hệ thống quan niệm, định nghĩa có giá trị tham khảo trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân - Pdf 26

Tóm tắt công trình
Phần I - lời mở đầu.......................................................................3
phần ii - giảI quyết vấn đề
I - mục tiêu công trình..............................................................................4
Ii - phơng pháp nghiên cứu:...................................................................4
1-phơng pháp phân tích và tổng hợp............................................................4
2-phơng pháp so sánh...........................................................................................5
3-sự kết hợp giữa các phơng pháp..................................................................
Chơng i-cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân
i-cơ sở lý luận:..........................................................................................6
a-một số kháI niệm:.................................................................................................6
1-trách nhiệm hình sự:........................................................................................6
2-trách nhiệm hình sự của pháp nhân:......................................................11
2.1-pháp nhân.......................................................................................................11
2.2-trách nhiệm hình sự của pháp nhân................................................12
b-cơ sở lý luận:.......................................................................................................12
ii-mặt thực tiễn:........................................................................................14
iii-mặt pháp luật:.......................................................................................16
chơng ii-trách nhiệm hình sự của pháp nhân các
nớc trên thế giới
i-trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự
các nớc theo truyền thống common law
1-lịch sử vấn đề:.....................................................................................................18
2-phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân:.................22
3-các tội phạm có thể quy kết cho pháp nhân:...................................23
4-các điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp
nhân:.............................................................................................................25
5-hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội:...............................30
6-kết luận:................................................................................................................30
1

TNHS của pháp nhân rất sớm và hiện nay chế định TNHS của pháp nhân đã đợc
thiết lập và trở thành một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự mỗi nớc. Tuy nhiên
các cơ sở lý thuyết và cách thức thừa nhận, thiết lập nguyên tắc này cũng có sự khác
nhau ở mỗi quốc gia theo truyền thống pháp luật này.
Trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự sửa đổi của nớc ta hiện nay đã
xuất hiện một vấn đề gây nhiều tranh cãi: Có nên quy định pháp nhân là chủ thể
của tội phạm hay không? Hay nói cách khác là các biện pháp pháp lý hình sự có
thể đợc áp dụng với pháp nhân hay không?
Có thể nói vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn đề rất mới
không chỉ trong thực tiễn pháp lý mà còn cả trong khoa học pháp lý nớc ta. Do đó,
không thể kết luận một cách đơn giản rằng: nên hay không nên quy định nếu
những kết luận đó cha đợc hậu thuẫn bằng những luận điểm khoa học.
Với trình độ hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận đợc sự nhận xét của
các thầy cô và các bạn để em có thể tiến bộ hơn.
Phần ii-GiảI quyết vấn đề
i-Mục tiêu công trình
Nh chúng ta đã biết, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn
đề rất mới trong việc áp dụng Luật hình sự của nớc ta hiện nay. Vì vậy khi tiến
hành nghiên cứu vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thì mục tiêu trớc hết đ-
ợc đặt ra là mục tiêu nhận thức.
Qua việc đặt vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, tôi đã đi sâu phân
tích các quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự và quan trọng hơn
là có thể đa ra quan điểm về vấn đề trách nhiệm hình sự. Mục tiêu thứ hai là có thể
nêu ra những luận cứ pháp lý và thực tiễn cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự
của pháp nhân đồng thời tìm hiểu về vấn đề quy định trách nhiệm hình sự của
pháp nhân của một số nớc trên thế giới.
Mục tiêu quan trọng nhất trong đề tài này là góp mộy ý kiến cho các nhà
làm luật trong quá trình sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự Việt Nam trong thời gian
gần nhất. Những vấn đề đợc trình bày và kết luận trong đề tài là hệ thống quan
niệm, định nghĩa có giá trị tham khảo trong việc quy định truy cứu trách nhiệm

