Báo cáo "Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và vấn đề áp dụng chế định này trong thực tiễn " potx - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 31 TS. Phạm Hồng Hải *
uật hình sự là bộ phận hợp thành hệ
thống pháp luật nớc ta, có chức năng
điều chỉnh các quan hệ x hội giữa một bên là
ngời phạm tội và bên kia là Nhà nớc. Để
thực hiện chức năng điều chỉnh đó, luật hình
sự quy định tội phạm và hình phạt và kèm
theo chúng là các chế định khác trong đó có
chế định trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hình sự là dạng trách nhiệm pháp lí do ngời
phạm tội phải chịu trớc Nhà nớc. Nhà nớc
là chủ thể duy nhất có quyền thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời
phạm tội thông qua các biện pháp cỡng chế
nh khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và các
biện pháp t pháp hình sự khác đợc áp dụng
đối với ngời phạm tội. áp dụng các biện
pháp nêu trên với ngời phạm tội là thể hiện
tính nghiêm khắc của luật hình sự so với các
ngành luật khác. Nó phù hợp với một trong
những nguyên tắc rất quan trọng của luật hình
sự nớc ta là không một hành vi phạm tội nào

trách nhiệm hình sự thể hiện ở chỗ lẽ ra ngời
phạm tội phải bị Nhà nớc truy cứu trách
nhiệm hình sự nhng vì những lí do chủ quan
nào đó từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật
mà tội phạm, ngời phạm tội đ không bị
phát hiện và khi tội phạm, ngời phạm tội bị
phát hiện thì đ qua thời hạn coi là thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm
đó. Quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự xuất phát từ quan niệm cho rằng, vì
những nguyên nhân, mục đích, động cơ nào
L

* Viện nghiên cứu nhà nớc và pháp luật nghiên cứu - trao đổi
32 - Tạp chí luật học

đó mà một ngời đ thực hiện hành vi phạm
tội nhng trong khoảng thời gian nhất định
sau khi đ phạm tội, họ không phạm tội mới,
đ ăn năn hối cải thậm chí trở thành ngời
tốt, có ích, có uy tín trong x hội. Đối với
những ngời này không cần bắt họ phải chịu
trách nhiệm hình sự trớc Nhà nớc bởi lẽ
chính bản thân họ đ tự giáo dục và cải tạo
tốt.
Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ đợc áp dụng đối với những tội

c) Mời lăm năm đối với các tội phạm
nghiêm trọng.
Nếu trong thời hạn nói trên ngời phạm
tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định hình
phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đ
qua không đợc tính và thời hiệu đối với tội
cũ đợc tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn nói trên, ngời phạm
tội cố tình trốn tránh và đ có lệnh truy n
thì thời gian trốn tránh không đợc tính; thời
hiệu tính lại kể từ khi ngời đó ra tự thú hoặc
bị bắt giữ.
Đối với trờng hợp nói ở điểm c khoản 1
Điều này nếu có lí do đặc biệt thì VKSNDTC
vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự và
TANDTC có thể quyết định không áp dụng
thời hiệu".
Trong thời gian qua, cùng với sự phát
triển của luật hình sự nói chung và chế định
phân loại tội phạm nói riêng, chế định về thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ có
những thay đổi lớn. Điều 23 BLHS năm 1999
quy định:
1. "Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi
hết thời hạn đó thì ngời phạm tội không bị
truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
đợc quy định nh sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít

BLHS năm 1999 có bốn loại thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự phù hợp với bốn loại
tội phạm và thời hiệu dài nhất lên tới hai
mơi năm. Trớc đây, theo quy định của
BLHS năm 1985 thì việc không áp dụng thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc thẩm
quyền của VKSNDTC và TANDTC và các tội
phạm có thể không đợc áp dụng thời hiệu
bao gồm tất cả các loại tội phạm có mức hình
phạt cao nhất quy định trong luật từ trên năm
năm tù trở lên, nay theo quy định của BLHS
năm 1999 không áp dụng thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự đợc coi là chế định độc
lập của luật hình sự và đợc quy định tại một
điều luật trong Bộ luật (Điều 24). Theo quy
định của Điều này thì chỉ các tội phạm quy
định tại Chơng XI và Chơng XXIV của
BLHS (các tội xâm phạm an ninh quốc gia và
các tội phá hoại hoà bình, chống loài ngời và
tội phạm chiến tranh) mới không áp dụng thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn các tội
phạm nằm ngoài hai chơng nói trên mặc dù
là rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
cũng vẫn đợc áp dụng chế định thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự. So với quy định
về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy
định tại Điều 45 BLHS năm 1985 thì quy
định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và không áp dụng thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự tại Điều 23 và 24 BLHS năm

hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một
trong những căn cứ không đợc khởi tố vụ án
hình sự. Nếu một ngời bị khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử nhng tới thời điểm phát hiện
thấy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
đ hết thì phải đình chỉ điều tra (nếu tố tụng
hình sự đang ở giai đoạn điều tra) hoặc đình
chỉ vụ án (nếu tố tụng hình sự đang ở trong
giai đoạn truy tố hoặc xét xử). Hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự còn là căn cứ để
cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố
tụng có thẩm quyền không đợc ra quyết định
kháng nghị tái thẩm theo hớng tăng nặng
đối với ngời phạm tội.
Hiện nay trong luật hình sự cũng nh
Luật tố tụng hình sự của nớc ta cha có điều
luật nào quy định về trách nhiệm hoặc hậu
quả pháp lí của ngời đ phạm tội nhng
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ hết.
Lẽ đơng nhiên, ai cũng hiểu là trong trờng
hợp này họ không phải chịu trách nhiệm hình
sự, thế nhng vấn đề đặt ra là việc họ không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự có giải phóng
họ khỏi các trách nhiệm khác không, thí dụ
trách nhiệm bồi thờng thiệt hại ngoài hợp
đồng, trách nhiệm công khai xin lỗi ngời bị
hại hoặc trách nhiệm khôi phục lại những
quan hệ x hội mà hành vi phạm tội của họ
trớc đây đ xâm hại? Thí dụ, một ngời

ngời đ phạm tội nhng không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự bởi thời hiệu đ hết vẫn
phải chịu các loại trách nhiệm pháp lí khác
nếu có. Xuất phát từ thực tiễn là những vấn đề
dân sự thờng đợc giải quyết ngay trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự và trách nhiệm
hình sự là loại trách nhiệm pháp lí nặng nề
nhất nên có ngời cho rằng khi hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự, Nhà nớc đ
"giải phóng" ngời phạm tội khỏi trách nhiệm
hình sự thì cũng có nghĩa là "giải phóng" họ
khỏi các trách nhiệm pháp lí khác. Chúng tôi
không đồng tình với quan niệm trên đây.
Nh tất cả mọi ngời đều thừa nhận, quan
hệ pháp luật hình sự là loại quan hệ rất hẹp
giữa hai chủ thể: Một bên là ngời phạm tội
và bên kia là Nhà nớc. Trách nhiệm hình sự
là trách nhiệm của ngời phạm tội phải chịu nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 35

trớc Nhà nớc. Khi hành vi phạm tội đợc
thực hiện, nó không chỉ làm phát sinh trách
nhiệm hình sự của ngời phạm tội trớc Nhà
nớc mà còn làm phát sinh nhiều loại trách
nhiệm của ngời này trớc các chủ thể khác
nhau nh công dân, tổ chức, tập thể Khi
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ hết,

không lẩn trốn. Thí dụ, tháng bảy năm 1981
A phạm tội giết ngời theo khoản 1 Điều 101
BLHS năm 1985 và cùng thời gian đó B cũng
phạm tội giết ngời tơng tự. Năm năm sau
khi phạm tội, B ra tự thú và bị xét xử với mức
án chung thân kèm theo hình phạt bổ sung là
quản chế ba năm và bồi thờng thiệt hại.
Do đợc giảm thời hạn chấp hành hình
phạt, tháng bảy năm 2001 B đợc trả tự do.
Theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 65
BLHS năm 1999 thì 13 năm sau (tức tới năm
2014) B mới có thể đợc xoá án tích.
Trong khi đó, khi A không bị phát hiện
thì theo quy định về thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự trong BLHS năm1999, đến
tháng 7/2001 thời hiệu đ hết và A ung dung
nh ngời không có tội, không mang án tích
và theo các quy định hiện hành thì A có tất cả
các quyền lợi nh công dân bình thờng. Nh
vậy, nếu kèm theo chế định về thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự không có các quy
định khác phù hợp thì trong thực tế áp dụng
pháp luật sẽ nảy sinh nhiều điểm bất hợp lí, vi
phạm nguyên tắc công bằng và đôi khi tạo ra
kẽ hở pháp luật cho những kẻ xấu lách luật.
Điều 139 BLTTHS quy định hai căn cứ để
cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều
tra là có một trong những căn cứ không đợc
khởi tố vụ án hình sự (trong đó có tình tiết
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đ hết)

Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi cho
rằng có thể coi hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự nh một căn cứ không khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố bị can nhng không thể
coi đây là căn cứ để không tiến hành điều tra
hoặc căn cứ đình chỉ điều tra nh quy định
trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành./.

Góp ý cho Dự thảo Tiếp theo trang 7
Chủ tịch nớc, Thủ tớng Chính phủ, bộ
trởng, chánh án Toà án nhân dân tối cao,
viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nh vậy thì có thể ngăn chặn và giảm bớt sự
tham quyền, phát huy cao độ năng lực của
cán bộ trong hoạt động của Nhà nớc, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động và mức độ
hoàn thiện của bộ máy nhà nớc.
Trong tơng lai, để bảo đảm cho mỗi
ngời có đủ thời gian, sức lực và trí tuệ để
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì Hiến
pháp sửa đổi nên quy định rõ là không ai có
thể vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là bộ trởng
hoặc thẩm phán cùng một lúc. Nếu quy định
nh vậy thì Thủ tớng, các thành viên khác
của Chính phủ cũng nh các thẩm phán đều
không phải làm thêm nhiệm vụ đại biểu Quốc
hội giúp họ tránh đợc tình trạng quá tải vì
công việc và trách nhiệm, vì thế, họ sẽ có đủ
điều kiện để thực hiện tốt thẩm quyền của
mình. Nhờ đó có thể tránh đợc tình trạng
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc - 37


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status