class="bi x0 y0 w1 h1"
iii
Lời cảm ơn
Các Báo cáo Tổng hợp này do nhóm nhân viên của Cơ quan Đại diện Thường
trú Ngân hàng Phát triển Châu Á chuẩn bị, bao gồm Ramesh Adhikari (trưởng
nhóm), Nguyễn Mỹ Bình, Nguyễn Phương Ngọc, Dương Thị Tuyết Lan, Tom
Greenwood (chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm việc tổng hợp báo cáo), và
Julian Carey (chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm hiệu đính báo cáo).
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan và cá nhân thực hiện các Đánh
giá nghèo có sự tham gia của Cộng đồng. Các đánh giá này là cơ sở để
chúng
tôi chuẩn bị các báo cáo tổng hợp này. Đó là các nhà tài trợ đã hỗ trợ kinh phí và
nhân lực; các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam và quốc tế và các viện nghiên
cứu đã tiến hành khảo sát thực địa và tham gia chuẩn bị các Đánh giá nghèo
theo vùng; Bộ Nội vụ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hợp tác và hỗ trợ trong suốt
các cuộc khảo sát; và các cơ quan chính quyền địa phương của các tỉ
nh, huyện,
xã và thôn bản đã giúp đỡ các cuộc khảo sát ở địa phương của họ, và cán bộ và
người dân ở 43 xã được khảo sát trong 12 tỉnh thành đã cung cấp những thông
tin quý báu.
iv
v
Giới thiệu
Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược Toàn diện về
Tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện
CPRGS ở cấp địa phương. Thông qua các chiến dịch thông tin và hàng loạt các
hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của
các chính quyền địa phương về các phương pháp sao cho các quy trình lập kế
hoạch của địa phương có thể đượ
c thực hiện theo định hướng vì người nghèo
hơn, có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú
trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực
và được giám sát tốt hơn.
Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh
giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở
12 tỉnh của Việt Nam. Những
đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không
mô tả được hết. Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử
dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp
thông tin cho Ban th
ư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh
giá nghèo cũng được thiết kế để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về
nghèo đói ở các vùng (RPA) và trên toàn quốc và các nghiên cứu này cũng đã
được công bố riêng. Các PPA sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng
năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các
cấp chính quyền địa phương.
Tám nhà tài trợ (ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng
Thế giới) đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các Đánh
trong từng lĩnh vực.
Mong rằng những báo cáo tổng hợp này sẽ cung cấp những cơ sở khái niệm và
phân tích xúc tích nhưng chuyên sâu để hỗ trợ cho những nỗ lực của chính phủ
trong việc chuẩn bị kế hoạch phát triển sắp tới của các tỉnh theo quy trình lậ
p kế
hoạch vì người nghèo ở tất cả các cấp của chính phủ và tăng cường hơn nữa
dân chủ cơ sở; trong việc xây dựng năng lực để cải thiện việc cung cấp dịch vụ
công ở các cấp địa phương; và trong việc bảo vệ môi trường cũng như quyền lợi
của người nghèo.
viii
Introduction In May 2002, the Government of Vietnam finalized its Comprehensive Poverty
Reduction and Growth Strategy (CPRGS) and embarked on a process to make
the CPRGS a reality at local levels of Government. Through information
campaigns and a series of regional workshops, officials from key national
ministries have been explaining to representatives from local authorities how
local level planning processes could be made more pro-poor, more participatory
and evidence-based, more outcome-focused, better aligned to resource
allocation decisions and better monitored.
During 2003, the Poverty Task Force supported Participatory Poverty
Assessments (PPAs) in twelve provinces in Vietnam. These PPAs used a
common research framework and methodology to investigate issues around
poverty that were not well captured by the available quantitative date. The
intention was to produce research which could be used, together with data from
the Vietnam Household Living Standards Survey, to inform the CPRGS
secretariat on progress to date in implementing the CPRGS. The PPAs were also
designed to provide information for new regional and national studies of poverty
and these have now been published separately as Regional Poverty
assessments (RPAs). The PPAs are also being used as an instrument in building
capacity in pro-poor planning processes at sub-national levels of Government,
and an inputs to respective regional development strategies.