cho pháp nhân, các điều kiện áp dụng TNHS đối với pháp nhân, và đặc biệt là hình
phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội. áp dụng phơng pháp so sánh để nghiên
cứu đã cho phép em phát hiện ra những điểm giống nhau và khác nhau của các
hiện tợng liên quan tới vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã và đang tồn
tại trong lịch sử, đồng thời phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự đồng nhất và
dị biệt đó.
Nhờ phơng pháp so sánh hệ thống tri thức về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân các nớc trên thế giới mới có đợc tính khách quan và khoa học.
3-Sự kết hợp giữa các phơng pháp
Khi nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân tôi có sử dụng
kết hợp những phơng pháp chung là phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử với những phơng pháp riêng (phơng pháp so sánh, phơng pháp phân tích và
tổng hợp). Không thể sử dụng một trong hai nhóm phơng pháp đó, hoặc sử dụng
4
chúng một cách tách biệt nhau. Những phơng pháp chung là cơ sở, nhng những
phơng pháp riêng lại thể hiện tính đặc thù của khoa học lý luận về Luật hình sự.
Mỗi phơng pháp riêng đợc sử dụng để nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân chỉ có thể mang lại kết quả tốt khi nó đợc sử dụng cùng phơng pháp biện
chứng duy vật, với t cách là một trong những hình thức cụ thể hoá của nó và đợc
phát triển trong sự nhận thức khoa học.CHƯƠNG I
5
Cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
I- Cơ sở lý luận
A- Một số khái niệm
1-Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một trong những thuật ngữ đợc dùng phổ biến trong
sách báo pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, cho đến nay

chấp hành hình phạt.
Một số nhà luật hình sự học khác lại cho rằng án tích là một phần của trách
nhiệm hình sự. Do vậy, thời điểm kết thúc của trách nhiệm hình sự là thời điểm
một ngời đợc xoá án tích.
6
1.3. ở Việt Nam, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự
cũng có những ý kiến khác nhau nh:
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của một ngời đã thực hiện một tội
phạm, phải chịu biện pháp cỡng chế của nhà nớc là hình phạt của ngời phạm tội
của họ.
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của viêc phạm tội, thể hiện ở chỗ
ngời đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm trớc hành vi của mình trớc nhà nớc;
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của ngời khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội đợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do
toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ngời
đó thực hiện;
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của ngời phạm tội phải chịu những hậu
quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình....bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự
tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện
pháp cỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp t pháp) và chịu mang
án tích;
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và đợc
thể hiện bằng việc áp dụng đối với ngời phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cỡng
chế của nhà nớc do luật hình sự quy định;
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá
nhân ngời phạm tội phải gánh chịu trớc nhà nớc về hành vi phạm tội của mình và
đợc thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cỡng chế hình sự khác theo quy
định của bộ luật hình sự.
1.4. Trong số các biện pháp cỡng chế của nhà nớc có tính chất pháp lý hình
sự áp dụng đối với ngời phạm tội thì hình phạt là biện pháp cỡng chế chủ yếu. Tuy

phát sinh từ sự vi phạm pháp luật và chính là hậu quả của nó trong tình trạng bị c-
ỡng chế Trách nhiệm - đó là nghĩa vụ đã đ ợc thực hiện bằng sự cỡng chế. Nghĩa
vụ thì có thể đợc thực hiện hoặc không đợc thực hiện, nhng khi đã bắt đầu trách
nhiệm, nghĩa là khi bộ máy bộ máy cỡng chế đã đi vào hoạt động thì ngời có trách
nhiệm không đợc lựa chọn. Ngời đó không thể không thực hiện hành vi của mình
tạo thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện.
1.6. Chúng ta cũng không nên đồng ý với quan điểm cho rằng trách nhiệm
hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật hình
sự, phát sinh từ việc thực hiện tội phạm và đợc thực hiện từ khi truy cứu trách
nhiệm hình sự. Quan điểm này vô hình chung đã đồng nhất trách nhiệm hình sự
với quan hệ pháp luật hình sự. Thực chất, quan hệ pháp luật hình sự và trách
nhiệm hình sự là khác nhau. Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh từ thời điểm một
ngời thực hiện tội phạm. Từ thời điểm một ngời thực hiện tội phạm, giữa nhà nớc
và ngời thực hiện tội phạm phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định. Khi đó
ngời phạm tội bắt đầu có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự trớc nhà nớc về
hành vi phạm tội của mình và nhà nớc có quyền áp dụng các biện pháp cỡng chế,
buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhng nghĩa vụ phải chịu trách
nhiệm hình sự của ngời phạm tội sẽ không trở thành trách nhiệm hình sự thực tế
nếu tội phạm không bị phát hiện, nếu tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc ngời phạm tội đợc miễn trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hình sự không phải tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan hệ
pháp luật hình sự mà chính là hậu quả bất lợi mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà
nớc do ngời đó thực hiện tội phạm. Việc tách khái niệm thực hiện trách nhiệm
hình sự với khái niệm trách nhiệm hình sự thì có thể đợc nhng nếu chỉ coi trách
nhiệm hình sự nh nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi trớc nhà nớc thì không phù
hợp.
1.7. Chúng ta cũng không nên cho rằng trách nhiệm hình sự là hậu quả của
việc phạm tội, thể hiện ở các biện pháp cỡng chế nhà nớc và bắt đầu từ khi truy
cứu trách nhiệm hình sự. Đúng là từ thời điểm khởi tố bị can, nghĩa là từ thời điểm
bắt đầu của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngời, các cơ quan

