đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang - Pdf 28


i
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đánh giá nghèo
có sự tham gia của cộng đồng tại
Hà Giang

giá 
nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh 
giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để 
tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà
 các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. 
Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu 
của Điều tra mức số
ng hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký 
CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế 
để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới 
về nghèo đói ở các vùng và trên toàn 
quốc và các nghiên cứu này cũng đã được công bố riêng. Các đánh giá nghèo theo 
vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình l
ập kế 
hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.  
 
Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh 
giá nghèo có sự tham gia
 của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và 
các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, 
GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài 
trợ đóng vai trò chính ở 
một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở 
Bảng A, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng
 lĩnh vực. 
Bằng cách lựa chọn vùng  nào mình thấy quen thuộc  nhất, thông  qua các dự án và 
hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những 
hiểu 
biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.  
 

hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế 
hoạch và lập ngân sách; 
• Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bả
n, tập trung vào sự 
tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ 
nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền
 
lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn; 
• Các cơ chế trợ cấp xã hội hiện nay (liên quan tới công tác xác định đối tượng 
ưu tiên ở trên) và cách
 thức cải thiện các cơ chế này;  
• Tình hình cải cách hành chính công ở các cấp chính quyền địa phương; 
• Những thách thức trong vấn đề di dân và mối liên hệ giữa sự di chuyển 
của 
hộ gia đình, nghèo đói và tiếp cận với dịch vụ; và, 
• Thông tin về môi  trường đối với người nghèo và sự thay đổi của tình hình 
này. 
 
Những Đánh giá nghèo có sự tham gia c
ủa cộng đồng hiện nay đang được công bố 
thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng 
hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được 
công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt 
phương  pháp  tiếp cận,  phương  pháp  nghiên  cứu được  sử  dụng  và những  câu  hỏi 
nghiên cứu chi tiết.  
 
Báo cáo “Đánh giá nghèo 
có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang” là kết quả của tập 
thể nhóm nghiên cứu gồm các cán bộ tổ chức AAV và cán bộ địa phương. Nội dung 
của báo cáo xoay quanh 


Bản Cầm
Phong Niên

Lào Cai
Mường Khương Pha Long
Tả Gia Khâu

Tư vấn Ageless
(tài trợ của DFID)
Vị Xuyên

Cao Bồ
Thuận Hoá

Miền núi Đông Bắc

Hà Giang , Cao Bằng,
Lào Cai, Bắc Kạn,
Lạng Sơn,
Tuyên Quang,
Yên Bái, Thái Nguyên,
Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Bắc Giang, Bắc Ninh,
Quảng Ninh
Miền núi Tây Bắc Lai Châu, Sơn La,
Hòa Bình

Mỹ Đức Tế Tiêu
Phúc Lâm RDSC
(tài trợ của WB)
Nghi Lộc Nghi Thái
Nghệ An
Tương Dương Tam Đinh
Viện Xã hội học
(tài trợ của JICA)
Hải Lăng Hải Sơn
Hải An
Bắc Trung bộ
Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tinh, Quảng Bình,
Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế GTZ

JICA

Quảng Trị
Gio Linh Gio Thành
Linh Thường
Nhóm nghiên cứu gồm Bộ
LĐTBXH, Viện KHLĐXH, và các
nhà nghiên cứu độc lập

Tỉnh Huyện Xã
Nhóm nghiên cứu chịu
trách nhiệm đánh giá
nghèo có sự tham gia
của người dân
EaHleo Eaheo
Ea Ral
Dacrlap Đao Nghĩa
Quang Tân
Tây Nguyên Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak ADB
Đak Lak
Thành phố Buôn Ma
Thuột
Thị trấn Ea Tam
Action Aid
(tài trợ của ADB)
Huyện Bình Chánh Thị xã An Lạc
Tân Tạo

TP Hồ Chí Minh
Quận 8 Phường 4
Phường 5
Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh
(tự tài trợ)
Ninh Phước Phước Hải
Phước Dinh
Đông Nam bộ TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng,

Vĩnh Long, Bến Tre,
Kiên Giang, Cần Thơ,
Trà Vinh, Sóc Trang,
Bạc Liêu, Cà Mau UNDP và AusAid Bến Tre
Mỏ Cày Thành Thới
Trung tâm chăm sóc sức
khoẻ ban đầu Long An
(tài trợ của UNDP và
AusAid)