Eight donors (ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP and the World
Bank) contributed financial and human resources to support the PPAs and the
complementary RPAs underlying the preparation of these synthesis reports. They
have worked with teams from national and local government organizations, with
local research institutes and with international NGOs to produce the PPAs and
RPAs.
PPA research framework covered the following seven areas of investigation:
xi
Các chữ viết tắt
Abbreviations
CCHC Cải cách hành chính
HĐND Hội đồng Nhân dân
UBND U ỷ ban Nhân dân
xiii
Mục lục
A. Hiện trạng về sự tham gia và trao quyền trong việc ra quyết định ở cấp
địa phương ở Việt Nam…………………………………………………………….
1
1. Giới thiệu………………………………………………………………………… 1
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai Nghị định 29 ở cấp xã -
phường……………………………………………………………………………
1
3. Tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý từ trên xuống…………………………………. 2
4. Cán bộ cấp xã và cấp thôn……………………………………………………… 2
5. Năng lực thực hiệ
n các quyền của người dân………………………………… 4
6. Cho phép cán bộ địa phương khai thác nguồn lực nhiều hơn từ các hộ
3.1. Thiếu nước và nước bị nhiễm bẩn ………………………………………
20
3.2. Chất thải công nghiệp và vệ sinh kém…………………………………
21
3.3. Nuôi tôm…………………………………………………………………….
22
3.4. Đánh bắt cá quá mức …………………………………………………….
22
3.5. Phá rừng…………………………………………………………………….
23
4. Vấn đề bình đẳng: càng ít nguồn tài nguyên chung có nghĩa người nghèo
càng nghèo hơn……………………………………………………………………
23
5. Phn ng ca cán b đa phng đi vi các mi lo ngi v môi trng……
25
6. Các biện pháp khuyến khích, thách thức và khuyến nghị để nâng cao việc
bảo vệ môi trường………………………………………………………………
26
xiv
Content
A. Current Patterns of Participation and Empowerment in Local Decision
Making in Viet Nam…………………………………………………………………
29
51
3.4. Over-fishing…………………………………………………………………
52
3.5. Deforestation.……………………………………………………………….
52
4. Equity issues: fewer common property resources mean the poor get
poorer……………………………………………………………………………
52
5. Responses of local officials to environmental concerns………………………. 54
6. Incentives, challenges and suggestions for improved environmental
protection………………………………………………………………………….
55
xv
Báo cáo tổng hợp
1
A. Hiện trạng về sự tham gia và trao quyền
trong việc ra quyết định ở cấp địa phương
ở Việt Nam
1. Giới thiệu
Ở một số xã/phường, người dân địa phương khen ngợi chủ trương về dân chủ
cơ sở vì nó đã nâng cao cơ hội cho họ tham gia ý kiến và tạo ảnh hưởng đến
việc ra các quyết định ảnh hưởng đến đời sống của họ. Những cải thiện này bao
gồm việc thừa nhận rõ hơn các quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia nhiều hơn
vào các hoạt động chung và các buổ
i họp của thôn làng, quan hệ gần gũi hơn
với cán bộ cấp xã và cấp thôn. Người dân cũng thừa nhận cán bộ cơ sở làm việc
tích cực hơn và có trách nhiệm hơn với người dân, được tiếp cận nhiều hơn đến
các nguồn thông tin về chính sách của Nhà nước và những thông tin khác thông
qua các cuộc họp thôn và phương tiện thông tin đại chúng. Ở những nơi mà Quy
chế dân chủ có ảnh hưởng tích cự
c, người dân cũng cho biết những tác động cụ
thể như điều kiện cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường được cải thiện và ít tệ
nạn xã hội hơn.