do đã xác định đợc ngời đó phạm tội hay không mà là ở chỗ có căn cứ chứng tỏ
nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì ngời đó có thể gây khó khăn cho
việc điều tra truy tố xét xử hoặc có thể phạm tội Một ng ời đã bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn vẫn có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định đợc
là có các điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự. Ngợc lại, một ngời có thể không
bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhng vẫn có thể phi chịu trách nhiệm hình sự
nếu bản án kết tội ngời đó có hiệu lực pháp luật. Các biện pháp ngăn chặn là một
phạm trù tố tụng thuần tuý, có ý nghĩa phòng ngừa.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp ngăn chặn đợc áp
dụng trớc khi có bản án kết tội của toà án không có ảnh hởng gì đến trách nhiệm
hình sự mà ngời phạm tội phi chịu sau đó. Một số biện pháp ngăn chặn áp dụng
đối với ngời phạm tội sau đó có thể chuyển thành bộ phận cấu thành của trách
nhiệm hình sự khi ngời đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đó bị toà án kết
án bằng bản án kết tội có kèm theo việc quyết định một số loại hình phạt nào đó.
Theo diều 31 BLHS, nếu ngời bị kết án cải tạo không giam giữ đã bị tạm giữ tạm
9
giam trớc khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian tạm giữ
tạm giam đợc trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Còn điều 33
BLHS, nếu ngời bị kết án phạt tù có thời hạn đã bị tạm giữ tạm giam trớc khi chấp
hành hình phạt tù có thời hạn đã bị tam giữ, tạm giam trớc khi chấp hành hình phạt
tù thì thời hạn tạm giữ, tạm giam đợc trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ
một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù. Nh vậy, khi ngời phạm tội bị toà
án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ tạm
giam đã áp dụng đối với ngời phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có
thời hạn đợc chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt,
nghĩa là một bộ phận cấu thành của trách nhiệm hình sự.
Cũng giống nh các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp t pháp cũng có thể
đợc áp dụng đối với ngời phạm tội trớc khi có bản án kết tội của toà án có hiệu lực
pháp luật nhng chúng không phải là biện pháp để thực hiện trách nhiệm hình sự.

10
cáo, phạt tiền. Nhng cảnh cáo, phạt tiền, với t cách là hình thức xử phạt vi phạm
hành chính ở chỗ ngời bị cảnh cáo, phạt tiền với t cách là hình phạt hình sự luôn
gắn với hậu quả là ngời đó bị coi là có án tích. án tích chỉ có thể đợc xoá khi đáp
ứng những điều kiện do luật định (từ điều 63 đến điều 67 BLHS). án tích gắn liền
với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của toà án. Một ngời bị coi là còn án
tích nghĩa là bản án kết tội đối với ngới đó vẫn còn hiệu lực pháp luật.án tích cha
đợc xoá có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một ngời đã chấp hành xong
hình phạt quyết định đối với ngời đó. Trong trờng hợp một ngời cha đợc xoá án
tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng ảnh hởng trực tiếp
đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của ngời đó. Ngời cha đợc xoá án
tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49
BLHS) và gắn với nó là việc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn
những ngời không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện không giống nhau.
Trên cơ sở các phân tích trên chúng ta có thể đa ra định nghĩa khoa học về
trách nhiệm hình sự nh sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực
hiện tội phạm mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà nớc, thể hiện ở bản án kết tội
của toà án, cũng nh hình phạt mà toà án tuyên. Hay nói cách khác, trách nhiệm
hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà ngời phạm tội phải chịu trớc nhà nớc. Chịu
sự tác động của hoạt động điều tra, mà hình phạt là biểu hiện cụ thể nhất. Trách
nhiệm hình sự thể hiện nội dung trong quan hệ cá nhân ngời phạm tội với nhà nớc
phản ánh trong quyết định của toà án.
2- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
2.1- Pháp nhân
Trớc khi làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân chúng ta cần
làm rõ khái niệm pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp
pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình nhân danh mình
tham gia vào các quan hệ một cách độc lập.
Nh vậy các dấu hiệu của pháp nhân có thể nói tới là: Sự tồn tại độc lập của
pháp nhân mà không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó.