Tổng quan vii
Từ và cụm từ viết tắt
 
AAV   ActionAid Việt Nam 
ADB   Ngân hàng phát triển châu Á 
AusAID  Cơ quan phát triển quốc tế Ôxtralia 
CBKN   Cán bộ khuyến nông 
CN‐XD   Công nghiệp‐Xây dựng 
CPRGS   Chiến lược toàn diện về tăng trưởng 
và xoá đói giảm nghèo 
CTĐ    Chữ thập đỏ 

 
VHLSS   Khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam 
VH‐XH   Văn hoá ‐ Xã hội 
XĐGN   Xoá đói giảm nghèo
Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang

viii
Tổng quan ix
Lời cảm ơn

Xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh, Sở LĐTB&XH, Sở KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Sở Y 
tế, Sở GD&ĐT, Mặt trận tổ quốc và Hội phụ nữ tỉnh, Tỉnh đoàn Hà Giang; UBND và 
các phòng TCLĐTB&XH, Phòng KH&
ĐT, Phòng GD&ĐT, Phòng NN&PTNT, Trung 
tâm Y tế, Trạm Khuyến nông, Hội phụ nữ hai huyện Vị Xuyên và Đồng Văn; UBND, 

do một nhóm cán bộ của tổ chức ActionAid Việt Nam (AAV) ‐ Lê Văn Định, Phan Lệ 
Thuý, Nguyễn Thu Hiền, Lò Thị Hương, Phạm Đức Uy, Nguyễ
n Đình Thiệu, do các 
ông Nguyễn Tất Quân và Vũ Ngọc Anh chỉ đạo.  Hai cán bộ sau cùng cũng chịu trách 
nhiệm viết báo cáo. Các ông Koos Neefjes, Hoàng Xuân Thanh và bà Nguyễn Thục 
Quyên đã có
 những ý kiến đóng góp có giá trị vào bản thảo của báo cáo. Chúng tôi 
xin cảm ơn DFI D đã tài trợ và Ngân hàng Thế giới, bà Carrie Turk và Thanh Hoa đã 
hỗ trợ dàn xếp cho việ
c in Báo cáo này. 
 
Hà Nội, tháng 8 năm 2003.  Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang

x

Tổng quan xi
Mục lụcLời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo......................................................iii 
Từ và cụm từ viết tắt............................................................................................................ vii 

Khuyến nghị:.......................................................................................................29 
Chất lượng và hiệu quả của các chương trình hỗ trợ xã hội ......................................... 30 
Thực trạng:...........................................................................................................30 
Khuyến nghị:.......................................................................................................30 
Cải cách hành chính công....................................................................................................31 
Thực trạng:...........................................................................................................31 
Khuyến nghị:.......................................................................................................32 
Môi trường .............................................................................................................................33 
Môi
 trường‐cách hiểu theo từng cấp độ:.........................................................33 
Xu hướng: ............................................................................................................33 
Những lo ngại: ....................................................................................................34 
Khuyến nghị/giải pháp: .....................................................................................35 
Di dân......................................................................................................................................36 
Di dân tự do:........................................................................................................36 
Di dân có tổ chức: ...............................................................................................37 
Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang

xii
Khuyến nghị:.......................................................................................................37 
Phụ lục 1: Danh sách nhóm nghiên cứu Hà Giang.........................................................38 
Phụ lục 2: Những thuận lợi và khó khăn .........................................................................39 
Phụ lục 3: Các xã trong địa bàn nghiên cứu .....................................................................41 
Xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên:......................................................................41 

 Cao Bồ, huyện Vị Xuyên: .............................................................................41 
Xã Sảng Tủng, huyện Đồng Văn: .....................................................................42 
Xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn:.............................................................42 
Phụ lục 4: “9 Chính sách và 7 dự án” XĐGN của tỉnh Hà Giang.................................43 
9 Chính sách: .......................................................................................................43 

 
được đánh giá là khó khăn nhất Việt Nam
. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thích hợp 
với các cây ôn đới, trong đó ngô là cây lương thực chính; chăn nuôi chủ yếu là bò, 
ngựa, dê và gia cầm. 
 
Vùng 2:
 vùng cao núi đất phía tây gồm 2 huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần với diện 
tích 1.453 km2, dân số 10,8 vạn người. Địa hình tự nhiên chia cắt mạnh, độ dốc lớn 
thích hợp cho việ
c trồng các loại cây ôn đới, cây công nghiệp lâu năm như chè (ở đây 
có giống chè San Tuyết nổi tiếng), thông nhựa, trẩu. Cây lương thực chính là lúa nước 
(thường chỉ trồng
 được 1 vụ) và ngô; chăn nuôi chủ yếu là trâu, ngựa, dê và gia cầm. 
 
