TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
********
Đề Tài: UNDP và Sự Phát Triển Của Các Nước
Thế Giới Thứ Ba
Giáo viên hướng dẫn: Lương Thị Ngọc Oanh
Nhóm thực hiện: Nhóm 16
Lớp A14 – K45E – Khoa Kinh tế Đối Ngoại
Hà nội – Tháng 3 năm 2009
MỤC LỤC
4.3 Phát triển năng lực xiv
b. Xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội xxvi
LỜI MỞ ĐẦU
Không thể phủ nhận rằng nửa cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế
kỷ XXI đã đánh dấu nhiều cột mốc về phát triển kinh tế, văn hóa cũng như
xã hội; đặc biệt là sự ra đời của xu hướng toàn cầu hóa đã mang lại những cơ
hội lớn khi thế giới ngày càng trở nên “phẳng” hơn. Mặc dù vậy, điều này
không đồng nghĩa với việc một mức sống mới cao hơn đã được thiết lập cho
toàn bộ người dân từ các quốc gia mà ngược lại, vẫn còn đó những vấn đề về
bất bình đẳng, phân bố nguồn lực không đều dẫn đến khoảng cách giàu
nghèo ngày càng gia tăng. Ở tầm vĩ mô, tình trạng này được thể hiện rõ nhất
tại các nước thế giới thứ ba với mức sống thấp, tích lũy kém, thiếu vốn đầu
tư đi kèm với phát triển không bền vững.
Tuy nhiên, các nước này không đơn độc trong cuộc chiến nhằm phá
vỡ “vòng luẩn quẩn của đói nghèo”. Cùng với xu thế phát triển chung, ngày
càng có nhiều định chế quốc tế tham gia vào công cuộc đưa thế giới thứ ba
lên một nấc thang phát triển mới bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Những
tổ chức tiêu biểu có thể kể đến là Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Hội phát triển
quốc tế IDA với việc bơm vốn, tăng đầu tư tại các nước nghèo; ADB với hỗ
cá nhân và các tổ chức trên thế giới.
1.2 Cơ cấu tổ chức của UNDP
UNDP chịu sự chi phối của Đại Hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng
Kinh tế - Xã hội ECOSOC. Đại Hội đồng quyết định các vấn đề chính sách
lớn, ECOSOC xác định các nguyên tắc, quy chế hoạt động v.v Người đứng
đầu UNDP được gọi là Tổng giám đốc (Administrator) do Tổng thư ký Liên
hợp quốc bổ nhiệm.
Cơ quan quyền lực cao nhất của UNDP là Hội đồng Chấp hành
(Executive Board) gồm 36 nước thành viên phân bổ theo khu vực địa lý, cụ
thể là: Châu Phi - 8; Châu Á- 7; Trung Âu - 4; Mỹ Latinh và Caribê - 5; Tây
Âu và các nước khác - 12, có nhiệm kỳ 3 năm. Hội đồng Chấp hành là cơ
quan tối cao xem xét, phê duyệt các chương trình viện trợ cho các nước, khu
vực và kiến nghị chính sách và phương hướng hoạt động của mình lên
ECOSOC. Cơ quan thường trực là Ban Thư kí và các cục, vụ chuyên ngành
tại trụ sở New York và cơ quan đại diện UNDP tại Geneve.
Việt Nam là thành viên Hội đồng Chấp hành nhiệm kỳ 2000-2002,
đồng thời là Phó Chủ tịch Hội đồng Chấp hành năm 2000 và 2001.
iii
2. Nguồn vốn và cơ cấu viện trợ
UNDP là tổ chức viện trợ phát triển lớn nhất hệ thống Liên hợp quốc
hiện nay. Vốn của UNDP chủ yếu là nguồn đóng góp tự nguyện của các
nước thành viên, các tổ chức, cá nhân. Trung bình hàng năm UNDP quản lý
khoảng 2,3 tỷ USD viện trợ thông qua các nguồn vốn thường xuyên (core
resources), không thường xuyên (non-core resources) và các nguồn đồng tài
trợ khác (co-financing or cost-sharing resources). 90% viện trợ từ nguồn vốn
thường xuyên của UNDP được dành cho các nước nghèo, nơi chiếm 90% tỷ
lệ nghèo đói của thế giới hiện nay.