Tuy nhiên những biểu hiện tích cực này không phải là phổ biến. Nếu đánh giá
chung thì việc thực hiện các quy định về dân chủ cơ sở còn kém. Người dân ở
Báo cáo tổng hợp
2
hầu hết các xã/phường được khảo sát cho rằng Nghị định về dân chủ cơ sở
không tác động đáng kể đến cuộc sống của họ. Hơn nữa, do hoạt động tuyên
truyền làm chưa tốt nên hiểu biết của người dân về nội dung Nghị định còn rất
hạn chế. Nói chung, việc thực hiện Nghị định tốt hơn ở các vùng dân tộc Kinh vì
ít bị
ảnh hưởng bởi rào cản về ngôn ngữ, trình độ học vấn và đói nghèo. Việc
triển khai thực hiện Nghị định tốt nhất ở TP HCM. Ở nhiều xã vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, đặc biệt là miền núi và vùng sâu vùng xa, Nghị định tác động không
đáng kể. Ở các xã nông thôn, phụ nữ và người nghèo ít tham gia ý kiến vì trình
Một thực trạng phổ biến ở các địa phương khảo sát là năng lực hạn chế của cán
bộ Ủy ban nhân dân xã và trưởng thôn cả về nhận thức về dân chủ cơ sở được
nêu trong Nghị định 29 và trong triển khai nghị định này. Tồn tại này đặc biệt rõ ở
các vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi trưởng bản biết ít tiếng Việt.
Nhiều cán bộ xã và thôn không hiểu
đúng các nguyên tắc cơ bản của khẩu hiệu
về dân chủ cơ sở "dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra". Họ thường hiểu
khẩu hiệu này theo kiểu thứ bậc từ trên xuống như từ trước đến nay chứ không
phải là một sáng kiến nhằm thúc đẩy sự tương tác, trao đổi thông tin hai chiều
giữa chính quyền và người dân.
Hiểu biết về chính sách của cán bộ còn thấp. Nhiều người than phi
ền là thời gian
nghiên cứu chính sách mới là không đủ (chỉ có nửa ngày ở cấp xã). Nhiều cán
bộ xã cho biết họ biết rất ít về ngân sách huyện và tỉnh. Cán bộ huyện và tỉnh
Báo cáo tổng hợp
3
thường cho rằng cán bộ xã yếu và không có khả năng nắm bắt, lập kế hoạch và
giám sát các dự án. Do vậy các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng do cấp huyện lập
kế hoạch và phê duyệt mà không tham khảo ý kiến cấp xã mặc dù trách nhiệm
về các dự án này là của cấp xã.
Trong quan hệ với cấp huyện và cấp tỉnh, cán bộ xã thôn phàn nàn về sự thiếu
khuôn khổ pháp lý rõ ràng về xác định th
ẩm quyền và trách nhiệm cho từng cấp
chính quyền địa phương. Họ cũng phàn nàn về sự thiếu ngân sách cho các hoạt
động ở cấp xã/phường, ngân sách thường không đủ trang trải các khoản tối
thiểu. Hơn nữa, một số người nói rằng thông tin về các khoản ngân sách từ
huyện đặc biệt cho đầu tư cơ sở hạ tầng thường đưa ra muộn, gây khó khăn cho
tộc thiểu số không thạo tiếng phổ thông nên thông tin từ các phương tiện thông
tin đại chúng và loa truyền thanh không đế
n được với họ.
Báo cáo tổng hợp
4
Hộp 1 - Tham dự của dân vào việc ra quyết định ở Đắc Lắk 5. Năng lực thực hiện các quyền của người dân
Đánh giá này cho thấy đa số người dân hiểu rất mơ hồ về nội dung Nghị định 29,
người dân ở các vùng hẻo lánh thậm chí không biết đến Nghị định này. Hầu hết
người dân biết ít nhất một phần khẩu hiệu "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra" nhưng nhiều người thú thật họ không hiểu ý nghĩa của nó lắm. Người nào
giải thích thì thường giải thích sai và cho rằng khẩu hiệu này có nghĩ
a là "biết",
thảo luận, và thực hiện các chính sách hoặc dự án từ trên đưa xuống.