Vùng 3:
  vùng  núi  thấp  gồm  3  huyện  Bắc  Quang,  Vị  Xuyên,  Bắc  Mê  và  thị  xã  Hà 
Giang. Diện tích tự nhiên 4.174 km2, dân số 30,6 vạn người. Điều kiện tự nhiên thích 
hợp với các loại 
cây nhiệt đới và rừng; các loại cây ăn quả có múi như cam, chanh, 
quít; cây công nghiệp như trẩu, chè. Cây lương thực chính là lúa nước, chăn nuôi chủ 
yếu là trâu, bò, dê, cá, gia cầm
2

 
Về kinh tế, trong giai đoạn 1996‐2002 Hà Giang duy trì được tốc độ tăng GDP khá cao 
(khoảng 10%/năm). GDP bình quân đầu người năm 2002 là 2,14 triệu đồng (năm 2000 
là 1,7 triệu đồng). Theo 
thống kê năm 2001 tỉ trọng GDP của nông‐lâm nghiệp và thuỷ 
sản là 48,06%, của công nghiệp‐xây dựng là 21,28% và của dịch vụ là 30,66%

 năm 2001 cho thấy tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh là 25,7%. Năm 
2002, tỉ lệ này còn 18% và không còn hộ đói (Báo cáo của Sở LĐTB&XH). Theo địa bàn, 
thị xã Hà Giang là nơi có tỉ lệ 
hộ nghèo thấp nhất trong khi Mèo Vạc là huyện nghèo 
nhất. Theo dân tộc, HMông là cộng đồng nghèo nhất (chiếm 50% số hộ nghèo năm 
2001), trong khi 2 cộng đồng Tày và Kinh được đánh giá là
 năng động và phát triển 
nhất trong tỉnh. Có 142 xã của Hà Giang nằm trong danh sách 1.870 xã nghèo đói của 
Việt Nam  và được  hưởng chương  trình  135 từ  năm 1999.  Những  huyện có 
tỉ lệ  xã 
được chương trình 135 cao nhất là Xín Mần (20/20 xã và thị trấn), Đồng Văn (19/19 xã 
và thị trấn) và Mèo Vạc (16/16 xã và thị trấn); tiếp theo là Hoàng Su Phì (26/27), Bắc 
Mê (12/13), Yên Minh (16/18) và Quản Bạ (11/13). 
Các xã nghiên cứu:
Bốn xã được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu PPA bao gồm các xã Thuận Hoà và Cao 
Bồ (huyện Vị Xuyên), Sảng Tủng và Thài Phìn Tủng (huyện Đồng Văn). Cả bốn xã 
này đều n
ằm trong danh sách các địa bàn đã tiến hành thu thập thông tin định lượng 
trước đây (VHLSS ‐ chi tiết về 4 xã xem Phụ lục 3). Chúng cũng được lựa chọn để đại 
diện cho các khu vực 
với điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội khác nhau của Hà Giang. 
Các xã Thuận Hoà và Cao Bồ có thể đại diện cho Vùng 2 và Vùng 3, trong đó Cao Bồ 
đại diện cho vùng núi đất 
cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt và Thuận Hoà đại diện 
cho vùng núi thấp. Hai xã Sảng Tủng và Thài Phìn Tủng là đại diện cho Vùng 1 ‐ khu 
vực núi đá của huyện Đồng V
ăn. Sự khác biệt về địa lý và xã hội đã tạo ra sự đa dạng 
trong phương thức kiếm sống – với các xã Sảng Tủng và Thài Phìn Tủng thì trồng ngô 
và chăn 
nuôi bò/dê/lợn là những phương thức chính, còn với Thuận Hoà và Cao Bồ là 