Viện trợ của UNDP là viện trợ không hoàn lại được thực hiện dưới
dạng chương trình quốc gia có thời gian 5 năm bao gồm hầu hết các lĩnh vực
và ngành kinh tế của các quốc gia. Các chương trình quốc gia được xây
thuộc một cách bị động vào các chính sách hỗ trợ.
Hoạt động của UNDP tập trung tăng cường hợp tác quốc tế vì sự
nghiệp phát triển; trợ giúp việc tăng cường khả năng quản lý quốc gia, sự
tham gia rộng rãi hơn của nhân dân, phát triển khu vực nhà nước và tư nhân,
sự tăng trưởng công bằng. Các chương trình và dự án hỗ trợ của UNDP
được xây dựng dựa trên cơ sở các kế hoạch và ưu tiên quốc gia và các ưu
tiên trong chính sách của UNDP.
Trợ giúp của UNDP xuất phát từ yêu cầu của các chính phủ và các
lĩnh vực ưu tiên của UNDP. Các lĩnh vực hỗ trợ của UNDP là:
• Thực hiện các nghiên cứu về chiến lược, chính sách và đưa ra các
khuyến nghị; thực hiện các nghiên cứu khả thi, tiền khả thi; tiến hành
các phân tích và đánh giá thực trạng, nghiên cứu tổng quan và xây
dựng các quy hoạch tổng thể .
• Hỗ trợ trong việc phân tích và phát triển, và lắp đặt các hệ thống quản
lý như lập kế hoạch, thông tin, báo cáo lập ngân sách, kế toán
• Đào tạo về khoa học kỹ thuật, quản lý, nghề nghiệp, kỹ năng chuyên
môn; cung cấp các dịch vụ về tư vấn kỹ thuật; trao đổi thông tin và tổ
chức tham quan, khảo sát, hội thảo và tập huấn.
• Hỗ trợ nghiên cứu về phát triển và thực hiện các sắp xếp về tổ chức để
đáp ứng chức năng, nhiệm vụ được giao; giúp đánh giá và xây dựng
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong công tác quản lý
• Hỗ trợ chuyển giao công nghệ phù hợp, khuyến khích và giúp đỡ phát
triển năng lực công nghệ quốc gia; Trợ giúp việc thiết lập và nâng cấp
các phương tiện vật chất và trang thiết bị.
Từ năm 2000, UNDP chuyển mạnh theo hướng tư vấn vi mô các vấn
đề về thể chế, chính sách cũng như tăng cường năng lực tập trung cho các
hoạt động hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện tám Mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ và xoá đói giảm nghèo. Các dự án trợ giúp kỹ thuật và tăng
cường năng lực của UNDP cũng ngày càng gắn với hỗ trợ xây dựng các
hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Điều đó có nghĩa UNDP hỗ trợ Quốc hội
nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực, các nguồn lực cũng như tính tự chủ để
thực hiện các chức năng cơ bản một cách hiệu quả. Đối với Chính quyền địa
phương, UNDP hỗ trợ phát triển kỹ năng (nhất là trong lĩnh vực quản lý
ngân sách và lên kế hoạch) cũng như xây dựng một môi trường chính sách
giúp phân quyền, quản lý địa phương cũng như phát triển nông thôn/đô thị
một cách hiệu quả.
Các nhóm dự án chính bao gồm:
vi
• Tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm đáp ứng các nhu cầu cụ thể của
các Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân.
• Tăng cường năng lực của một số Ủy ban trực thuộc Quốc hội trong
việc nghiên cứu, thẩm định các văn bản pháp luật và giám sát.
• Tăng cường năng lực của Hội đồng Nhân dân nhằm thực hiện
nhiệm vụ được giao cho họ trong quá trình phân cấp quản lý.
• Xây dựng cơ chế đối tác nhằm tăng cường cuộc đối thoại chính
sách và điều phối các nguồn trợ giúp cho Quốc hội và Hội đồng
Nhân dân.
1.2 Hỗ trợ hệ thống và quy trình bầu cử
UNDP đóng vai trò cân bằng giữa việc hỗ trợ các hoạt động bầu cử
(một hoạt động ngắn hạn và mang tính sự kiện) với việc hỗ trợ hệ thống và
quy trình dài hạn hơn nhằm giữ vững các nguyên tắc dân chủ trong xã hội.