Một vấn đề rõ ràng là Nghị định thường chỉ được giải thích cho nguời dân một
lần, thường là trong cuộc họp của thôn, không có các hoạt động tiếp theo. Ở
những nơi Nghị quyết được in và phát cho dân, người dân cũng không hiểu vì
ngôn ngữ không phù hợp.
Báo cáo tổng hợp
5
một số nơi, chỉ những người được mời mới được tham gia họp và những người
này thường là các đối tượng về vấn đề gì cũng "gật".
Cả người dân và trưởng thôn đều chỉ ra tình trạng thiếu cơ sở vật chất cho việc
thông tin tuyên truyền về Nghị định. Hội trường thôn là nơi hội họp và thảo luận
nhưng nhiều nơi không có vì thiế
u kinh phí. Các kênh tuyên truyền trong cộng
đồng khác như thư báo nội bộ thường yếu và thiếu kinh phí.
Người dân địa phương thường không quan tâm đến việc tham gia xây dựng các
chính sách trừ khi phải đóng góp tiền hoặc nhân công, một phần vì họ nghĩ cán
bộ không lắng nghe ý kiến của họ. Người dân thường thiếu tự tin và quen với
việc cán bộ quyết định mọi việc cho họ.
Hộp 2: Cách thức lập kế hoạ
ch ở Quảng Ngãi
Ý kiến sau của một người dân ở xã Hải An ở tỉnh Quảng Trị cho thấy sự cứng
nhắc của cán bộ và ảnh hưởng của việc thiếu cơ sở hội họp ở làng xã.
"Chúng tôi thảo luận về xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã. Người dân đề nghị
xây dựng ở địa điểm cũ vì nó ở trung tâm và gần cả 4 thôn. Nhưng cán bộ xã nói
Bước 1: Vào cuối năm, chủ tịch xã được mời lên huyện để giao nhận kế
hoạch ngân sách và các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
cho năm tới.
Bước 2: Chánh văn phòng UBND xã tiến hành tổng kết cuối năm và chuẩn bị
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã dựa trên các chỉ tiêu phát
triển và ngân sách huyện đã duyệt cho xã.
Bước 3: Kế hoạch này được trình bày trước cuộc họp m
hồi xây trụ sở Ủy ban nhân dân xã, tôi chưa bao giờ đến đó vì tôi phải đi bộ 3
cây số".
Nghị định 29 xác định sự giám sát củ
a người dân là một trong những yêu cầu chủ
yếu của quá trình tham gia của cộng đồng vào việc ra quyết định. Nghị định 29 quy
định thông tin tài chính phải được công khai nhưng ngay cả khi được tiếp cận đến
thông tin, người dân cũng thường không hiểu. Người dân địa phương thường
không được tham gia giám sát các dự án, đặc biệt là các dự án vốn của nhà nước.
Một điều đáng chú ý là cả cán bộ và người dân địa ph
ương đều cho rằng người
dân không đủ trình độ giám sát các dự án xây dựng phức tạp. Tuy vậy, Nghị định
29 quy định nhân dân giám sát các dự án phát triển ở địa phương.
Cuối cùng một số người dân phàn nàn về tình trạng tham nhũng ở các cấp chính
quyền. Các hành vi móc ngoặc như trong đấu thầu các dự án xây dựng vi phạm
tất cả các nguyên tắc của Nghị định 29.
6. Cho phép cán bộ địa phương huy động nguồn lực
nhiều hơn từ các hộ nghèo
Có lẽ yếu tố rõ nhất ảnh hưởng đến khả năng của cán bộ cơ sở lấy ý kiến đóng
góp nhiều hơn từ các hộ nghèo trong việc lập kế hoạch, dự toán và triển khai các
dự án phát triển cơ sở hạ tầng là hệ thống quản lý từ trên xuống. Hệ thống này
mâu thuẫn với các nguyên tắc của Quy chế dân chủ cơ sở. Do vậy, phân cấ
p
nên được triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp chính quyền. Nếu không phân cấp
hơn nữa, việc lập kế hoạch ở cấp xã và thôn chỉ được thực hiện với các hoạt
động có sự đóng góp của dân. Tổng giá trị các hoạt động này nhỏ so với ngân
sách xã, đó là chưa kể các khoản đầu tư tại xã do cấp cao hơn quyết định.