‐2007.  
• Giúp cán bộ ActionAid và cán bộ của tỉnh, huyện có liên quan nâng cao năng lực 
và hiểu biết về về nhiều lĩnh vực liên quan đến nghèo và XĐGN. 
Thành phần tham gia:
23 người gồm 21 trực tiếp và 2 điều phối và/hoặc hỗ trợ (xem phụ lục I). 
Thời gian:
  từ 9 đến 29 tháng 7 năm 2003. 
Phương pháp nghiên cứu:
1. Phỏng vấn bán cấu trúc các sở ban ngành liên quan cấp tỉnh; các phòng ban liên 
quan cấp huyện; lãnh đạo chủ chốt và đầu ngành các xã và thôn được lựa chọn. 
2. Phỏng vấn bán
 cấu trúc các nhóm chủ hộ nam, chủ hộ nữ, nhóm trẻ em, nhóm 
giáo viên, hộ gia đình (nghèo, trung bình và khá) ở các xã/thôn được lựa chọn. 
3. Sử dụng các công cụ nghiên cứu (phân loại kinh tế hộ theo 
thôn bản, biểu đồ xu 
hướng, phân tích cặp, ma trận so sánh, cây nhân quả, lịch 24 giờ, quan sát v.v.). 
4. Thu thập thông tin thứ cấp (các báo cáo, tài liệu thống kê giai đoạn 1995
‐2000 và 
hiện nay của tỉnh, 2 huyện và 4 xã được chọn).  
Địa điểm nghiên cứu:
1.
Tỉnh Hà Giang:
 Sở LĐTB&XH, Sở KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Sở GD&ĐT, Sở Y tế, 
Mặt trận tổ quốc tỉnh và Hội phụ nữ tỉnh. 
2. Huyện  Vị  Xuyên  (đại  diện  vùng  núi  thấp):  Phòng  TCLĐTB&XH,  Phòng  KH&ĐT, 
Phòng NN&PTNT, Phòng GD&ĐT, Hội phụ nữ huyện;  
Xã  Thuận  Hoà  (xã  vùng  thấp): thôn Hoà Bắc (thôn lớn  gần đường quốc  lộ), thôn 
Lũng Rầy (thôn nghèo, vùng cao)  
Xã  Cao  Bồ  (xã  vùng  cao): 
thôn Thác  Tậu (thôn  xa trung  tâm xã), thôn  Chất  Tiền 

hơn là 
khó khăn

• Tất cả các xã được khảo sát đều là những xã vùng 3 (vùng đặc biệt khó khăn) 
đang được hưởng chương trình 135 cũng như các CT/DA hỗ trợ khác của tỉnh và 
huyện cũng 
như của các tổ chức quốc tế (IFAD, SIDA, UNICEF ...) trong nhiều 
năm, do đó những phát hiện có thể bị hạn chế về tính đại diện

• Yêu cầu tìm hiểu về Cải cách hành chính công
 đến sau khi đã triển khai nghiên 
cứu, nên thông tin thu thập không đầy đủ,  
Một số phát hiện:
1.
Trong 10 năm qua,
 đặc biệt là 5 năm gần đây, chính quyền và đồng bào các dân 
tộc tỉnh Hà Giang đã nỗ lực vượt bậc, kết hợp nội lực với sự giúp đỡ của chính 
phủ và các
 tổ chức quốc tế và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ trong các lĩnh 
vực phát triển kinh tế, VH, XH và XĐGN: tốc độ phát triển kinh tế hàng năm cao; 
cơ cấu
 kinh tế đang chuyển dịch từ thuần nông sang đa dạng, tỉ trọng CN‐XD và 
TM‐DV trong GDP ngày càng tăng. Tuy nhiên Hà Giang vẫn là 1 tỉnh nghèo, GDP 
bình quân đầu người năm 2002 là 
2,14 triệu đồng, dưới mức trung bình của cả 
nước (khoảng 6 triệu đồng); vẫn còn một số tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả 
(thương mại, lâm nghiệp, du lịch ...). 
 
2.
Đời sống

thôn Lũng Rầy (xã Thuận Hoà) 32,4%; thôn Chất Tiền (xã Cao Bồ) 38,89%; thôn Tà 
Tổng quan 5
Lủng Chứ (xã Thài Phìn Tủng) 73,47%. Theo quan điểm của người dân vẫn còn hộ 
đói (mỗi năm số hộ này thiếu ăn từ 4 đến 6 tháng).  Tính bền vững của hoạt động 
XĐGN 
là thấp do nó phụ thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ từ cấp trên (TƯ, tỉnh và 
huyện).  
 
4.
Cơ sở hạ tầng
 (điện, điện thoại, đường giao thông, trường học, trạm y tế, kênh 
mương  thuỷ lợi,  nước  sinh  hoạt  v.v.) ở Hà  Giang, đặc  biệt ở những vùng  cao, 
vùng sâu, vùng xa đã được cải thiện 
cơ bản và góp phần  vô cùng  quan trọng vào 
việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, cải thiện cuộc sống của người dân và công 
tác  XĐGN.  Chính  quyền  và  nhân  dân
  các  vùng  sâu,  vùng  xa  vẫn  mong  muốn 
được cấp trên (TƯ, tỉnh và huyện) tiếp tục hỗ trợ xây dựng và nâng cấp hệ thống 
giao thông (đường, cầu cống) và mở rộng l
ưới điện quốc gia tới các thôn bản để 
bà con có cơ hội cải thiện cuộc sống.  
 