Các chương trình, dự án của UNDP tại các quốc gia và các đối tác - cả trên
phương diện quốc gia và quốc tế - nhằm thúc đẩy bốn mục tiêu sau:
• Có cơ cấu thể chế hợp pháp nhằm thúc đẩy bầu cử tự do, công
bằng, minh bạch và bền vững ở tất cả các cấp
• Giáo dục cho công dân và các cử tri về quyền dân chủ và các trách
nhiệm cần thực hiện
• Hợp tác hỗ trợ bầu cử
• Tăng về lâu dài số lượng phụ nữ tham gia bầu cử trong vai trò cử
* Về Chính phủ điện tử: Sự xuất hiện và triển khai Công nghệ thông
tin và truyền thông (ICTs) đã tăng lên nhanh chóng từ đầu những năm 1990.
Vì thế, khi hầu hết các quốc gia đang phát triển vẫn phải đối mặt với nhiều
thử thách đa dạng và đủ mọi cấp độ, thì trọng tâm của ICT là sự phát triển
việc sử dụng các ứng dụng của ICT hay những công nghệ mới nhằm tìm ra
một con đường thuận tiện hơn cho người dân tiếp xúc với Chính phủ.
1.5 Cải cách hành chính Nhà nước và chống tham nhũng
Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hoá này càng cao thì các Chính phủ
đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn
định và có sức cạnh tranh, đồng thời, cần tạo được một cung cách quản lý
hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững. Theo UNDP thì giảm thiểu tham
nhũng và một nền hành chính giản tiện đóng vai trò quan trọng trong công
cuộc xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững. Ở lĩnh vực này,
UNDP nhấn mạnh vào ba điểm chính:
• Tăng cường năng lực lập kế hoạch, chỉ đạo cũng như năng lực
quản lý chung cho công tác CCHC tập trung vào công tác phân
tích, hoạch định và thực hiện chính sách tài chính trên quan điểm
phát triển con người và xây dựng kế hoạch hành động.
• Xây dựng và cải tiến hơn nữa các cơ chế cung cấp dịch vụ công và
hướng các cơ chế này vào việc phục vụ các nhu cầu ở cơ sở.
viii
• Vận dụng có hiệu quả các hệ thống quản lý năng lực hoạt động có
tính chiến lược và tiêu chuẩn chất lượng ở một số bộ và tỉnh được
lựa chọn.
2. Xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội
Nghèo đói là cụm từ mang tính đa chiều, bao gồm không chỉ tình
trạng thu nhập thấp, mà còn là sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nạn
mù chữ, không có khả năng tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, đồng
thời ít có cơ hội tham gia vào những hoạt động gây tác động tích cực đến đời
sống. Trên toàn cầu có đến 1,2 tỉ người vẫn đang phải vật lộn mưu sinh với
nghèo; đồng thời cũng đưa ra những biện pháp hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện
mục tiêu này một cách triệt để hơn.
- Hoạt động công nghệ thông tin và truyền thông cho phát triển
(ICTs): Với mục tiêu tăng cường những tác động tích cực của ICTs trong
lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, UNDP nhấn mạnh:
• Phối hợp đưa ICTs vào khung chuơng trình xóa đói giảm nghèo và
thực hiện những MDGs.
• Lấy người dân làm trung tâm và hỗ trợ người nghèo được tiếp cận với
ICTs.
• Sử dụng một cách hiệu quả ICTs trong phát triển khu vực cũng như
những hoạt động kinh doanh quy mô nhỏ.