lịch sử. Tội phạm là một trong các loại vi phạm pháp luật nên nó cũng có những
tính chất nh vậy. Việc quy định hành vi nào là tội phạm, ai là chủ thể của tội phạm
phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội. Tuy nhiên trong mọi lĩnh
vực, ý chí của giai cấp thống trị không phải là bất biến mà ngợc lại, nó cũng thay
đổi theo tiến trình phát triển của xã hội. Vào thời kì này, Nhà nớc coi hành vi này
là tội phạm, những ngời này là chủ thể của tội phạm nhng vào thời kì khác do
những điều kiện lịch sử cụ thể chi phối, nhà nớc có thể thay đổi những quy định
của mình về tội phạm. Đây chính là biểu hiện của tính lịch sử của tội phạm.
Xuất phát từ tính giai cấp và tính lịch sử của tội phạm nên việc quốc gia nào
đó có sự thay đổi về quan niệm cũng nh các quy định về chủ thể của tội phạm
cũng là điều dễ hiểu, cũng chính vì thế không thể vội vàng nhận xét luật hình sự
của nớc này không khoa học khi nó quy định hay không quy định pháp nhân là
chủ thể của tội phạm. Trong trờng hợp này, điều cần đánh giá là vào thời điểm
nào đó khi luật hình sự quy định hay không quy định pháp nhân là chủ thể của tội
phạm có phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể hay không.
1- Có thể nói vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn đề rất mới
không chỉ trong thực tiễn pháp lý mà còn cả trong khoa học pháp lý nớc ta. Không
tán thành cách đặt vấn đề về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhiều nhà khoa
học đã lên tiếng cho rằng pháp nhân cha bao giờ và không bao giờ là chủ thể của
luật hình sự. Xuất phát từ những điều kiện cụ thể khác nhau (về kinh tế xã hội,
pháp luật, văn hoá lịch sử ) trong giai đoạn phát triển hiện nay của xã hội Việt
Nam thì vấn đề TNHS của pháp nhân cũng cha cần cấp bách phải ghi nhận trong
luật hình sự Việt Nam. Họ đa ra cơ sở lý luận sau:
1.1-Thông thờng lỗi trong luật hình sự theo cách hiểu truyền thống và từ tr-
ớc đến nay vẫn là ý kiến phổ biến và đợc thừa nhận chung trong khoa học luật
hình sự về cơ bản vẫn chỉ đợc coi là lỗi của cá nhân ngời phạm tội thái độ tâm lý
12
của ngơì đó đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và hậu quả
do hành vi đó gây ra. Còn pháp nhân là do con ngời lập ra và hoạt động của nó chỉ
có thể đợc thực hiện thông qua những con ngời cụ thể nên pháp nhân không thể và