5.
Hệ thống giáo dục
 đã được củng cố và phát huy tác dụng: trong 3 năm qua, hàng 
trăm trường học và điểm trường kiên cố đã được xây dựng góp phần nâng cao 
chất lượng dạy và học; s

quyết định này.  
 
7.
Hệ thống khuyến nông/thú y
 đã được củng cố, phát triển và phát huy tác dụng 
của mình đến phát triển sản xuất nông nghiệp (áp dụng giống mới năng suất cao, 
chăn nuôi phát triển v.v.) và được 
người dân đánh giá cao. Công tác khuyến lâm đã 
làm nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong nhân dân và tăng độ che phủ của rừng lên 
trên 39%. Người dân mong muốn cấp trên tiếp tục
 hoàn thiện hệ thống, nâng cao 
chất lượng đội ngũ cán bộ KN/KL/thú y cơ sở; tiếp tục trợ giá giống cây con, hỗ 
trợ vốn vay, cung cấp trực tiếp và kịp thời các thông 
tin cần thiết về sản xuất và 
thị trường tới người dân... ý thức đầu tư vào rừng của người dân nhìn chung còn 
yếu (ở những xã được khảo sát), đa số diện tích r
ừng là rừng tạp và rừng tái sinh, 
Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang

6
giá trị kinh tế thấp. Quyết định 80 của thủ tướng chưa được triển khai, các nhà 
khoa học vẫn đứng ngoài cuộc. 
 
8.
Sự tham gia của người dân
 vào quản lý địa phương còn hạn chế, nhìn chung mới 
dừng ở mức đóng góp các quĩ và thực hiện nghĩa vụ công dân (như lao động công 
ích). Các chỉ thị, nghị quyết của cấp 
trên – kể cả NĐ 29 về Dân chủ cơ sở, mới đến 
được cán bộ và đảng viên cấp thôn bản. Còn người dân chỉ được nghe phổ biến 

gặp rủi ro. Chương trình hỗ trợ thường xuyên hướng tới nhóm đối tượng nghèo 
và khó khăn khá rõ ràng, trong
 khi các chương trình cứu trợ khẩn cấp là dành cho 
mọi đối tượng bị ảnh hưởng, không phân biệt giàu nghèo. 
 
10.
Trật tự xã hội tương đối tốt và tệ nạn xã hội thấp:
 những nơi nhóm nghiên cứu 
đến  cán  bộ  và  người  dân  phản ảnh  rằng  các  tệ  nạn  như  hút  chích,  mại  dâm, 
HIV/AIDS hầu như không có ở địa phương họ. Đây là một điểm mạnh c
ủa Hà 
Giang, 1 tỉnh biên giới với nhiều dân tộc và nó cũng đóng góp vào sự nghiệp phát 
triển KT‐XH và  XĐGN của tỉnh.  Tuy nhiên, tình trạng  uống rượu còn  khá phổ 
biến ở Hà Giang, gây ra những hậu quả không hay như giảm năng suất làm việc, 
gây bạo lực gia đình v.v. do đó cần được coi như 1 tệ nạn xã hội. 
 
11.
Về cải cách hành chính công,
 đang có sự chênh lệch rõ ràng về trình độ và năng 
lực giữa cán bộ cấp xã/thôn bản vùng thấp và vùng cao, giữa cán bộ cơ sở người 
dân tộc ít người (có xã vùng cao không tự 
lập được kế hoạch và ngân sách mà 
phải nhờ tài chính huyện giúp). Điều này làm cản trở tính hữu hiệu của bộ máy 
hành  chính  nhà  nước.  Công  tác  chuẩn  hoá đội  ngũ  công  chức  mới
  triển  khai 
xuống cấp huyện. Cán bộ cấp xã chưa được chuẩn hoá mặc dù đây là cấp cơ sở 
cực  kỳ  quan  trọng.  Tỉnh đã  có  nhiều  cố  gắng  (chính  sách  luân  chuyển cán 
bộ, 
phân công cán bộ phụ trách các mảng hoạt động và địa phương cần hỗ trợ). Tuy 
nhiên, kết quả đạt được mới  chỉ là bước đầu. Cán bộ cáp thôn bản, tuy có vai trò 

thức bảo vệ rừng 
của người dân tăng lên, việc đốt phá rừng làm rẫy giảm hẳn, độ 
che phủ rừng tăng, hạn chế được xói mòn, môi trường được cải thiện. Tuy nhiên, 
hiểu biết của cán b
ộ, đặc biệt là cán bộ cơ sở, và người dân về môi trường cũng 
như tầm quan trọng của nó với cuộc sống còn hạn chế, vẫn còn nhiều diện tích đất 
trố
ng đồi trọc, người dân ít đầu tư vào rừng, chưa khai thác được nguồn lợi từ 
rừng để cải thiện đời sống, chưa biết cách giữ gìn vệ sinh nguồn nước. 
 
