng loạt sản phẩm để
bán không đợc phát triển, trừ một số trờng hợp có thể xây dựng sẵn căn nhà để bán
hoặc cho thuê.
18
Sản xuất xây dựng của các tổ chức xây dựng có tính bị động và rủi ro cao vì
nó phụ thuộc vào kết qủa đấu thầu.

gian ngừng việc do thời tiết, cố gắng bảo đảm sử dụng năng lực sản xuất điều hoà
theo bốn quý, áp dụng các loại kết cấu lắp ghép chế tạo sẵn một cách hợp lý để
giảm thời gian thi công ở hiện trờng, nâng cao trình độ cơ giới hoá xây dựng.
Phải chú ý cải thiện điều kiện lao động cho ngời làm công xây dựng.
Phải đảm bảo độ bền chắc và độ tin cậy của của các thiết bị máy móc xây
dựng.
Phải chú ý đến nhân tố rủi ro do thời tiết gây ra.
Phải quan tâm phát triển phơng pháp xây dựng trong điều kiện khí hậu nhiệt
đới. .
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hởng của lợi nhuận chênh lệch do địa đIểm xây
dựng đem lại. Cùng một loại công trình xây dựng nhng nếu đợc tiến hành xây
dựng ở những nơI có sẵn nguồn vật liẹu xây dựng nhân công và các cơ sở cho
thuê máy xây dựng thì thì nhà thầu xây dựng trong trờng hợp này có nhiều cơ hội
thu đợc lợi nhuận cao hơn so với các địa điểm xây dựng khác.
Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giải
quyết vấn đề chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhập lòng đất.
Việc áp dụng chế độ tự động hoá quá trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ thủ công
chiếm cao.
- Đặc điểm của sản phẩm xây lắp.
Sảm phẩm xây lắp mang tính cố định.
Có tính cá biệt đơn chiếc cao (do ý chủ quan của đầu t phụ thuộc vào địa
hình, địa vật)
Thể tích và thời gian sử dụng dài.
Giá trị hao mòn tài sản cố định ít thờng tính bằng chi phí sửa chữa lớn
3. Những điều kiện đợc coi là sản phẩm xây lắp.
Là thành quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp
hay do lao động trong đơn vị xây lắp sáng tạo ra.
20
Phải là chính thành quả của hoạt động xây lắp không tính các thành quả
không phải sản xuất xây lắp nh trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ căng tin, nhà trẻ, vận

sử dụng lao động một cách hợp lý nhất nhằm tăng năng suất lao động từng nơi làm
việc và toàn bộ công trờng.
Tổ chức quá trình lao động trong thi công xây dựng công trình bao gồm các
nội dung chủ yếu sau:
Bố trí nơi làm việc: Nơi làm việc của công nhân xây dựng là vị trí có
không gian cần thiết để họ thực hiện các thao tác xây dựng hoặc lắp đặt
các chi tiết công trình. Tuy nhiên loại công việc mà mỗi nơi làm việc có
các khoảng không gian khác nhau.
Nếu là lao động thủ công thì không gian nơi làm việc bao gồm chỗ đặt công
cụ sản xuất, chỗ đặt đối tợng lao động và sản phẩm, ở đó phải tạo đợc điều kiện
cho các thao tác và hoạt động của công nhân thuận tiện nhất, để họ có thể tăng đợc
năng suất lao động.
Nếu là lao động cơ giới thì nơi làm việc phải đáp ứng đợc khoảng không
gian hoạt động của máy móc, ở đó đủ để bố trí máy móc thiết bị, vật liệu và không
gian thao tác, có thể có cả lối đi lại của máy. Không gian ở đó phải bảo đảm tầm
nhìn bao quát cho công nhân vận hành máy, bảo đảm nâng cao năng suất lao động
và an toàn khi làm việc.
Nh vậy việc bố trí nơi làm việc hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất công việc,
phụ thuộc vào phơng pháp tổ chức thủ công cho từng phần việc. Muốn việc bố trí
nơi làm việc có khoa học không thể không nghiên cứu đến thời gian làm việc của
công nhân trong mỗi dự án.
Tổ chức tổ đội sản xuất trong thi công.
Thông thờng việc tổ chức tổ đội sản xuất trong thi công có hai dạng, đó là
đội chuyên nghiệp và đội hỗn hợp. Đội chuyên nghiệp là đội sản xuất mà trong đó
chỉ một hoặc hai loại thợ cùng tiến hành một hoặc hai nghề khác nhau. Đội, tổ sản
xuất hỗn hợp là đội, tổ mà ở đó có nhiều công nhân có thể tiến hành đợc nhiều
nghề khác nhau, cùng nhau tham gia xây dựng và hoàn thành một phần việc lớn
hay một trong hạng mục của công trình.
22
Căn cứ cơ bản để lựa chọn một trong hai hình thức tổ chức tổ, đội sản xuất