thuế với số lợng nhỏ thì sẽ bị xử lý hành chính. Song nếu pháp nhân đó đã bị xử lý
hành chính một lần hoặc trốn thuế với số lợng lớn thì có bị truy cứu trách nhiệm
hình sự hay không? Điều 169 BLHS cuả nớc ta quy định loại hành vi này là tội
phạm. Rõ ràng ở đây cũng là một loại hành vi trốn thuế song pháp luật nớc ta có
sự phân biệt đối tợng phải chịu trách nhiệm hình sự, trong pháp luật hành chính là
pháp nhân còn trong pháp luật hình sự lại là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi
trốn thuế đó tức là cá nhân.
2.3- Một cơ sở nữa là, do ngời đại diện pháp nhân thực hiện tội pham vì lợi
ích của nó, để đảm bảo nguyên tắc công minh của pháp luật nói chung và pháp
13
luật hình sự nói riêng nên trong trờng hợp này theo nguyên tắc không tránh khỏi
trách nhiệm thì pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm với ngời đại diện đã phạm
tội của mình. Lẽ đơng nhiên nếu nh ai thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên
mà không nhận thức đợc tính trái pháp luật của cấp trên thì không phải chịu trách
nhiệm mà pháp nhân đó phải đứng ra chịu trách nhiệm.
2.4- Khi ngời đại diện của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ hoặc nghĩa vụ của
pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ đợc coi là ý chí, hành vi của pháp nhân nhng
điều đó không nhất thiết là ngời đại diện của pháp nhân phạm tội (vì lợi ích của
pháp nhân) bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì pháp nhân cũng phải chịu bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nhất là khi trong PLHS có các biện pháp cỡng chế về
hình sự có thể áp dụng đợc cho thể nhân thì cũng có thể đợc áp dụng cho pháp
nhân nh phạt tiền và một số hình phạt khác sẽ nói đến ở phần sau.
2.5- Mặc dù pháp nhân là thực thể trừu tợng nhng nó đợc con ngời lập ra và
hành vi khách quan của nó chỉ có thể đợc thực hiện thông qua những con ngời cụ
thể. Những ngời đó hoặc là chỉ huy hoặc là lãnh đạo hoặc là đại diện của pháp
nhân. Khi những ngời này thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ cuả pháp nhân thì ý
chí và hành vi của họ đợc coi là ý chí và hành vi của pháp nhân. Trong điều kiện
hiện nay, các hoạt động của xã hội về cơ bản là hoạt động mang tính kinh tế do
các cá nhân hoặc pháp nhân thực hiên. Các vi phạm và tội phạm kinh tế hoặc là do
cá nhân hoặc do pháp nhân thực hiện, vì vậy nếu không coi pháp nhân là chủ thể

2. Để phản biện lại quan điểm trên vấn đề truy cứu TNHS của pháp nhân
dựa trên các cơ sở thực tiễn sau:
a) Có thể nói hiện nay ở nớc ta không chỉ tồn tại hiện tợng phạm tội có tổ
chức mà còn tồn tại các tổ chức phạm tội. Các tổ chức này đợc núp dới nhiều danh
nghĩa khác nhau nh các doang nghiệp, các hội có thu nhập chính từ các hoạt
động phạm tội và các vi phạm pháp luật khác. Các thành viên của tổ chức có sự
liên kết chặt chẽ và hoạt động một cách thống nhất. Nếu chỉ áp dụng nguyên tắc
trách nhiệm hình sự của cá nhân thì chúng ta chỉ đấu tranh đợc với từng thành viên
trong tổ chức phạm tội. Ngoài tịch thu tài sản của ngời phạm tội, chúng ta cũng
khó có khả năng tịch thu đợc các tài sản của tổ chức do thực hiện tội phạm mà có.
Kinh nghiệm đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nớc ngoài đã cho thấy, đối với
các tổ chức tội phạm cần phải tập trung đấu tranh không chỉ với ngời thực hiện tội
phạm mà còn cả cho nguồn nuôi dỡngcho sự hoạt động của các tổ chức phạm
tội này
b) Nếu đa ra so sánh nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay với các nớc phát
triển thì rõ ràng có sự phát triển chậm hơn. Nhng chính vì chúng ta đi sau và lại
chịu sự tác động của bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ nh hiện nay thì việc các pháp
nhân phạm tội là hoàn toàn có thể xảy ra. Nhất là khi chúng ta đã ra nhập WTO thì
việc ghi nhận chế định này sẽ có ý nghĩa quan trọng về mặt đối ngoại, vì nó cho
thấy nhà nớc Việt Nam thực sự tôn trong khuôn khổ pháp lý quốc tế. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi hệ thống tài chính - ngân hàng của chúng ta cha
mạnh thì các hoạt động rửa tiền sẽ ngày càng trở nên phổ biến và do đó công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
c) So với một số quốc gia khác mà ở đó pháp luật hình sự coi pháp nhân là
chủ thể của tội phạm thì nhịp độ phát triển kinh tế của nớc ta cha cao. Tuy nhiên
trong những năm gần đây, trong số các tội phạm kinh tế có không ít các tội phạm
do pháp nhân thực hiện. Báo cáo của ngành thuế hàng năm cho thấy, mỗi năm
nhà nớc thất thu hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế mà nguyên nhân của tình trạng này
là do các cơ sở sản xuất kinh doanh cả của quốc doanh và ngoài quốc doanh trốn
thuế. Báo cáo của ngành quản lý thị trờng cũng chỉ ra tình trạng kinh doanh trái