14. Tình trạng 
di dân

tự do xảy ra mấy năm trước ở Hà Giang (chủ yếu trong cộng 
đồng HMông đi miền Nam do tuyên truyền tôn giáo) nay đã giảm cơ bản, có nơi 
chấm dứt hẳn. Tỉnh và 
một số huyện đang triển khai kế hoạch di dân có tổ chức, 
hạ sơn. Tuy nhiên, công tác này khá khó khăn đòi hỏi nhiều công sức, thời gian 
cũng như sự phối hợp chặt
 chẽ của nhiều ban ngành liên quan. Di dân đến chủ 
yếu là thợ làm nghề tự do (xây dựng, làm đường, dịch vụ buôn bán nhỏ) từ dưới 
xuôi lên. 
 
15.
Nền kinh tế thị trường còn kém phát triển,
 ít doanh nghiệp tư nhân ở Hà Giang. 
Các dịch vụ tư nhân, đặc biệt là trong cộng đồng dân tộc thiểu số (sửa chữa, may 
vá, mua bán vật tư ...) còn kém phát triển thường chỉ có ở các
 xã vùng thấp, không 
có ở nhiều xã vùng cao, mặc dù có nhu cầu. Bà con thường phải ra thị trấn hoặc 

2. Tỉnh cần có các chính sách/chiến lược cụ thể nhằm nâng cao tính
 tích cực tự chủ, 
giảm  bớt tính ỷ lại, thụ  động của  cán bộ  và  người  dân địa  phương, đặc  biệt ở 
những vùng sâu/vùng xa. 
Coi chiến lược đầu tư, qui hoạch và sử dụng cán bộ
người dân tộc là một trọng tâm chiến lược quan trọng và lâu dài.
 Quan tâm bồi 
dưỡng về số lượng và năng lực cho cán bộ cấp xã và thôn. Tổ chức đánh giá rút 
kinh nghiệm công tác luân chuyển cán bộ và sử dụng cán bộ tăng cường.  
 
3.
Cần quan tâm đầy đủ đến 
tính bền vững
 của công tác XĐGN và phát triển của Hà 
Giang, giảm bớt sự lệ thuộc vào hỗ trợ từ trung ương và bên ngoài, tăng cường 
phát huy nội lực và xây dựng năng lực. Tỉ
nh nên tổ chức đánh giá các sáng kiến, 
mô hình XĐGN hay để rút ra được những kinh nghiệm và bài học cần thiết, tránh 
bệnh thành tích .  
 
4. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện các công trình
 hạ tầng cơ sở (đường giao thông, điện, 
điện thoại, phủ sóng truyền hình v.v.) cho các vùng sâu, vùng xa. Xây dựng các 
giải pháp duy tu bảo dưỡng để các công trình HTCS phát huy được hiệu qu
ả lâu 
dài.  
 
5.
Về y tế
 tỉnh cần có kế hoạch đào tạo cán bộ địa phương (bác sỹ, y sỹ, y tá) nhằm 


9
các nhà khoa học vào công cuộc phát triển kinh tế và XĐGN: cung cấp trực tiếp 
các thông tin về thị trường giúp người dân biết trồng cây gì, nuôi con gì; cải thiện 
việc cung
 cấp vật tư nông nghiệp tới người nông dân; cải thiện chất lượng và hiệu 
quả bộ giống cây trồng/vật nuôi; giúp bà con khắc phục những khó khăn khi áp 
dụng 
bộ giống mới. Tiếp tục trợ giá giống và phân bón, hướng dẫn phòng chống 
sâu bệnh, hướng dẫn nông dân bảo quản sản phẩm sau thu hoạch... Qui hoạch và 
hướng d
ẫn/khuyến khích người dân đầu tư vào lâm nghiệp, tăng giá trị của rừng. 
Hỗ trợ đồng bào HMông phát triển chăn nuôi (bò, dê) để nâng cao thu nhập của 
họ.  
 