3. Chương trình của UNDP về năng lượng và môi trường
Những người dân thuộc các nước thế giới thứ 3 không chỉ sống trong
đói nghèo mà còn chịu ảnh hưởng bởi sự suy thoái môi trường, thiếu nước
sạch và cạn kiệt tài nguyên. Nhờ vào những chương trình hoạt động của
UNDP trên nhiều phạm vi lớn nhỏ, các quốc gia có thể tìm ra được những
giải pháp và chính sách tiến bộ, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và tăng
cường gắn kết thông qua những dự án thí điểm để giúp đỡ người nghèo có
cuộc sống ổn định hơn. Những hoạt động của UNDP trong lĩnh vực này tập
trung ưu tiên vào 5 lĩnh vực chính :
3.1 Quản lý hiệu quả nguồn nước
Quản lý nguồn nước là khái niệm để chỉ hệ thống những biện pháp liên
quan tới chính trị, kinh tế, xã hội, quản lý để phát triển và phân bổ tiết kiệm,
hợp lý, đảm bảo đủ nước cho người dân. Đây là ưu tiên số một mà bất cứ
quốc gia nào ở thế giới thứ 3 phải giải quyết. UNDP đã bắt tay với các quốc
gia giải quyết vấn đề này thông qua nhiều cấp độ khác nhau : Quản lý khu
vực về tài nguyên nước, nguồn cấp nước và vệ sinh; Hoàn thiện hệ thống
quản lý nguồn nước; Vượt qua những khó khăn về tài nguyên nước ở cấp
khu vực và toàn cầu….
3.2 Tiếp cận với dịch vụ năng lượng hiệu quả
hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em mà
còn ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, để lại tác hại lâu dài đối với sự phát
triển bền vững. UNDP đã thực thi các chương trình để giúp các nước thế
giới thứ 3 với trình độ khoa học kỹ thuật non kém có thể giảm thiểu lượng
thải cũng như mức độ độc hại của chất thải. Nổi bật trong số đó là 4 chương
trình lớn:
• Chương trình bảo vệ tầng ozon
xi
• Chương trình giảm thiểu và tiến tới loại bỏ những chât hữu cơ khó
hấp thụ đối với môi trường
• Chương trình định hướng quản lý hiệu quả hóa chất
• Chương trình giảm thiểu và ngăn chặn tác hại của hóa chất đối với
hệ thống nước ngầm.
Hiện nay, khi vấn đề tài nguyên môi trường đang ngày càng trở nên
bức thiết, sự định hướng giúp đỡ của UNDP đối với các nước thuộc thế giới
thứ ba là vô cùng cần thiết. Phải công nhận rằng các sự án và hoạt động đã
và đang được xúc tiến bởi UNDP trong lĩnh vực tài nguyên môi trường đạt
được những hiệu quả đáng kể không chỉ với các nước nghèo mà còn là hiệu
ứng lan truyền mang tính toàn cầu.
4. Quản lý rủi ro thiên tai
Có thể thấy rằng, thế kỉ XXI đã đánh dấu sự gia tăng của những thiệt
hại về người và của do thiên tai gây nên. Các thiệt hại này có ảnh hưởng
không đồng đều với từng nhóm người và từng khu vực, trong đó những
người chịu ảnh hưởng nhiều nhất lại thường là những người nghèo và những
nhóm người dễ bị tổn thương nhất là phụ nữ, trẻ em và người già. Quá coi
trọng vấn đề tăng trưởng kinh tế có thể dẫn tới phát triển đô thị không đồng
bộ, làm tăng nguy cơ tổn thất lớn khi động đất xẩy ra. Sự xuất hiện nhiều
khu định cư mới tại những khu ven biển có nguy cơ rủi ro cao đang làm gia
tăng số người và tài sản chịu ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt, và lốc xoáy,
đặc biệt còn có thể dẫn tới sự biến đổi về khí hậu.
đánh giá nhiều khía cạnh của rủi ro và thiệt hại trên 5 lĩnh vực chính. Các
hoạt động của dự án sẽ được đưa vào thực hiện trong vòng 5 năm, với trọng
tâm ban đầu tập trung vào vấn đề phát triển năng lực.
- Chứng minh: Tại một vài quốc gia, GRIP sẽ chứng tỏ rằng các thông
tin về rủi ro và thiệt hại do thiên tai có thể được sử dụng để có thể cải thiện
các quyết định quản lý rủi ro và các đầu ra của phát triển. Các minh chứng
này cần được đảm bảo rằng các bên liên quan phải đồng ý tham gia và sẽ sử
dụng những phân tích rủi ro này trong việc đưa ra các quyết định, kế hoạch
và chính sách ưu tiên.
