An ninh lương thưc và thực phẩm: Một số vấn đề về lý luận thực tiễn và định hướng chính sách cho Việt Nam pot - Pdf 12

AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ THỰC PHẨM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC
TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

GS. TS. Đỗ Kim Chung, PGS. TS. Kim Thị Dung và KS. Lưu Văn Duy
Tạp chí nông nghiệp và Phát triển nông thôb, Só 6, Tháng 6/2009, Trang 3-10
SUMMARY
This paper discuses some theoretical and practical issues on food security and draw some
policy recommendations for sustainable strategy for food security for Vietnam. The paper
points out that policy measures should aim at promoting sustainable strategy for food
supply by long term rational food production planning based on comparative advantage of
each region, increasing public investment for planed food production zones, increasing
consumers’ accessibility to food by generating job opportunities and income, and creating
an efficient market mechanism in which all consumers can access to food at reasonable
prices.
Key words: Food Security, Food safety, Food security polices and strategy, Vietnam
Tóm tắt
Bài viết này thảo luận một số vấn đề lý luận và thực tiễn của an ninh lương thực thqựuc
phẩm và đề xuất một số định hướng chính sách cho chiến lược an ninh lương thực, thực
phẩm bền vững cho Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng các giải pháp chính sách cần hướng vào
chiến lược sản xuất bền vững LT-TP dựa trên quy hoạch dài hạn và lợi thế so sánh của mỗi
vùng, tăng khả năng tiếp cận của người tiêu dùng tới lương thực bằng việc tạo việc làm và
thu nhập cho họ, tạo ra cơ chế hiệu quả cho thị trường hoạt động để mọi người tiêu dùng
tiếp cận được tới lương thực thực phầm với giá hợp lý.
Từ khoá: An ninh lương thực-thực phẩm, An toàn lương thực-thực phẩm, Chiến lược
và chính sách an ninh lương thực-thực phẩm, Việt nam
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá và đô thị hoá nền kinh tế xã hội. Trong quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá bình quân mỗi năm cả nước mất khoảng 74.000 ha đất nông
nghiệp chuyển thành đất phi nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)
1
. Điều đáng chú ý là

Nghiên cứu này vận dụng phương pháp tiếp cận kinh tế mở về vấn đề an ninh lương thực,
thực phẩm. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này là số liệu thứ cấp của các công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Ngoài ra, bài viết còn sử dụng các phương
pháp dự báo về cung và cầu về lương thực, thực phẩm.
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN NINH LƯƠNG
THỰC - THỰC PHẨM
2.1.1 An ninh lương thực hay an ninh lương thực - thực phẩm?
Từ “lương thực” theo nghĩa tiếng Việt chỉ những nông sản có chứa tinh bột. Do đó, nếu nói
“an ninh lương thực” là chưa đủ. Theo nghĩa tiếng Anh, “food” có nghĩa bao hàm cả lương
thực và thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người. Hơn nữa, việc tiêu dùng lương
thực và thực phẩm quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông thường, nếu tiêu dùng nhiều thực
phẩm (thịt, rau, đậu, sữa trứng, quả) sẽ tiêu dùng lương thực ít hơn. Cơ cấu nông nghiệp sẽ
thay đổi theo cầu của thị trường về lương thực và thực phẩm. Do đó, không thể tách rời
lương thực với thực phẩm khi nói về vấn đề an ninh. Vì vậy, bài viết này thảo luận vấn đề
“an ninh lương thực - thực phẩm” hơn là vấn đề “an ninh lương thực” thông thường.
2.1.2 An ninh lương thực - thực phẩm và an toàn lương thực - thực phẩm
2
Đỗ Kim Chung, 2008, Học thuyết kinh tế đối ngẫu trong phát triển nông thôn: những bài học kinh nghiệm từ
Trung Quốc cho Việt Nam, Nghiên cứu Kinh tế, số 361, tháng 6 năm 2008, Viện Kinh tế Việt Nam, trang 46-
50
2
An ninh về lương thực, thực phẩm là vấn đề trọng tâm của mọi chính sách lương thực -
thực phẩm của các quốc gia. Mục tiêu cơ bản của chính sách lương thực - thực phẩm của
các quốc gia nhằm đảm bảo an ninh lương thực - thực phẩm một cách bền vững và an toàn
về lương thực - thực phẩm cho con người, xã hội và môi trường. An ninh lương thực - thực
phẩm là đảm bảo khả năng của tất cả các thành viên trong xã hội trong mọi lúc, mọi nơi có
thể có đủ lương thực - thực phẩm cho cuộc sống khoẻ mạnh và hiệu quả. An toàn về lương
thực - thực phẩm là sự đảm bảo về chất lượng của lương thực và thực phẩm, không tổn hại

