Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
Danh sách thành viên:
1. Lê Thúy Quỳnh
2. Nguyễn Thị Diệp
3. Lưu Thị Điệp
4. Trần Văn Dũng
5. Nguyễn Sỹ Khánh
6. Đào Ngọc Quỳnh
7. Nguyễn Thế Truyền
ĐH QTKD 4 - K2
1
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
MỤC LỤC
ĐH QTKD 4 - K2
2
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đã gia nhập WTO vào cuối năm 2006, điều này đã là cơ hội và
cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp nước nhà. Tính cạnh tranh trên thị
trường Việt Nam ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết. Các doanh nghiệp Việt Nam
không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiêp trong nước mà còn phải cạnh tranh
với hàng loạt các công ty nước ngoài nhảy vào thị trường Việt. Điều đó buộc các
doanh nghiệp Việt Nam phải có những phương cách khác nhau để tạo lợi thế cạnh
tranh cho Công ty mình. Và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ là một cách
được nhiều Công ty lựa chọn và đã thành công. Là một công ty hàng đầu trong
ngành chế tạo động cơ điện, Công ty chế tạo điện cơ Hà Nội đã tìm ra cho mình
một giải pháp để nâng cao chất lượng, giảm chi phí đó là áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng (QLCL) theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000. Để áp dụng thành công hệ
thống này thì công ty phải xây dựng cho mình một hệ thống tài liệu phản ánh được
thực tế công việc đang diễn ra tại công ty và phù hợp với tiêu chuẩn. Vậy ISO 9000
là gì? Có lợi ích gì? Xây dựng và áp dụng thế nào là tốt nhất?... Cùng với những
Chất lượng của sản phẩm hàng hóa được hiểu theo nhiều khuynh hướng khác
nhau:
- Khuynh hướng quản lý sản xuất: chất lượng của sản phẩm nào đó là mức độ
mà sản phẩm ấy thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay những
quy định riêng cho sản phẩm ấy.
- Khuynh hướng thỏa mãn nhu cầu: Theo quan điểm của tổ chức kiểm tra chất
lượng Châu Âu (OEQC - European Organisation for Quanlity Control) thì chất
lượng của một sản phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn
những nhu cầu của người sử dụng.
- Theo ISO 9000 thì chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có
đáp ứng các yêu cầu.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của chất lượng
Chất lượng có những đặc điểm cơ bản sau:
- Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể thể hiện khả năng thỏa mãn nhu
cầu.
ĐH QTKD 4 - K2
5
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
- Chất lượng phải là một tập hợp các đặc tính của thực thể thể hiện khả năng
thỏa mãn nhu cầu.
- Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu.
- Chất lượng sản phẩm chỉ được thể hiện và đánh giá đầy đủ khi tiêu dùng.
- Chất lượng sản phẩm là một khái niệm tương đối, biến đổi theo không gian và
thời gian, theo sự phát triển của nhu cầu xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Chất lượng là vấn đề được đặt ra với mọi trình độ sản xuất.
1.1.3. Yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
a. Một số yếu tố ở tầm vi mô
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị
bằng quy tắc 4M, đó là :
Con người:
liệu, năng
lương
Máy móc, thiết
bị, công nghệ
Phương pháp tổ
chức quản lý
Con người Chât lượng sản
phẩm
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
b. Yếu tố ở tầm vĩ mô.
Nhu cầu của nền kinh tế:
Chất lượng sản phẩm bao giờ cũng bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh,
điều kiện và nhu cầu của nền kinh tế, thể hiện ở các mặt.
- Nhu cầu thị trường: Nhu cầu của thị trường là xuất phát điểm của quá trình
quản lý chất lượng. Doanh nghiệp cần phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi
hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hoá nhu cầu của thị trường để có các chiến
lược và sách lược đúng đắn.
- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế ( tài nguyên,
tích luỹ, đầu tư…) và trình kỹ thuật ( chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹ
năng cần thiết) có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mức
chất lượng tối ưu hay không. Việc nâng cao cóât lượng không thể vượt ra ngoài khả
năng cho phép của nền kinh tế.
- Chính sách kinh tế: Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và
mức thoả mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt
ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi
phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của
nó vào sản xuất. Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là
3 quan điểm sản xuất và dựa trên nhu cầu người tiêu dùng. Song ở đây ta không
nghiên cứu chi tiết về chúng mà tổng quát lại, ta chỉ đưa ra khái niệm về QLCL.
Theo tiêu chuẩn quốc gia liên xô thì QLCL là việc xây dựng đảm bảo và duy
trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu
dùng.
ĐH QTKD 4 - K2
9
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
Theo tiêu chuẩn công nghiệp nhật bản thì QLCL là hệ thống phương pháp tạo
điều kiện sản xuất tiết kiệm những hàng hoá có chất lượng thoả mãn nhu cầu người
tiêu dùng .
Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO, một hệ thống tiếp thu sáng tạo các
luồng tư tưởng, kinh nghiệm thực hành hiện đại dựa trên cách tiếp nhận khoa học,
logic đã khái niệm như sau: QLCL là tập hợp những hoạt động của chức năng quản
lý chung, xác định chính sách chất lượng, mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng
thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo và cải tiến chất
lượng trong khuôn khổ của hệ thống chất lượng.
1.3. Những nguyên tắc quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng phải định hướng bởi khách hàng.
Khách hàng đề ra các yêu cầu về sản phẩm, chất lượng và giá cả sản phẩm.
Do đó, quản lý chất lượng phải hướng tới khách hàng và nhằm đáp ứng tốt nhất nhu
cầu khách hàng.
Coi trọng con người trong quản lý chất lượng.
Con người có vị trí quan trọng trong quá trình hình thành, đảm bảo, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Do đó, công tác quản lý chất lượng cần phát huy khả năng của
mọi thành viên trong đơn vị từ người lãnh đạo, người quản lý trung gian, đốc công
(giám thị), tới nhân công.
Quản lý chất lượng phải thực hiện toàn diện và đồng bộ.
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp của các lĩnh vực kinh tế, tổ chức, kỹ thuật,
xã hội,…liên quan đến các hoạt động nghiên cứu thị trường, xây dựng chính sách
Các quá trình này tồn tại cả bên trong và thường xuyên qua các bộ phân chức năng.
Để hệ thống chất lượng có hiệu lực cần xác định và triển khai áp dụng một cách
ĐH QTKD 4 - K2
11
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
nhất quán các quá trình, trách nhiệm, quyền hạn, thủ tục và nguồn lực kèm theo. Hệ
thống quản lý chất lượng phải phối hợp và làm tương thích các quá trình và xác
định các nơi tương giao.
1.5. Mối quan hệ giữa hệ thống Quản lý chất lượng và chất lượng sản
phẩm.
Cũng như quan niệm về chất lượng QLCL cũng như tiếp cận và thực hiện theo
những cách khác nhau, có xu hướng mở rộng và phát triển qua các thời kỳ lịch sử
khác nhau. Nó phụ thuộc vào quan điểm, sự phát triển về trình độ nhận thức và đặc
thù riêng của mỗi nền kinh tế. QLCL mà ngày nay đang được áp dụng trên thế giới
là kết quả của cả một quá trình chưa khép lại. Nó là thành quả, là sự đúc kết của quá
trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn không mệt mỏi của các chuyên gia và các
nhà khoa học về vấn đề chất lượng.
Sự thay đổi để tiến tới mô hình QLCL toàn diện QLCL toàn cầu là một cuộc
cách mạng về tư tưởng và hành động của các nhà Quản lý. Cách tiếp cận về QLCL
được phát triển dần dần bởi một quá trình hoạt động thực tế qua hàng loạt các kết
quả đật được trong suốt những năm dài của cuối thế kỷ qua.