- Phát triển năng lực: GRIP sẽ hỗ trợ phát triển năng lực của các đối tác
địa phương để có thể đảm trách việc nhận định rủi ro và sử dụng các kết quả
thu được. Các hoạt động bao gồm phát triển và nâng cao trình độ, đào tạo
các tổ chức và cá nhân của quốc gia trong phân tích rủi ro thiên tai.
- Mở rộng các dữ liệu về thiệt hại do thiên tai trên toàn thế giới: GRIP
sẽ mở rộng và tăng cường các chứng cứ về thiệt hại có liên quan đến thiên
tai. Lịch sử dữ liệu về thiệt hại là rất cần thiết trong việc nhận định rủi ro và
dự liệu được quá trình tiến tới giảm thiểu những thiệt hại do thiên tai gây ra.
Để làm được điều đó, cần phải phát triển các công cụ và tiêu chuẩn trong
việc nhận định thiệt hại và tổn thất, đẩy mạnh hệ thống hoá các dữ liệu đó để
phân tích và sử dụng.
xiii
- Phân tích rủi ro để hỗ trợ quyết định quản lý tại các nước có nguy cơ
cao: GRIP cam kết tạo ra những cơ hội thuận tiện và cung cấp các hỗ trợ về
kĩ thuật cho việc tiến hành phân tích rủi ro thiên tai.
- Cập nhật rủi ro thiên tai toàn cầu: Các phân tích rủi ro do GRIP đưa ra
sẽ được tập hợp và đưa vào cập nhật thông tin rủi ro toàn cầu theo định kì.
Những thông tin này sẽ được phân phối rộng rãi và mang đến một hệ thống
kiến thức chung nhất về rủi ro thiên tai và thiệt hại mà nó gây ra trên toàn
thế giới. Những cập nhật mới nhất sẽ được đưa ra dựa trên các phân tích do
các địa phương, quốc gia và khu vực đóng góp.
Là một trong những tổ chức phát triển lớn nhất trên thế giới, UNDP
có chiến lược giúp đỡ các quốc gia trên phạm vi rộng nhằm chỉ ra những
thách thức đến sự phát triển và những tác động xấu khác của đại dịch HIV.
Bên cạnh đó, UNDP thúc đẩy việc đưa vào thực tiễn những chính sách vĩ mô
nhằm duy trì được nguồn tài chính trong việc chống lại HIV/AIDS và tìm ra
những phương thuốc mới trong việc điều trị hay phòng chống HIV một cách
có hiệu quả.
HIV tấn công vào cốt lõi của nguồn nhân lực. HIV không những chỉ
làm yếu đi khả năng làm việc của con người mà còn cướp đi không biết bao
sinh mạng - điều này đã làm giảm đáng kể nguồn nhân lực hết sức quý báu
của cộng đồng. Trong những nỗ lực giúp đỡ các quốc gia trong việc đánh giá
đúng và làm dịu bớt tác động xấu của HIV đến sự phát triển con người,
UNDP tập trung vào các khu vực có khả năng giảm tỉ lệ mắc HIV trong kế
hoạch phát triển quốc gia, bao gồm chiến dịch xóa đói giảm nghèo, chương
trình viện trợ khu vực Các chương trình này làm tăng khả năng xây dựng
một cơ cấu kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy việc duy trì tài chính cho công cuộc
phòng chống HIV/AIDS, đồng thời bảo đảm có thể tiếp cận được các loại
thuốc phòng chống hay điều trị HIV/AIDS với chi phí thấp mà hiệu quả cao
khi cần thiết.
5.2 Giúp đỡ các chính phủ quản lí một cách hiệu quả hơn
những hoạt động phòng chống HIV/AIDS
Các chính phủ không những phải rung lên hồi chuông khẩn cấp về đại
dịch HIV/AIDS mà còn phải đưa ra những chiến dịch dài hạn nhằm phòng
chống căn bệnh quái ác này. Tất cả mọi quốc gia đặc biệt là những quốc gia
đang phát triển phải đối mặt với một nhiệm vụ hết sức khó khăn trong việc
phòng chống tỷ lệ rất cao và sự phức tạp của căn bệnh AIDS. Việc phòng
chống HIV/AIDS đòi hỏi bao gồm cả những hoạt động phân quyền và sự
tham gia phối hợp một cách bình đẳng chặt chẽ giữa các quốc gia với nhau.