nghiêm trọng ở Etiopia năm 1973 và ở Băng-la-đét năm 1974 đều trong bối cảnh các quốc
gia này được mùa lớn. Lương thực - thực phẩm được dịch chuyển từ vùng đói (tỉnh Wollo)
sang vùng no (tỉnh Addis Ababa của Etiopia). Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là
tuy có lương thực - thực phẩm sẵn có trên thị trường, nhưng dân nghèo không có khả năng
mua được lương thực và thực phẩm mà họ cần, do họ thiếu việc làm và thu nhập của họ
3
quá thấp
3
. Thực trạng này cũng đã và đang thấy lương thực-thục phẩm chất lượng tốt hơn
đuợc chuyển từ nông thôn ra thành thị, từ vùng nghèo khó sang vùng giàu có ở các nước
như Thái Lan, In-đô-nê-xia, Philipine và ngay cả ở Việt Nam. Do đó, để có được an ninh
về lương thực - thực phẩm, việc đẩy mạnh sản xuất luơng thực - thực phẩm đảm bảo mức
sẵn có về lương thực, thực phẩm mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ cho an ninh lương
thực, thực phẩm là phải tập trung giải quyết được việc làm, tăng được thu nhập và phát
triển được thị trường lành mạnh để người tiêu dùng mua được lương thực - thực phẩm với
giá hợp lý
2.2. AN NINH LƯƠNG THỰC - THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM
2.2.1 Tình trạng sản xuất lương thực ở Việt Nam
Thành tựu nổi bật nhất về kinh tế của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới là phát triển nông
nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực đã đáp ứng được nhu cầu trong nước, đảm bảo dự
trữ Quốc gia và liên tục xuất khẩu gạo. Tỷ lệ nghèo lương thực đã giảm từ 35,6% (giai
đoạn 1998 - 1999), xuống còn 11,9% (giai đoạn 2002 - 2003). Điều đó chứng minh nước
ta giảm cơ bản tình trạng đói. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, những hộ tham gia làm lương
thực có tỷ lệ nghèo cao. Cả nước có khoảng 71% dân số làm nông dân, tỷ lệ nghèo là
20,4% cao gấp 4 lần so với cư dân không làm nông dân (5,0%). Cả nước có 53% dân số
làm nghề trồng lúa và tỷ lệ nghèo của người trồng lúa là 23,4%, gấp 3 lần so với những
người không làm lúa (7,5%).
Thành tựu cơ bản của nông nghiệp là thâm canh tăng năng suất, đa dạng hoá cây trồng.
Cùng với việc phát triển nhanh một số cây lương thực khác như lúa, ngô, Việt Nam đã đưa
sản lượng lương thực có hạt từ 38,1 triệu tấn năm 2000 lên 52,4 triệu tấn năm 2008

2000 7.666 1.212 550 136 695 422 176 526 3.945
3
Đỗ Kim Chung, Vì sao được mùa mà vẫn còn nhiều người đói, Khoa học và đời sống số 42 (1190), 14-20-
10-1997, Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
4
Nguyễn Trí Ngọc, Đảm bảo an lương thực cho đồng bào dân tộc miền núi, Báo Kinh tế Nông Thôn, Web
site: httpp:\\: Kinhtenongthon.com.vn, Ngày 17/3/2009, cập nhật lúc 9.42 AM
4
2002 7.504 1.196 562 140 700 399 186 484 3.834
2004 7.445 1.161 557 151 685 401 198 475 3.816
2006 7.324 1.124 553 154 683 392 208 435 3.773
2007 7.201 1.111 553 158 683 376 205 432 3.684
2007/2000 - 465 - 101 + 3 + 22 - 12 - 46 - 29 - 94 - 261
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007, Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008
Bảng 2. Năng suất lúa cả nước giai đoạn 2000-2007 Đơn vị t