1.6. Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.
1.6.1. Khái niệm
Tổ chức tiêu chuẩn hoá Quốc tế (International Organization for
Standardization- ISO) được thành lập năm 1947, trụ sở chính đặt tại Geneve, Thuỵ
sĩ. ISO có khoảng hơn 200 ban kỹ thuật có nhiệm vụ biên soạn và ban hành ra các
tiêu chuẩn. Cho đến nay, các ban kỹ thuật đã ban hành hơn 13.500 tiêu chuẩn bao
gồm các tiêu chuẩn kỹ thuật và các tiêu chuẩn về quản lý. Tiêu chuẩn ISO 9000 do
ban kỹ thuật TC 176 ban hành lần đầu vào năm 1987, được sửa đổi 2 lần vào năm
1994 và 2000. Hiện nay có hơn 140 nước tham gia vào tổ chức quốc tế này. Việt
thực hiện, xem xét và điều chỉnh trong suốt quá trình.
ĐH QTKD 4 - K2
13
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
- Thứ tư: ISO - 9000 là điều kiện cần thiết để tạo ra hệ thông “mua bán tin
cậy” trên thị trường trong nước và quốc tế. Các cơ quan chất lượng có uy tín trên
thế giới sẽ đánh giá và cấp giấy chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn ISO - 9000 cho
các doanh nghiệp. Và đó là giấy thông hành để vượt qua các rào cản thương mại
trên thương trường đi tới thắng lợi.
b. Từ những đặc điểm của cách tiếp cận nói trên, bộ tiêu chuẩn ISO - 9000
được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:
- Thứ 1: Phương hướng tổng quát của bộ tiêu chuẩn ISO-9000 là thiết lập hệ
thống QLCL hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ có chất lượng để thoả
mãn mọi nhu cầu của khách hàng.
- Thứ 2: Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 là các tiêu chuẩn về hệ thống đảm bảo
chất lượng, nó không phải là tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật về sản phẩm. Tuy nhiên
những thuộc tính kỹ thuật đơn thuần của sản phẩm không thể đảm bảo thoả mãn
mọi nhu cầu của khách hàng. Hệ thống chất lượng của bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 sẽ
bổ sung thêm vào các thuộc tính kỹ thuật của sản phẩm nhằm thoả mãn tốt nhất mọi
nhu cầu của khách hàng.
- Thứ 3: Bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 nêu ra những hướng dẫn để xây đựng một
hệ thống chất lượng có hiệu quả, chứ không áp đặt một hệ thống chất lượng đối với
từng doanh nghiệp. Vì vậy, hệ thống chất lượng của từng doanh nghiệp tuỳ thuộc
vào tầm nhìn, văn hoá, cách quản trị, cách thực hiện, ngành sản xuất dinh doanh,
loại sản phẩm hay dịch vụ và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Do đó mô hình
này rất linh hoạt, có thể áp dụng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, cả trong sản
xuất kinh doanh lẫn trong các lĩnh vực dịch vụ, hành chính và các tổ chức xã hội.
Hệ thống QLCL theo ISO - 9000 dựa trên mô hình Quản lý theo quá trình lấy
phòng ngừa làm phương châm chủ yếu trong suốt quá trình, suốt vòng đời sản phẩm
từ thiết kế, sản xuất, phân phối, tiêu dùng.
nhất của bộ tiêu chuẩn để làm thuận tiện hơn trong việc sử dụng. Sử dụng tiêu
ĐH QTKD 4 - K2
15
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
chuẩn theo cách này sẽ làm chúng ta có thể liên kết nó với các hệ thống quản lý
khác (ví dụ như Hệ thống quản lý môi trường), hoặc những yêu cầu cụ thể trong
một số lĩnh vực (ví dụ như: ISO/TS/6949 trong ngành công nghiệp ô tô) và giúp cho
việc đạt được sự công nhận thông qua các chương trình chứng nhận quốc gia.