Việc đánh giá đúng đắn những thách thức này, đưa ra những phương
hướng chiến lược hiệu quả đồng thời kiểm soát việc thực hiện những chính
triển năng lực và chính sách hỗ trợ tại tất cả các quốc gia ở Châu Phi trên
các lĩnh vực khác nhau: từ quản trị nhà nước dân chủ và thiết lập nền hòa
bình tới xóa đói giảm nghèo, phát triển khu vực tư nhân và hội nhập vào
thương mại quốc tế. Các chương trình hỗ trợ được tiến hành thông qua
các quan hệ hợp tác với lãnh đạo của các chính phủ, các tổ chức xã hội
xvii
Một vài con số về hoạt động phát triển ở Châu Phi năm 2005
• 45 nước thuộc tiểu vùng cận Sahara tại Châu Phi được hưởng lợi
ích từ hoạt động hỗ trợ phát triển của UNDP.
• 680 triệu USD là ngân quỹ của UNDP cho phát triển Châu Phi.
• 422.9 triệu USD là tổng số tiền UNDP và Nhiệm vụ Liên Hợp
Quốc tại Cộng hòa Dân Chủ Côngô bỏ ra để chuẩn bị cho cuộc
bầu cử Tổng thống và Quốc hội tại nước này – đây là chiến dịch
hỗ trợ lớn nhất và công phu nhất mà Liên Hợp Quốc đã từng thực
hiện từ trước đến nay.
và khu vực tư nhân đã cho thấy những ưu đãi mà các quốc gia châu Phi
có được.
Hai vấn đề quan trọng hàng đầu mà không chỉ rất nhiều chính
phủ các nước Châu Phi mà còn các tổ chức trên toàn thế giới đang
muốn giài quyết ở khu vực này là xây dựng nền dân chủ và đầy lùi đại
dịch HIV.
1.1 Quản trị quốc gia theo nguyên tắc dân chủ
Tại nhiều quốc gia mà nền độc lập vẫn còn hết sức non trẻ ở châu Phi,
việc xây dựng và duy trì một xã hội dân chủ vẫn đang gặp rất nhiều khó
khăn. Đó là lý do khiến tất cả các quốc gia tại châu lục này đều đề cao việc
cải cách hệ thống luật pháp nhằm tăng cường tính minh bạch, nâng cao nhân
quyền, bầu cử tự do công bằng và tính đa dạng trong hoạt động chính trị.
Vì vậy, hoạt động chính của UNDP trong lĩnh vực này ở Châu Phi là
giúp đỡ các nước quản lý hệ thống bầu cử và hoạt động Quốc hội, nâng cao
năng lực hành pháp cũng như khả năng điều hành của các cấp chính quyền
vùng hạ Sahara - nơi tỷ lệ bệnh nhân nữ đang tăng với tốc độ kinh hoàng.
Tại khu vực này, trong năm 2004, số người chết vì AIDS là 2,3 triệu người
trong khi số người mới nhiễm HIV là 3,1 triệu. Công bố những con số “rùng
mình” trên, Liên Hợp Quốc đã phát động một chiến dịch đẩy lùi HIV/AIDS
trị giá 200 tỉ USD.
UNDP đang hoạt động trên khắp châu Phi nhằm mục tiêu củng cố khả
năng của các tổ chức quốc gia, khu vực và địa phương, đặc biệt là tiểu vùng
cận Sahara và khu vực Nam Phi – nơi có 9 quốc gia với dân số chỉ khoảng
2% thế giới nhưng tỉ lệ người nhiễm HIV – AIDS lại chiếm tới 30% toàn
cầu. Bên cạnh đó, UNDP còn đẩy mạnh mối liên kết giữa những tổ chức này
và các định chế quốc gia – quốc tế khác. Tại châu Phi, UNDP có tiếng nói
rất quan trọng trong hệ thống chính trị, tầm nhìn chiến lược và lãnh đạo quốc
gia. UNDP hỗ trợ phát triển năng lực trong việc quy hoạch, quản lý và triển
khai thực hiện các dự án tại các địa phương, vùng và cả ở cấp độ quốc gia
nhằm biến việc ngăn chặn HIV/AIDS thành một phần không thể tách rời của
chiến dịch xóa đói giảm nghèo. Chủ trương chính là đảm bảo tất cả mọi
người đều được phổ biến những thông tin chính xác về HIV/AIDS, các bệnh
lây lan qua đường tình dục, chống lại việc phân biệt đối xử và định kiến với
những người có bệnh.