Chừng nào cán bộ c
ơ sở còn cho rằng vai trò của họ là triển khai các quyết định
của cấp trên chứ không phải lắng nghe và đại diện cho lợi ích của người dân địa
iều này cần có sự nâng cao năng lực đáng kể và phân cấp từ cấp huyện xuống
cấp xã. Tuy nhiên, nâng cao năng lực và đào tạo lại cần được triển khai đến các
cán bộ xã để đảm nhiệm các nhiệm vụ công việc mới.
7. Giám sát vic thc hin dân ch c s và các ch s gi ý
Ở hầu hết các xã được khảo sát đều thiếu sự giám sát hiệu quả việc thực hiện
Nghị định 29. Có lẽ chỉ số tốt nhất về sự tham gia của nguời dân là các mục tiêu
phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là mục tiêu hàng năm về giảm đói nghèo.
Người dân địa phương có thể dễ dàng hiểu được các chỉ số này như tỷ lệ hộ có
đi
ện, tỷ lệ trẻ em đến trường hay số hộ được vay vốn.
Tuy nhiên, ở nhiều xã các chỉ số đơn giản này không được thường xuyên theo
dõi. Các số liệu này chỉ được báo cáo lên cấp trên mà không công khai cho cán
bộ và nhân dân địa phương. Hệ thống giám sát do vậy phải được sửa lại theo
hướng từ dưới lên và tăng số lượng chỉ số về thực hiện hoặc tác động (như
nhóm 12 chỉ s
ố về xã hội và giảm đói nghèo trong Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và Giảm nghèo). Về điều này thì việc sử dụng một phiếu báo cáo đơn
giản có tác dụng tốt. Nếu thực hiện, cán bộ xã cần được dành nhiều thời gian và
ngân sách để thu thập các số liệu thích hợp.
Một số hệ thống giám sát và chỉ số thống kê hiện có không đủ tin cậy. Một số
xã
được khảo sát đã sử dụng các bảng hỏi khuyết danh đối với dân chúng về việc
thực hiện Nghị định. Tuy nhiên, chỉ có cán bộ và các hộ "có hiểu biết" điền các
bảng hỏi này. Các hộ nghèo thường không đủ trình độ học vấn và cán bộ xã
không có thời gian để phỏng vấn từng hộ gia đình.
Một số cán bộ cho rằng số trường hợp khiếu nại t
ố cáo của người dân là một chỉ
số thích hợp. Tuy nhiên các hộ nghèo và trình độ học vấn thấp gặp khó khăn
trong việc nộp đơn tố cáo khiếu nại và họ cũng không biết nộp ở đâu. Hơn nữa,
nhân dân có trách nhiệm báo cáo với dân.
Lý tưởng là các cơ quan theo dõi và giám sát độc lập có thể đảm bảo theo dõi
quá trình thực hiện Nghị định chặt chẽ hơn.
8.
Tăng cng thông tin đ nâng cao năng lc cho ngi
dân
Thiếu thông tin là nguyên nhân chính hạn chế khả năng của người dân địa
phương trong việc gây ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định. Cách thức trình
bày thông tin cũng quan trọng không kém. Lời kể của một cán bộ ở tỉnh Ninh
Thuận cho thấy việc phân phát các thông tin về Nghị định 29 mang tính giáo
huấn như thế nào.
"Gần đây, họ họp chúng tôi lại, phát các tài liệu in đẹp đẽ và bảo chúng tôi phát
cho người dân địa phương và giữ l
ại một ít. Tôi đã phát một số cho dân và còn
giữ một số. Họ không giải thích về nội dung tài liệu nên tôi hiểu cũng hạn chế.