Cả ISO 9004: 2000 và ISO 9001: 2000 thống nhất về bố cục và từ vựng nhằm giúp
tổ chức chuyển một cách thuận tiện từ ISO 9001: 2000 sang ISO 9004: 2000 và ng-
ược lại. Cả hai tiêu chuẩn đều sử dụng phương pháp tiếp cận quá trình. Các quá
trình được xem như bao gồm một hay nhiều hoạt động có liên kết, có yêu cầu nguồn
lực và phải được quản lý để đạt được đầu ra quy định trước. Đầu ra của một quá
trình có thể trực tiếp tạo thành đầu vào của một quá trình tiếp theo và sản phẩm cuối
cùng thường là kết quả của một mạng lưới hoặc một hệ thống các quá trình.
Để cho bộ ISO 9000 duy trì được tính hiệu lực, những tiêu chuẩn này được
xem xét định kỳ (khoảng 5 năm một lần) nhằm cập nhật những phát triển mới nhất
trong lĩnh vực quản lý chất lượng và thông tin phản hồi từ người sử dụng. Ban kỹ
thuật của Tổ chức tiêu chuẩn hoá Quốc tế ISO/TC 176 bao gồm các chuyên gia từ
các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới theo dõi việc áp dụng các tiêu chuẩn
để xác định những cải tiến cần thiết nhằm thoả mãn những đòi hỏi và mong muốn
của người sử dụng và đưa vào phiên bản mới.
ISO/TC176 sẽ tiếp tục kết hợp các yếu tố đảm bảo chất lượng, quản lý chất
lượng, những sáng kiến trong các ngành cụ thể và các chương trình chứng nhận chất
lượng khác nhau trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000.
Cam kết của ISO với việc duy trì động lực ISO 9000 thông qua các xem xét,
cải tiến và hợp lý hoá các tiêu chuẩn đảm bảo sự đầu tư của tổ chức vào ISO 9000
hôm nay sẽ tiếp tục mang lại những hiệu quả trong tương lai.
1.6.4. Các bước áp dụng tiêu chuẩn ISO 9000
Việc áp dụng ISO 9000 đối với một doanh nghiệp sẽ được tiến hành theo 8
- Xây dựng các hướng dẫn công việc, quy chế, quy định cần thiết.
ĐH QTKD 4 - K2
17
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
* Bước 5: Áp dụng hệ thống chất lượng theo ISO 9000
Công ty cần áp dụng hệ thống chất lượng đã thiết lập để chứng minh hiệu lực và
hiệu quả của hệ thống. Trong bước này cần thực hiện các hoạt động sau:
- Phổ biến cho tất cả mọi cán bộ công nhân viên trong công ty nhận thức về ISO
9000.
- Hướng dẫn cho cán bộ công nhân viên thực hiện theo các quy trình, thủ tục đã
được viết ra.
- Phân rõ trách nhiệm ai sử dụng tài liệu nào và thực hiện theo đúng chức năng
nhiệm vụ mà thủ tục đã mô tả.
- Tổ chức các cuộc đánh giá nội bộ về sự phù hợp của hệ thống và đề ra các hoạt
động khắc phục đối với sự không phù hợp.
* Bước 6: Đánh giá nội bộ và chuẩn bị cho đánh giá chứng nhận. Việc chuẩn bị
cho đánh giá chứng nhận bao gồm các bước sau:
- Đánh giá trước chứng nhận: Đánh giá trước chứng nhận nhằm xác định xem hệ
thống chất lượng của công ty đã phù hợp với tiêu chuẩn chưa và có được thực hiện
một cách có hiệu quả không, xác định các vấn đề còn tồn tại để khắc phục. Việc
đánh giá trước chứng nhận có thể do chính công ty thực hiện hoặc do tổ chức bên
ngoài thực hiện.