Một trong những chương trình của UNDP đang được triển khai tại Nam
Phi là: Bảo vệ những giá trị cuộc sống đang bị căn bệnh thế kỷ ăn mòn. Đi
vào hoạt động từ năm 2004, SACI hiện vẫn tiếp tục hỗ trợ các nước Nam
Phi trong việc phác thảo và thực hiện những chiến lược phòng chống HIV –
AIDS, thông qua những biện pháp ngày càng mang tính hệ thống và đồng
nhất hơn. Một ví dụ là việc điều động 97 Tình nguyện viên Liên hợp quốc
tới khắp 9 tỉnh của Zambia để tăng cường năng lực đối phó với HIV - AIDS
của các cơ sở y tế địa phương. Kết quả rõ nét mà chiến dịch này mang lại là
hiệu quả sử dụng hỗ trợ tài chính ngày càng tăng, lượng thuốc miễn phí cấp
phát cho người dân ngày càng được cải thiện, dù vẫn còn rất nhiều khó khăn.
xix
• Xóa đói giảm nghèo thông qua việc tạo dựng năng lực của chính
phủ cũng như khu vực tư nhân để tìm kiếm cơ hội đến với thương
mại toàn cầu.
• Làm việc với nhóm bộ trưởng các quốc gia Ả rập để cùng phát
triển định hướng kinh tế vĩ mô, xác định mức độ đầu tư cần thiết
cho mục tiêu thiên niên kỷ.
• Thực hiện các hoạt động đánh giá mức độ nghèo đói cũng như so
sánh giữa các quốc gia để tạo động lực xóa đói giảm nghèo ở các
nước như Li băng, Siri và Yemen.
c. Năng lượng & môi trường
UNDP giúp đỡ khu vực Ả rập nói chung đảm bảo vấn đề môi trường
và sự phát triển bền vững, vạch ra các chính sách và chiến lược và chương
trình quốc gia. Ngoài ra, ở góc độ quốc gia, UNDP còn là cầu nối cho sự
hợp tác giữa các đối tác trong nước và quốc tế bao gồm các chính phủ, các
cộng đồng dân cư và các ủy nhiệm của Liên hợp quốc.
d. Bình đẳng giới
UNDP hỗ trợ sự phát triển bình đẳng của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực
bao gồm cả kinh tế , xã hội cũng như ủng hộ các quyền hợp pháp của họ.
Ở từng quốc gia của khu vực thì nỗ lực của tổ chức là giảm thiểu
khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội, tạo cơ hội cho nữ giới
trong hệ thống chính trị, cũng như cơ hội được đối thoại, và chỉ ra các vấn
đề tồn đọng trong bạo lực giới tính. Những chương trình này có sự tham gia
hợp tác của chính phủ, cộng đồng dân cư và UN.
e. HIV /AIDS
Các hoạt động của UNDP về vấn đề HIV/AIDS chủ yếu được thực
hiện bởi HARPAS (chương trình phòng chống HIV/AIDS tại các quốc gia Ả
rập). Mục tiêu của chương trình là đem lại hiểu biết và sự tự nguyện chống
lại căn bệnh thế kỷ, thông qua hội đàm và làm việc với các lãnh đạo hồi
giáo, các tổ chức phi chính phủ , các nghị sĩ, các phương tiện thông tin đại
chúng và cả với những người nhiễm HIV.
hưởng khác do biến đổi khí hậu gây ra, hiện đang đe dọa hòa bình cũng như
sự phát triển bền vững của đất nước này.
Để thể hiện những nỗ lực của mình trong việc chung tay giải quyết
vấn đề môi trường, Sudan đã phê chuẩn hiệp định môi trường quốc tế được
kí theo các tiêu chí đã được thông qua trong hội thảo của UN về môi trường
và phát triển tại Rio de Janeiro 1992.
xxii
Trong những năm vừa qua với sự giúp đỡ của ủy ban môi trường quốc
tế, UNDP đã giúp chính phủ Sudan chuẩn bị chương trình hành động đa
dạng sinh học quốc gia và nhận diện những việc cần làm trước tiên để bảo
tồn đa dạng sinh học.