23
b. Tổ chức thực hiện quá trình thi công chính.
Tổ chức quá trình thi công chính là quá trình tổ chức xây lắp những phần
việc chính, những hạng mục chính của công trình trên cơ sở sử dụng những kiến
thức tổ chức sản xuất hiện đại để bố trí trình tự triển khai công việc, sử dụng hợp
lý các nguồn lực đầu vào, đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp đợc tiến hành
liên tục, nâng cao năng suất lao động ở tất cả các khâu nhằm rút ngắn thời gian thi
công, đa nhanh công trình vào sử dụng.
Thực hiện mục tiêu tổ chức quá trình thi công chính hợp lý nhất, sử dụng
yếu tố các nguồn lực đầu vào đẩy nhanh quá trình thi công xây lắp. Đòi hỏi phải
nghiên cứu tất cả ban đầu có liên quan đến quá trình tổ chức thi công công trình.
những tài liệu thông tin cần đợc nghiên cứu đó là bản đồ và tình hình cấu tạo địa
chất, thuỷ văn nơi xây dựng công trình, bản vẽ và thuyết minh trình tự lắp đặt thiét
bị trong công trình trong từng giai đoạn thi công yêu cầu về tiến độ thi công, yêu
cầu về chất lợng công trình thông qua các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy phạm kỹ
thuật và định mức hiện hành.
Phân tích đặc điểm cấu tạo công trình để có giải pháp tổ chức cụ thể cho
từng giai đoạn thi công. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm cấu tạo công trình và
trình tự thi công mà tiến hành phân chia quá trình thi công các giai đoạn thi công
cụ thể, thành các đợt cụ thể, tận dụng tối đa khả năng các yếu tố đầu vào, chủ yếu
là vật t và thiết bị thi công bảo đảm cho quá trình thicông liên tục làm tăng năng
suất lao động, rút ngắn thời gian xây lắp công trình.
Lựa chọn phơng án tổ chức thi công: thực chất của việc lựa chọn phơng án
thi công là lựa chọn các giải pháp kỹ thuật để tổ chức xây lắp đạt hiệu quả tốt nhất
về mặt thời gian, về chất lợng công trình và chi phí thi công phải thấp nhất. Vì vậy
phải xây dựng đợc nhiều phơng án tổ chức thi công khác nhau cho cùng một phần
việc hay một giai đoạn thi công. Trên cơ sở đó mà lựa chọn lấy phơng án tối u về
mặt kỹ thuật, về mặt tổ chức sử dụng những yếu tố nguồn lực đầu vào và về chi
phí thi công phải thấp nhất.
Có nhiều yếu tố đầu vào tác động đến quá trình thi công xây lắp công trình,

thiết bị.
Tổ chức hệ thống nhà tạm trên công trờng.
25

Trích đoạn Ngoại suy theo bảng Buys-Ballot Phân tích giá trị sản xuất xây lắp giai đoạn 1997-2001
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status