- Lựa chọn tổ chức chứng nhận: Tổ chức chứng nhận hay đánh giá của bên thứ ba là
tổ chức đã được công nhận cho việc thực hiện đánh giá và cấp chứng nhận phù hợp
với tiêu chuẩn phù hợp ISO 9000. Về nguyên tắc, mọi chứng chỉ ISO 9000 đều có
giá trị như nhau không phân biệt tổ chức nào tiến hành cấp. Công ty có quyền lựa
chọn bất kỳ tổ chức nào để đánh giá và cấp chứng chỉ.
* Bước 7: Tiến hành đánh giá chứng nhận. Tổ chức chứng nhận đã được công ty
lựa chọn tiến hành đánh giá chứng nhận chính thức hệ thống chất lượng của công
ty.
19
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
- Mất nhiều thời gian trong việc nghiên cứu tìm hiểu các yêu cầu của tiêu
chuẩn. Tuy nhiên điều này có thể khắc phục bằng cách tham gia các lớp tập huấn về
ISO 9000 do các tổ chức chuyên môn tiến hành.
- Không khách quan khi đánh giá thực trạng của mình và so sánh với các
yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra.
- Mất nhiều thời gian trong việc mày mò tìm Hướng đi và tiến hành các
bước thực hiện, áp dụng hệ thống quản lý ISO 9000.
- Việc duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng sau chứng nhận gần
như không được thực hiện có hiệu quả.
Chính vì vậy, một tổ chức hỗ trợ có kinh nghiệm và chuyên môn sẽ giúp
các tổ chức rất nhiều trong việc rút ngắn thời gian tiến tới chứng nhận, giúp các
doanh nghiệp đi đúng Hướng và tránh được những tác động tiêu cực do tiến hành
những hoạt động kém hiệu quả.
Chương II: Công ty chế tạo điện cơ Hà Nội và thực trạng xây
dựng hệ thống tài liệu.
2.1. Giới thiệu khái quát vể công ty
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Chế tạo Điện cơ Hà Nội là cơ sở chế tạo máy điện đầu tiên của Việt
Nam, được thành lập từ năm 1961. Công ty là thành viên của Tổng công ty Thiết bị
kỹ thuật – Bộ Công nghiệp.
ĐH QTKD 4 - K2
20
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
Công ty có tên giao dịch quốc tế: Hanoi Electrical Engineering Company.
Viết tắt là: CTAMAD.
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh công cuộc xây dựng XHCN ở miền Bắc làm
hậu phương vững chắc cho cuộc cách mạng dân tộc giải phóng miền Nam. Ngày
15/01/1961, Bộ Công nghiệp đã triệu tập hội nghị hiệp thương giữa 3 cơ sở:
Giai đoạn đổi mới để phát triển.
Những năm đầu thập niên 90, đứng trước thách thức to lớn đó là:
1) Nhu cầu về sản phẩm điện cơ có đột biến đặc biệt là các động cơ có công
suất lớn, điện áp cao dùng trong ngành sản xuất xi măng, thép, phân bón... đòi hỏi
nhà máy phải đầu tư về nhà xưởng, thiết bị chuyên dùng, công nghệ tiên tiến để có
sản phẩm đáp ứng nhu cầu về cả số lượng và chất lượng.
2) Yêu cầu về môi trường của thành phố và xã hội ngày càng cao. Việc để
một nhà máy cơ khí với rác thải công nghiệp và độ ồn cao ở trung tâm thành phố là
không thể chấp nhận được.
Từ hai lý do trên đòi hỏi nhà máy phải tìm giải pháp gi chuyển khỏi trung tâm
thành phố càng sớm càng tốt trước khi bị chính quyền buộc phải gi chuyển.