/h
a
Năm
Cả
Nước
ĐB
SH
Đông
Bắc
Tây
Bắc
Bắc.T Bộ
Nam.T
Bộ

nước phát triển khoảng 20-30%, nhưng năng suất hoa mầu thấp hơn 50% so với các nước
trong khu vực. Diện tích trồng mầu chiếm 1/5 tổng diện tích trồng cây lương thực, thực
phẩm nhưng sản lượng màu thu được lại chỉ chiếm khoảng 1/10 sản lượng lương thực
phẩm của cả nước. Như vậy, khoảng cách về năng suất các loại cây lương thực, thực phẩm
của chúng ta so với các nước phát triển, đang còn khá lớn, nhất là các loại hoa màu như
5
ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ, rau. Do đó, để tăng thêm đuợc sản lượng lương thực, cần tập
trung cao độ vào giải pháp công nghệ để cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.
2.2.2 Cung về lương thực giữa các vùng
Trong những năm gần đây, sản lượng lúa cả nước tính bằng thóc tăng gần 3,4 ngàn tấn
(từ trên 32,5 triệu tấn lên 35,9 triệu tấn) (Bảng 3). Bình quân lương thực đầu người giai
đoạn 1996-2001 tăng từ 430,3 kg/năm lên 501,1 kg/năm (tăng 3,29%), giai đoạn 2002-
2006 tăng từ 540,5kg/năm lên 551,2 kg/năm (tăng 1,95%). Tuy nhiên, trong khi tất cả các
vùng đều tăng, đồng bằng sông Hồng lại có sản lượng giảm tới 288 nghìn tấn. Hai vùng
ĐBSCL và ĐBSH chiếm gần 70% tổng sản lượng lúa cả nước (24,9 triệu tấn / 35,9 triệu
tấn). Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 52 - 55% sản lượng và hơn 90% sản
lượng lúa gạo xuất khẩu của cả nước. Các vùng như Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Đông Nam
Bộ mức cung về lương thực đủ tiêu dùng tại chỗ, có thể thiếu hụt vào những trường
hợp thời tiết không thuận lợi đối với nông nghiệp. Các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên có sản
lượng lúa thấp nhất, xét về cung cầu lúa gạo tại chỗ thì cung chưa đáp ứng được cầu, tình
trạng thiếu hụt lúa gạo có thể là thường xuyên. Do đấy, giải quyết vấn đề an ninh lương
thực-thực phẩm phải tiếp cận theo từng vùng.
Bảng 3. Sản lượng lúa cả nước và từng vùng giai đoạn 2000 – 2007 Đơn vị: 1000
tấn
Năm Cả nước
Vùng
ĐBSH
Đông
Bắc
Tây

421 342 263 216 302 266 174 129 1.106
Nguồn: Niên giám thống kê 2007, TCTK, NXB Thống kê
2008;

2.2.3 Tình hình lưu thông và tiêu dùng lương thực của Việt Nam
Lương thực mà chủ yếu là lúa gạo của Việt Nam sản xuất ra hàng năm được dùng vào: tiêu
dùng của người dân cả nước, để làm giống, làm thức ăn chăn nuôi, dự trữ quốc gia và
xuất khẩu. Trong đó, lượng lúa gạo tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 75-80%, xuất
khẩu khoảng 20-25% sản lượng thóc hàng năm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, 2008).
Lượng gạo xuất khẩu: Gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và
vùng lãnh thổ trên thế giới. Châu Á là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam. Tuy
nhiên, các nước nhập khẩu ở châu Á phần lớn thuộc những nhóm nước có thu nhập thấp và
là các nước đang phát triển. Các thị trường tiêu thụ gạo chất lượng cao và rất cao là
6
Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, nhưng thị phần rất nhỏ và chưa có dấu hiệu tăng (Trung tâm
Thông tin PTNNNT, 2008). Tình hình xuất và nhập khẩu gạo của Việt Nam thể hiện ở
Hình 1 dưới đây. Năm 2005, đạt sản lượng xuất khẩu là cao nhất (5,25 triệu tấn).
Hình 1: Xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1976-2007
6000
5000
4000
3000
2000
1000
0
Năm
XK gạo (1000 tấn) NK gạo (1000 tấn)
Nguồn: Trung tâm Thông tin PTNNNT, 2008.
Lượng thóc tiêu thụ trong nước: Lượng lương thực tiêu thụ trong nước hàng năm vào