8.
Về trợ cấp xã hội
 cần cải thiện khâu thông tin giữa huyện và xã, giữa xã và thôn 
để cập nhật danh sách người hưởng lợi. Xem xét việc lập quỹ cứu trợ cấp xã hoặc 
thôn giao cho
 Hội chữ thập đỏ hay MTTQ quản lý, UBND xã giám sát. Sửa đổi 
chính sách để chương trình hỗ trợ khẩn cấp cũng ưu tiên các hộ nghèo. 
 
9.
Về môi trường
:
 Thể chế hoá các chủ chương, chính sách, luật pháp về bảo vệ môi 
trường thành các chương trình hành động cụ thể và phù hợp với điều kiện của 
từng vùng. Tăng cường vai trò quả
n lý của nhà nước, huy động các nguồn lực để 

pháp hành chính, yêu cầu cán bộ đảng viên đi trước làm gương, tuyên truyền sâu 
rộng trong thanh thiếu niên v.v. 
 
12. Coi việc nâng cao vị trí của người phụ nữ là một công tác quan 
trọng không chỉ 
của HPN mà của các cấp chính quyền và đoàn thể. Tổ chức tập huấn về giới cho 
cán bộ lãnh đạo chính quyền và tất cả các ban ngành đoàn thể; bồi d
ưỡng cán bộ 
nữ có năng lực vào các cương vị lãnh đạo các cấp, đặc biệt là cấp xã/thôn. 
 
Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Hà Giang

10
Hiểu biết về Nghèo
Xu thế:
Tuyệt đại đa số các đối tượng phỏng vấn, kể cả các hộ nghèo, trả lời rằng trong 5 năm 
vừa qua cuộc sống của họ đã thay đổi theo hướng tích cực. Số hộ khá và 
trung bình tăng, 
số hộ nghèo đói giảm rõ rệt ở mọi cấp ‐ tỉnh, huyện, xã, thôn bản. Các bảng dưới đây 
minh hoạ xu thế phát triển tích cực của Hà Giang trong XĐGN. Bảng 1.1
 cho ta thấy 
tốc độ giảm nghèo của Hà Giang là khá nhanh, đặc biệt trong giai đoạn từ 2000 đến 
nay. 
Bảng 1.1 Sự thay đổ về tỉ lệ hộ nghèo đói ở Hà Giang (báo cáo của chính quyền):
Năm 1996 1998 2000 2001 2002
Tỉ lệ hộ nghèo (%)
35,07 28,03 20,00 25,7 18
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 1996‐2000 và Báo cáo 2002 của Ban chỉ đạo XĐGN Hà Giang) 
Bảng 1.2 Sự thay đổ về tỉ lệ hộ nghèo đói ở Hà Giang (đánh giá của người dân theo
cấp thôn bản):

5,3

23,4

19

Nhóm nam thôn Chất
Tiền, xã Cao Bồ, huyện
Vị Xuyên

32

6

21

31

Nhóm nam thôn Thác
Tậu, xã Cao Bồ,
Vị Xuyên

86

0

21

28


Nhóm nam thôn Tả
Lủng Chứ, xã Thài Phìn
Tủng, huyện Đồng Văn

75,86

10,34

51,02

18,37

Nhóm nam thôn Nhèo
Lủng, xã Thài Phìn
Tủng, huyện Đồng Văn

89,47

7,9

54,35

13,04

21,43

16,07
(Nguồn: Biên bản phỏng vấn các nhóm) 

Qua đánh giá của người dân trong bảng 1.2, ta  thấy tốc độ XĐGN trong giai đoạn 


Giảm tỉ lệ hộ nghèo
xuống dưới 10% • Nhà nước tiếp tục các chính sách đầu tư , hỗ trợ về hạ tầng cơ sở (nâng
cấp đường tới TT xã, làm thêm cầu, cống), giống, phân bón, cho vay vốn
ưu đãi.
• Đào tạo nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở.
• Tiếp tục hỗ trợ về giáo dục, y tế (học và khám chữa bệnh miễn phí)
• Đưa điện lưới quốc gia về tới các thôn bản, phủ sóng TV các vùng sâu vùng
xa
• Triển khai tốt các chương trình XĐGN của tỉnh (nuôi bò, dê) và nghị quyết
của HĐND tỉnh
• Trợ giá nhiều hơn giống ngô, phân bón cho đồng bào HMông

Tăng gấp đôi thu nhập • Trang bị kiến thức KHKT (giống cây con mới) cho bà con
• Tăng diện tích trồng cây lương thực
• Phát triển chăn nuôi (bò, dê), hỗ trợ trồng cỏ
• Đa dạng hoá sx, chuyển đổi cơ cấu cây trồng/vật nuôi
• Xây dựng mô hình làm ăn giỏi, giúp địa phương có hướng đi đúng
• Qui hoạch tạo vùng sx hàng hoá, cây CN (chè, đậu tương..)
• Giúp người dân tiêu thụ sản phẩm, cung cấp thông tin về thị trường
• Mở các dịch vụ vật tư NN tại xã