Cuối cùng nhà máy đã chọn giải pháp liên doanh với nước ngoài: đó là công ty
SAS TRADING của Thái Lan xây dựng ở 44 Lý Thường Kiệt thành tổ hợp khách
sạn và văn phòng để có 35% vốn góp, tạo thêm ngành kinh doanh mới.
Từ năm 1995 – 1998, nhà máy hoàn thành hai việc:
Hoàn tất việc xây dựng tổ hợp khách sạn và văn phòng tại 44 Lý Thường Kiệt.
Hoàn tất việc xây dựng nhà máy mới tại Cầu Diễn Từ Liêm Hà Nội với tổng
diện tích 40900 m2 (gấp 4 lần nhà máy cũ). Việc xây dựng được tiến hành theo
phương thức vừa xây dựng vừa di chuyển vừa duy trì sản xuất .
Đến ngày 31 tháng 12 năm 1998 được xây dựng xong và đi vào sản xuất.
ĐH QTKD 4 - K2
22
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
Để phù hợp với ngành kinh doanh vào ngày 15 tháng 01 năm 1996 nhà máy
đổi tên thành công ty chế tạo Điện cơ Hà Nội . Năm 2002 công ty đã tiến hành cổ
phần hoá thành công phân xưởng đúc gang và tách thành Công ty cổ phần Điên cơ
Hà Nội (HAMEC) đặt tại Chèm Đông Ngạc Từ Liêm Hà Nội Công ty HEMEC
chính thức đi vào hoạt động và hoạch toán độc lập vào tháng 5 năm 2002.
Hiện nay Công ty có hai cơ sở sản xuất:
Cơ sở I: km 12 quốc lộ 32 Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội.
2.1.3. Đặc điểm về thị trường
Khách hàng của Công ty CTAMAD là các Công ty chế tạo bơm, Tông công ty
thép, Tổng công ty xi măng, Tổng công ty phân bón và hoá chất. Tổng công ty mía
đường, Tổng công ty điện lực Việt Nam… và người tiêu dùng trong cả nước.
Nhu cầu thị trường trong nước đa dạng và phức tạp với nhiều loại nhu cầu từ
động cơ có công suất 0,12 KW trọng lượng 3 kg/chiếc đến loại động cơ có công
suất 2500 KW trọng lượng 23 tấn/ chiếc.
Trong cùng loại động cơ công suất giống nhau có thể có tám loại với nhiều cấp
vòng bi khác nhau, kiểu lắp đặt khác nhau.
Nhu cầu từng loại khác nhau không đồng đều có những loại chỉ có một chiếc.
Thị trường của Công ty gồm:
Thị trường đầu vào, nguyên vật liệu chính của Công ty là các sản phẩm của
ngành cơ khí, luyện kim như sắt, thép, nhôm, gang…và một số vật tư phụ. Đầu vào
của Công ty chủ yếu mua ở trong nước.
Thị trường đầu ra: Hiện nay Công ty có mạng lưới tiêu thụ phân bố ở 61 tỉnh,
thành phố thông qua các cửa hàng bán lẻ, cửa hàng giới thiệu sản phẩm. Nhìn chunh
ĐH QTKD 4 - K2
24
Quản Trị Chất Lượng Khoa: Quản lý kinh doanh
thị trường của Công ty chủ yếu là nội địa nhưng hiện nay Công ty đangcó xu hướng
xuất sang một số thị trường nước ngoài như Lào, Campuchia.
Đối thủ cạnh tranh của Công ty: Hiện nay đối thủ cạnh tranh lớn nhất của
Công ty là Công ty chế tạo máy Việt Nam – Hungary sản xuất và kinh doanh các
loại sản phẩm tương đối giống sản phẩm của Công ty. Ở miền Nam là Công ty thiết
bị điện 4 sản xuất động cơ trung bình và nhỏ.
2.1.4. Đặc điểm về lao động.
Đến năm 2009 tổng số cán bộ công nhân viên trong công ty là 630 người trong
đó:
-Nữ là 190 người .
-Nam là 440 người.