157 154 167 82 41
Mianma
9.71 160 209 203 78 31
Philíppin
7.65 86 96 101 107 49
Thái lan
6.83 152 110 109 74 27
Campuchia
2.03 163 158 155 89 82
Malaixia
1.96 123 81 88 105 48
Các nước châu Á khác
Trung Quốc 113.51
79 93 89 54 17
Ấn Độ 76.45
69 79 76 82 40
Bănglađét 21.37
150 153 155 94 43
Nhật Bản
7.53 89 65 59 22 -5
Hàn Quốc
4.12 119 104 88 46 12
Nêpan
2.27 82 106 99 94 81
Pakítxtan
1.78 29 14 13 128 93
Sri Lanca
1.77 95 93 94 54 21
CHDCND
Triều Tiên

theo lợi thế so sánh của vùng, không phân bổ bình quân các chỉ tiêu quy hoạch. Từ đó,
có chiến luợc đầu tư cho hình thành sản xuất hàng hoá về lương thực, thực phẩm.
- Ở phạm vi từng hộ và người tiêu dùng, chiến lược an ninh lương thực phải tập trung
vào tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển thị trường để tạo điều kiện cho mọi người có
khả năng tiếp cận đủ lương thực-thực phẩm mà họ cần.
- Lương thực - thực phẩm bao gồm cả lương thực, cả thực phẩm, cả phát triển trồng trọt,
chăn nuôi, thuỷ sản. Do đó, chiến lược an ninh lương thực, thực phẩm phải góp phần
tập trung vào các ngành sản xuất đó, không nên hoàn toàn tập trung vào lương thực.
- Chiến lược an ninh về lương thực - thực phẩm phải toàn diện, không chỉ tập trung vào
sản xuất mà còn vào điều tiết cung cầu trong nước, tăng khả năng tiếp cận của người
tiêu dùng tới lương thực, thực phẩm
2.3.2 Cầu về lương thực, thực phẩm
Dự báo với dân số 5,7 tỷ người vào năm 1995 thì trong khoảng 50 - 60 năm nữa, dân số thế
giới còn tăng gấp đôi, nhu cầu lương thực cũng tăng trên mức đó. Trước đây, lương thực
chủ yếu chỉ để phục vụ nhu cầu lương thực trực tiếp để ăn và nhu cầu gián tiếp thông qua
thực phẩm về thịt, trứng, sữa cho người, ngày nay lương thực lại còn dùng để sản xuất
nhiên liệu sinh học (Mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam, 2008). Hiện nay, có tới
41 nước khuyến khích sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học để giảm bớt phụ thuộc vào
dầu mỏ. Việc sử dụng lương thực theo hướng trên đây đã làm cho sản lượng ngũ cốc dù
tăng, chẳng hạn năm 2007, sản lượng ngũ cốc trên thế giới đạt hơn hai tỷ tấn, tăng 4,3%,
nhưng có tới 33 nước trên thế giới vẫn thiếu lương thực.
9
Ở Việt Nam, với dân số hiện nay là 86.2 triệu người (2008), có thể tăng lên 100 triệu người
trong tương lai không xa, nhưng diện tích đất nông nghiệp của nước ta không nhiều. Cả
nước chỉ có hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa mà
diện tích đất nông nghiệp, kể cả đất trồng lúa đang giảm dần trong quá trình đô thị hóa,
công nghiệp hóa. Vấn đề đáng lo ngại trong tương lai không xa là sự biến đổi khí hậu có
thể tác động nặng nề đến nước ta. Trong tương lai gần, lương thực ở nước ta sẽ chi dùng
vào các mục đích:
- Lương thực ăn cho người, chủ yếu dựa vào lúa gạo. Trong tương lai, mức tiêu dùng

(
*
)
của Việt Nam đến năm 2020
Chỉ
tiêu 2007 2010 2015 2020
1. Dân số (triệu người)
85,2 88,5 93,6 98,6
2. DT. Đất lúa (triệu ha)
4,1 4,0 3,8 3,5
10
3. DT.trồng lúa cả năm(triệuha)
7,2 7,1 6,9 6,8
4. Năng suất lúa (tấn/ha/vụ)
4,98 5,14 5,40 5,65
5. SL. Thóc cả năm(triệu tấn)
35,8 36,5 37,2 38,5
6. Nhu cầu (triệu tấn thóc)
29,2 31,1 32,1 35,2
- Thóc giống
1,1 1,1 1,0 1,0
- Chăn nuôi và hao hụt
6,4 7,0 7,5 8,5
- Chế biến
0,2 0,3 0,5 1,0
- Để ăn và dự trữ quốc gia
Trong đó, riêng để ăn
21,5 22,7 23,1 24,7
19,97 17,98 17,55 16,95
7. Cân đối thóc

- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể, thực hiện tốt quy hoạch nông nghiệp. Trong quy
hoạch nông nghịêp, cần tập trung vào quy hoạch vùng sản xuất lương thực-thực phẩm
trọng điểm: Trên cơ sở tính toán lợi thế so sánh của từng vùng, hình thành các vùng
quy hoạch tập trung. Tập trung đầu tư cho Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng trồng
lúa và cây ăn trái nhiệt đới. Dựa trên khả năng áp dụng công nghề để tăng năng suất,
cần ổn định diện tích khoảng 4 triệu ha. Cần xây dựng quy hoạch tổng quan về sản xuất
lúa trên phạm vi toàn quốc và theo từng vùng để trình Quốc hội phê duyệt và cần có
pháp lệnh quy hoạch đất đai để ổn định diện tích đất trồng lúa và một số cây trồng
khác; đồng thời thiết lập hệ thống thông tin an ninh lương thực nhằm nắm chính xác
11
tình hình sản xuất, thu hoạch, sản lượng lúa để chủ động lượng lúa gạo dự trữ và xuất
khẩu. Thực hiện chính sách đầu tư công cho thuỷ lợi, giao thông, chế biến, cơ sở hạ
tầng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao, giảm thiểu rủi ro và thiên tai cho các vùng
được quy hoạch cho hình thành nông nghiệp hàng hoá. Thực hiện quy hoạch sản xuất
thực phẩm như rau, quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản theo lợi thế so sánh vùng, tập
trung đầu tư chiều sâu để hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tăng sức cạnh
tranh của mặt hàng nông sản.
- Tăng cường đầu tư áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất, sản
lượng và chất lượng sản phẩm. Đây là hướng đi chủ đạo của vấn đề an ninh lương
thực, thực phẩm trong những thập kỷ tới nhất là ở các vùng trọng điểm về lúa như đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Thực hiện các chương trình khuyến
nông, bảo vệ thực vật, giảm thiểu rủi ro để giúp nông dân tăng được năng suất và chất
lượng sản phẩm. Áp dụng giống tốt và các biện pháp canh tác để tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh lương thực - thực phẩm. Triển khai đề án cơ giới hóa trong nông nghiệp,
trọng tâm là áp dụng cơ giới hóa trong các khâu làm đất, gieo cấy, thu hoạch, bảo quản,
chế biến lúa ngô. Đi đôi với đó là phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hợp tác quốc tế
về phát triển lúa gạo, nâng cao chất lượng dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Cần có chính cách hỗ trợ nông dân ở vùng quy hoạch về chuyển giao công nghệ,
đầu tư hạ tầng, công nghệ sau thu hoạch, tiêu thụ sản xuất lương thực - thực phẩm;
- Khuyến khích và hướng dẫn những hộ nông dân không nằm trong vùng quy hoạch

xây dựng chiến lược sản xuất lương thực-thực phẩm và bền vững, thực hiện dự trữ và vận
hành xuất, nhập khẩu hợp lý, tiếp tục duy trì quỹ bình ổn về lương thực - thực phẩm đảm
bảo cho quốc gia ổn định được giá lương thực trong cả lúc mất mùa và được mùa, vượt qua
được các cú sốc về kinh tế- rủi ro về tự nhiên, tạo việc làm và tăng thu nhập cho mọi người
và tạo môi trường để cho thị trường lương thực - thực phẩm phát triển lành mạnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008, Chiến lược an ninh lương thực quốc
gia đến năm 2020, Dự thảo lần 9, FAO, 2004, FAOSTAT database
2. Tổng cục thống kê, 2007, Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008
3. Đỗ Kim Chung, 1997, Vì sao được mùa mà vẫn còn nhiều người đói, Khoa học và đời
sống, số 42, 14-20-10-1997
4. Vneconomy, 2008, Việt Nam: Chấm dứt thiếu đói lương thực vào năm 2012,
Vnecono.vn, />5. 5.IRRI (International Rice Research Institute). 2008. Background Paper: The rice
crisis: What needs to be done? Los Banos (Philippines): IRRI. 12 p. www.irri.or g

.
6. Mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam, 2008, Cách tiếp cận mới về ngành sản
xuất lương thực, , trích lúc 11h22’ ngày 19 tháng 11 năm 2008.
7. Đào Thế Anh, 2008, Thực trạng, phương hướng và giải pháp phát triển ngành hàng
lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực đến năm 2015 và năm 2010, Viện cây lương
thực và thực phẩm.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status