quyết của tập thể thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn một tập thể ngời đợc h-
ởng lợi ích từ hành vi phạm tội lại vô can. Trong luật hình sự (mặc dù cha có điều
luật nào trong BLHS nớc ta quy định) ngời ta vẫn thừa nhận thi hành mệnh lệnh
cấp trên trong những trờng hợp không nhận thức đợc đó là mệnh lệnh trái pháp
luật đợc coi là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm của hành vi. Trong vụ việc nêu trên
chắc chắn không ít ngời không thể nhận thức đợc các nghị quyết của Đảng uỷ, Hội
đồng nhân dân, Đại hội xã viên là sai trái và vì vậy họ phải đợc loại khỏi phạm vi
những ngời bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, dù thế nào chăng nữa, các
tổ chức đã có nghị quyết sai trái và nghị quyết đó đã đợc rhực hiện trên thực tế
thông qua hành vi của những ngời đại diện thì tổ chức ấy không thể không chịu
trách nhiệm .Trong trờng hợp nêu trên, những ngời đợc tập thể uỷ quyền đã rơi
vào hoàn cảnh khó xử, nếu thực hiện sự uỷ quyền của tập thể họ trở thành tội
phạm, còn nếu không thực hiện họ đã vi phạm điều lệ của tổ chức và có thể bị kỉ
luật. Và rõ ràng nh vậy là điều không công bằng này cần phải đợc khắc phục.
III. Mặt pháp luật
1. Để cho rằng không nên đa chế định TNHS của pháp nhân vào luật hình
sự các nhà khoa học đa ra các cơ sở pháp luật sau:
a) Thể hiện tính kế thừa trong pháp luật hình sự của nớc ta hơn nửa thế kỷ
qua (từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay cha bao giờ coi pháp nhân là chủ thể
của tội phạm nên nhà làm luật trong lần thứ hai pháp điển hoá luật hình sự Việt
16
Nam đã không ghi nhận chế định TNHS của pháp nhân trong BLHS năm 1999
mới đợc thông qua.
b) BLHS năm 1999 (Điều 2) đã một cách dứt khoát khẳng định chủ thể của
TNHS chỉ có thể là cá nhân và chính vì thế việc coi pháp nhân là chủ thể của
TNHS là không cần phải đặt ra nữa. Vì họ cho rằng làm nh vậy sẽ làm phức tạp cơ
chế điều chỉnh của luật hình sự. Và không chỉ sửa đổi điều 2 mà còn phải xem xét
lại toàn bộ các quy phạm liên quan đến chế định TNHS nữa.
c) Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành có các chế tài pháp lý phi hình
sự đợc quy định bởi từng nghành luật tơng ứng (nh luật hành chính, dân sự, môi tr-

hỏi những diểm tiến bộ trong luật hình sự nớc ngoài và áp dụng một cách phù hợp
trong thực tiễn Việt Nam là một điều hợp lý.
17
Chơng II
trách nhiệm hình sự của pháp nhân các nớc
trên thế giới
i- trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự
các nớc theo truyền thống common law
1- Lịch sử vấn đề
1.1. ở nớc Anh, vào giữa thế kỉ 19 các công ty, tập đoàn kinh tế lớn đã đợc
thành lập và phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Vai trò của các
tổ chức này ngày càng lớn mạnh và nó đã khống chế các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội.
Chủ nghĩa t bản độc quyền hình thành, những khiếm khuyết của nền kinh tế
thị trờng bộc lộ sâu sắc. Lợi nhuận đã khiến các tổ chức kinh tế nói trên đa ra
quyết định và thực hiện nhiều vụ áp phe lớn mà hậu quả của nó là hàng loạt các
quan hệ xã hội quan trọng khác bị xâm phạm, các lợi ích căn bản của xã hội và
ngời tiêu dùng bị chà đạp, mà việc áp dụng các chế tài pháp lý của các ngành luật
nh luật hành chính, dân sự đã không đủ sức ngăn chặn. Bởi vậy xuất phát từ chính
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status