Với dân thì càng khó, làm sao họ hiểu được. Tài liệu dài quá".
Do vậy, thông tin cần được trình bày rõ ràng bằng ngôn ngữ đơn giản và dễ
hiểu, dù là in ra tờ rơi, đưa lên bảng tin hoặc các phương tiện thông tin đại
chúng. Sự minh bạch hơn đặc biệt về ngân sách xã và việc sử dụng ngân sách
có thể cải thiện việc thông tin cho dân và làm họ tin tưởng cán bộ hơn.
Họp thôn là một trong những hình thức chính để cung cấp thông tin và nhận
phản hồi từ dân. Tuy nhiên, nhiều người dân phàn nàn rằng các cuộc họp thôn
còn quá ít và các cuộc họp này không hiệu quả. Cán bộ phải được đào tạo để có
kỹ năng khuyến khích thảo luận nhóm và tham gia của cộng đồng. Cần có kinh
phí xây dựng hội trường xã cho các xã chưa có hội trườ
ng.
Đến thăm từng hộ là một hình thức tiếp xúc thích hợp của cán bộ với dân, đặc
biệt với các nhóm như phụ nữ và người nghèo là những người ngại nói trong các
u thời gian do công việc nhà nhiều nên phụ nữ chỉ tham gia họp khi
có bàn những việc liên quan đến phụ nữ. Phụ nữ đi họp thường im lặng nhiều
hơn là tích cực tham gia. Phụ nữ dân tộc nhiều người còn mù chữ tham gia ít
nhất. Hầu hết trong số họ không kể tên được cán bộ xã, chưa từng biết đến Nghị
định về dân chủ cơ sở hoặc khẩu hiệu củ
a dân chủ cơ sở.
Cuối cùng, các hộ nghèo thường ít tham gia bàn thảo các vấn đề ở địa phương
so với hộ khá và cũng hiểu biết ít hơn về các quyền của người dân nêu trong
Nghị định 29. Điều này là do nhiều yếu tố như học vấn thấp, tự ti về địa vị thấp,
và hạn chế thời gian do phải làm việc nhiều.
10. Giáo dục người dân và rèn luyện kỹ năng bổ sung
cho cán bộ
Một trong những yếu tố đảm bảo việc thực hiện thành công sự phân cấp nói
chung và dân chủ cơ sở nói riêng có lẽ là tìm ra một điểm cân bằng giữa nhu cầu
của người dân ở phía nhận và cán bộ với tư cách là người cung cấp dịch vụ.
Điều này có nghĩa là cần giáo dục người dân về quyền và trách nhiệm của họ
như được nêu trong Nghị định của Chính phủ
về dân chủ cơ sở và các chính
sách, chương trình liên quan như cải cách hành chính. Hoạt động này cần được
tổ chức tốt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua tranh ảnh áp
phích cho người không biết chữ nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng.
Một vấn đề quan trọng nữa là nâng cao năng lực và đào tạo bổ sung kỹ năng
cho cán bộ xã và thôn về các nhiệm vụ công việc mới như lập kế hoạch có sự
tham gia của cộng đồng, dự toán ngân sách, cung cấp dịch vụ công, và thực
hiện và giám sát dự án. Trong khi những đổi mới này cần có cam kết về chính trị
và đổi mới về thể chế, cán bộ cơ sở phải có đủ kỹ năng, phương tiện và động
lực cần thiết để thực hiện.