Biểu hiện:
Qua phỏng vấn, các biểu hiện sau được tất cả các nhóm nêu lên:  
Cơ sở hạ tầng được cải thiện cơ bản
:
 100% các xã có đường ô tô vào đến trung tâm, 
nhiều thôn có đường ô tô tạo điều kiện cho bà con giao lưu với bên ngoài; hàng trăm 
km kênh mương bê tông được xây dựng cải thiệ
n cơ bản tình hình tưới tiêu, tăng vụ 
(ở những vùng trồng lúa), hàng trăm trường học, trạm y tế, trụ sở UBND mới được 
xây khang trang 2 tầng, nhiều nơi có điện l
ưới quốc gia.v.v.  

Theo Báo cáo 2002 của UBND tỉnh

đến cuối 2002 Hà Giang đã xây được:
• 114 trụ sở UBND xã 2 tầng;  
• 890 trụ sở thôn/bản;  
• 90 trạm xá 2 tầng;  
• 285 trường học 2 tầng; 890 điểm trường thôn/bản; 66 nhà lưu trú cho giáo viên 
và học sinh;  
• 360,7 km đường bê tông nông thôn;  
• 565,6 km kênh mương bê tông;  
• điện lưới quốc gia đã về tới 140/191 xã phường, 45% dân được sử dụng điện 
lưới. 

Sản xuất phát triển
:

năng suất cây trồng (như lúa, ngô) tăng hơn so với trước, dân có 
nhiều lương thực để ăn; chăn nuôi được nhiều gia súc, gia cầm hơn trước, thu nhập từ 

cả người nghèo, được nâng cao hơn trước (họ được xem TV, nghe đài, được nghe cán 
bộ thôn phổ biến các kiến thức KHKT mới), phụ n
ữ đẻ ít hơn, trẻ em được chăm sóc 
tốt hơn... Tình trạng các hộ nghèo chỉ có 1‐2 con ở Hà Giang là khá phổ biến, kể cả đối 
với các hộ người Dao và HMông. 
 
Các dịch vụ xã hội cơ bản như

giáo dục và y tế
 được cải thiện rõ ràng về cả số lượng 
và chất lượng: tỉ lệ trẻ được đi học tăng cao (trong độ tuổi 6‐14 là trên 96%), tỉ lệ người 
mù chữ giảm; sức khoẻ của người
 dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em khá hơn do được 
hưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí, do tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ và 
KHHGĐ... Các xã vùng cao nghèo (như Sảng Tủng 
và Thài Phìn Tủng) trước kia có tỉ 
lệ mù chữ rất cao (có xã chỉ có ông Chủ tịch HĐND biết chữ) nay đang phấn đấu phổ 
cập cấp 1, các xã vùng thấp thuận lợi (nh
ư Thuận Hoà và Cao Bồ) đang phấn đấu phổ 
cập cấp 2. Người dân mỗi khi đau ốm/sinh nở ra trạm y tế xã khám lấy thuốc, nếu 
bệnh nặng hơn thì đi bệnh việ
n tuyến trên được chữa bệnh miễn phí. Công tác tuyên 
truyền DSKHHGĐ được đẩy mạnh, tỉ lệ tăng dân số giảm (năm 2002 là 1,8%); hầu 
như không còn bệnh sốt rét. 
 
Tệ nạn xã hội giảm
:
 cán bộ và người dân địa phương ở những nơi nhóm nghiên cứu 
đến đều phản ánh tệ nạn xã hội như trộm cắp, trồng cây và hút thuốc phiện, mại dâm, 
tiêm chích ma tuý, nhi

 (trung ương và địa phương) và quốc tế thông qua các chủ 
trương chính sách hỗ trợ người nghèo, các dự án/chương trình được triển khai như: 
Xây  dựng  cơ  sở  hạ  tầng  (CT  135,  Giao  thông  nông  thôn,  HPM);  Tậ
p  huấn,  tuyên 
truyền  KHKT;  Trợ  giá  giống  cây/con;  Hỗ  trợ  hộ  nghèo  nuôi  dê;  Cho  vay  vốn ưu 

Trích đoạn Cải   cách   hành   chính   công   Ph ụ  lục   2:   Những   thuận   lợi   và   khó   khăn  
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status