Để giúp đỡ chính phủ Sudan chuẩn bị hội nghị quốc gia lần 2 về biến
đổi khí hậu, hiện tại UNDP đang trợ giúp hội đồng tối cao về môi trường và
tài nguyên thiên nhiên để hoàn thành công tác chuẩn bị chương trình hành
động thích nghi với biến đổi khí hậu và kế hoạch trồng rừng quốc gia để
giảm ô nhiễm hữu cơ. Cả hai nguồn tài liệu trên đều đã được hội đồng bộ
trưởng tán thành và cũng đã được chính phủ Sudan thông qua và được đệ
trình lên văn phòng môi trường quốc tế.
UNDP cũng hỗ trợ các đối tác quốc gia và quốc tế để trình bày khung
văn bản chiến lược môi trường về vấn đề sử dụng nguồn nước xuyên biên
giới và các thách thức môi trường ở lòng chảo sông Nile.
3. Tác động tới các nước khu vực Châu Á –Thái Bình Dương
3.1. Tác động tới toàn khu vực nói chung
Xuyên suốt khu vực châu Á – Thái Bình Dương, UNDP giúp những
quốc gia đang phát triển xây dựng và chia sẻ những giải pháp của chính họ
cho những thách thức trong công cuộc phát triển, ủng hộ sự liên kết khu vực
để đối phó với những thay đổi đang diễn ra đồng thời kết nối những cá nhân
và tổ chức trong xã hội để họ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và nguồn
lực. Ảnh hưởng của UNDP đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương chủ yếu
quan trọng cho sự phát triển bền vững. Người nghèo luôn là đối tượng bị ảnh
hưởng nhiều hơn bởi suy thoái môi trường và thiếu sự tiếp cận với các
nguồn tài nguyên sạch. Những vấn đề toàn cầu này, giống như vấn đề biến
đổi khí hậu, giảm sút đa dạng sinh học và suy giảm tầng ozon đều không thể
được giải quyết bởi bất kì một quốc gia đơn lẻ nào.
Một trong những thành công phải kể đến của UNDP trong việc thực
hiện mục tiêu này là chương trình phát triển năng lượng nông thôn của
UNDP đã tài trợ dự án 24 kw thủy điện, mang điện đến cho 239 hộ gia đình
ở làng quê hẻo lánh Dandagaun với tổng số dân 1534 người, phần đông là
người dân tộc Tamangs and Magars. Đây là một trong những làng hẻo lánh
nhất Nepal, cách quận trung tâm Dhulikhel khoảng 65km.
e. HIV /AIDS
UNDP tích cực ủng hộ việc đặt HIV/AIDS là tâm điểm của tiêu dùng
ngân quỹ và kế hoạch quốc gia tại châu Á Thái Bình Dương, đồng thời giúp
tăng cường năng lực của mỗi quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề liên
quan đến những cá nhân và những tổ chức không thường xuyên tham gia
trực tiếp vào sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, UNDP còn hỗ trợ cho việc cải
tổ và phân quyền đối với các hoạt động ở cấp địa phương.
xxiv
Trong những năm gần đây, khi xu hướng toàn cầu hóa đã lan rộng và
được tăng cường cả về mọi mặt thì vai trò của UNDP không hề suy giảm -
và danh mục các dự án hợp tác của UNDP cũng mở rộng để đáp ứng những
yêu cầu trong thời kỳ mới. Ngày nay, các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương
đang khai thác ảnh hưởng, tri thức chuyên môn, kinh nghiệm và các hoạt
động tuyên truyền vận động toàn cầu của UNDP nhằm phục vụ các ưu tiên
phát triển bức thiết của mình trong một thế giới ngày càng mang nhiều thách
thức hơn.
3.2. Tác động tới Việt Nam
Là một trong những đối tác phát triển đầu tiên của Việt Nam, UNDP
có một vai trò đặc biệt, ngay từ những ngày đầu thống nhất đất nước cũng