Tính minh bạch và tinh thần trách nhiệm là các yếu tố quan trọng góp phần vào
việc thực hi
Chương trình tổng thể về Cải cách Hành chính (CCHC) của Chính phủ giai đoạn
2001-2010 có mục tiêu xây dựng một khu vực công nhạy bén, minh bạch và hiệu
quả hơn, được tổ chức tốt hơn, được bố trí nguồn lực và đội ngũ
cán bộ hiệu
quả hơn nhằm cung ứng dịch vụ cho người dân và các doanh nghiệp. Trong nửa
đầu của chu kỳ thứ nhất thực hiện chương trình CCHC mười năm, Chính phủ đã
đề ra hàng loạt các sáng kiến phân cấp dưới dạng ban hành Quy chế Dân chủ
cấp cơ sở (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất
đai, và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, cùng với Pháp l
ệnh về Cán bộ công
chức nhà nước, Nghị định Thực hiện cơ chế một cửa, và Nghị định mới về
Khoán biên chế tại các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Là một phần của Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng được thực hiện
tại 12 tỉnh từ tháng 6 đến thánh 8 năm 2003, các cán bộ địa phương và người
dân đã được đề nghị nêu ý kiến của mình v
ề kinh nghiệm của họ với CCHC.
Phần này được rút ra từ các báo cáo khảo sát ở các tỉnh.
2. Có tiến triển, nhưng chưa được như mong muốn
Trong những lĩnh vực mà chương trình đã thực hiện được một cách hữu hiệu, cả
cán bộ địa phương lẫn người dân đều nhất trí rằng CCHC đã bước đầu đáp ứng
được ít ra là một số tiêu chí. Nói chung, cán bộ cấp xã hoan ngênh việc họ được
chuyển sang ngạch công chức nhà nước, coi đó là một cơ hội để đảm bảo tính
ổn định và tính chuyên nghiệp trong nghề nghiệp. Ng
ười dân cũng cho rằng việc
chuyển cán bộ xã thành công chức nhà nước sẽ làm cho các cán bộ sẵn sàng
đáp ứng nhu cầu của họ hơn. Đồng thời, mọi người đều hoan nghênh phương
thức quản lý hành chính mới, trong đó tất cả các dịch vụ hành chính đều được
giao dịch qua một cửa, còn gọi là áp dụng cơ chế “một cửa một dấu” hay “một
cửa”. Cơ chế này và các thủ
tục có liên quan khác cho việc cung ứng dịch vụ
phương để phản ánh đúng thực tế địa phương (có cân nhắc sự phát triển
nhanh và tốc độ tăng dân số ở một số phường xã).
Bản thân người nghèo cũng có nhận thức rất khác nhau, và thường là rất
hạn chế, về CCHC và ý nghĩa của chương trình đó đối với họ. Họ cũng
thấy rất có có thể có tác động đến quá trình này.
Nguồn: Báo cáo Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở Đồng bằng châu
thổ sông Hồng.
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng thành tích giảm bớt tính chất quan liêu hành chính
đạt được nhiều nhất là ở những thủ tục tương đối đơn giản. Tại hầu hết các địa
phương được điều tra, “tệ quan liêu sự vụ” vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng trong
quá trình xin sổ đăng ký hộ khẩu, giấy chứng nhận đất đai hay đơn xin vay vốn.
Những thủ t
ục này không những phức tạp hơn, mà cũng quan trọng hơn, nhất là
đối với người nghèo, vì mỗi loại thủ tục đều có tác động trực tiếp và đáng kể đến
khả năng các hộ gia đình nghèo có thể cải thiện được thu nhập của mình. Vốn
vay ngân hàng đóng vai trò thiết yếu để người dân có được nguồn vốn, quyền sử
dụng đất là yếu tố quan trọng
được xem như tài sản để được vay vốn, và đăng
ký hộ khẩu cũng là điều kiện cần thiết cho những người lao động nghèo di cư.
Tiền bạc và thời gian mất để có được những giấy tờ như thế có thể được sử
dụng một cách hữu ích hơn vào công việc sản xuất.
Cả mức độ thực hiện CCHC lẫn những hiệu ứ
ng tích cực của nó đều được thể
hiện rõ rệt hơn ở những vùng tương đối sung túc, nhất là các vùng đồng bằng và
1
Quyết định 181 yêu cầu đến năm 2005 phải thực hiện trên qui mô toàn quốc cơ chế
"một cửa" ở cấp phường xã, nhưng đã có trên 600 phường xã đã bắt đầu quá trình này.