Báo cáo " Bình đẳng giới trong đào tạo luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội " pot - Pdf 12

Thực hiện CEDAW trong đào tạo luật học

106

Tạp chí luật học số 3/2006 PGS.TS. Lê Thị Sơn *
1. Thc trng bỡnh ng gii trong
o to lut hc
cú th ỏnh giỏ c thc trng bỡnh
ng gii trong o to lut hc cn thit
phi xem xột nhiu yu t phn ỏnh bỡnh
ng gii, nh kt qu, quy mụ o to; s
lng, cht lng i ng cỏn b tham gia
o to; ni dung chng trỡnh o to cng
nh cỏc yu t khỏc tỏc ng n gii trong
quỏ trỡnh o to.
1.1. Sau 26 nm thnh lp, Trng i
hc Lut H Ni ó cú nhng úng gúp quan
trng trong s nghip o to lut hc cng
nh cho vic to ngun v o to li cỏn b
lm cụng tỏc phỏp lut trong c nc. n
nay, Trng ó o to c cho t nc 60
tin s lut hc, 561 thc s lut hc, 48.542

chim 32% (20/62) v s n hc viờn ang
c o to thi im nm 1996 chim 38%
(63/165) thỡ s n hc viờn cao hc ang
c o to nm 2005 chim 55% (93/167),
s n nghiờn cu sinh ang lm lun ỏn tin
s ti Trng chim 56% (22/39). (Phn ln
trong s nghiờn cu sinh ny l ging viờn
ca Trng i hc Lut H Ni).
Cỏc s liu thng kờ nờu trờn cho thy
tuy t l n ó v ang c o to cỏc
bc hc v loi hỡnh o to khỏc nhau u
tng, nhng cú t l v mc tng khỏc
nhau. iu ny ó cho thy v th ca ph n
* Trng i hc Lut H Ni
Thực hiện CEDAW trong đào tạo luật học

Tạp chí luật học số 3/2006

107

trong o lut hc m c th l trong i
ng nhng ngi ó v ang c o to
ngy mt nõng cao, th hin ngy cng
nhiu ph n ó c gng khc phc nhng
khú khn ca gii n, tranh th c hi phn
u vn lờn c o to v nõng cao
trỡnh chuyờn mụn. ú l c s quan

lp i hc ti chc t chc cỏc a
phng khỏc nhau cũn cho thy: Ni no
ph n cú iu kin gii phúng nhiu hn,
c quan hay a phng ni ph n cụng tỏc
chm lo v to iu kin cho ph n phỏt
trin tt hn thỡ ni ú t l n cỏn b c
o to hay o to li cao hn.
1.2. Thc trng bỡnh ng gii ti
Trng i hc Lut H Ni cng c
phn ỏnh qua s lng v cht lng cng
nh qua quỏ trỡnh phỏt trin ca i ng n
ging viờn hin nay ca trng.
T vic nhn thc ỳng n v tm
quan trng v vai trũ quyt nh ca i ng
ging viờn i vi cụng tỏc o to, c bit
l i vi cht lng o to cng nh v
iu kin cn bn m bo bỡnh ng gii
trong cụng tỏc o to, lónh o nh trng
ó cú chin lc v k hoch phỏt trin ton
din i ng ging viờn núi chung, i ng
n ging viờn núi riờng.
i ng n ging viờn ó cú s phỏt
trin mnh v s lng v cht lng trong
s phỏt trin chung ca i ng ging viờn.
c bit trong 10 nm cui, mc phỏt
trin c v s lng v cht lng ca i
ng n ging viờn cao hn mc phỏt trin
ca i ng nam ging viờn. Nu nh nm
1994 s n ging viờn ca Trng l 84,
chim 50% ca tng s ging viờn thỡ n

và sự phát triển của đội ngũ này giữ vai trò
quyết định sự phát triển của đội ngũ nữ
giảng viên nói chung. Trong thời gian cuối
sự phát triển của đội ngũ nữ giảng viên luật
là mạnh mẽ hơn cả. Nếu như năm 1996 số
nữ giảng viên luật là 71/153 (chiếm 46%),
trong đó có 2 tiến sĩ và 8 thạc sĩ (chiếm
14%) thì năm 2005 số nữ giảng viên luật là
89/177 (chiếm 50%), trong đó có 14 TS và
69 Thạc sĩ (chiếm 93%). Như vậy, hiện nay
hầu hết các nữ giảng viên luật đều có trình
độ tiến sĩ và thạc sĩ (83/89) .
Sự phát triển mạnh mẽ về trình độ
chuyên môn của đội nữ nữ giảng viên nói
chung và của đội ngũ nữ giảng viên luật nói
riêng, một mặt là kết quả của sự quan tâm
đặc biệt tới sự phát triển về trình độ chuyên
môn của đội ngũ nữ giảng viên từ phía lãnh
đạo nhà trường thông qua việc định hướng,
thúc đẩy, tạo điều kiện phát triển, mặt khác
là kết quả của sự nỗ lực vượt khó phấn đấu
vươn lên từ phía các nữ giảng viên. Qua đó
đã khắc phục được về căn bản sự chênh lệch
lớn về trình độ chuyên môn đã tồn tại trước
đây giữa đội ngũ nữ giảng viên và nam giảng
viên. Đây cũng chính là điều kiện căn bản
giúp đội ngũ nữ giảng viên của Trường ngày
càng khẳng định vị thế tương xứng trong
mọi hoạt động của nhà trường cũng như
trong đào tạo cán bộ pháp lí nói chung.

Thùc hiÖn CEDAW trong ®µo t¹o luËt häc

T¹p chÝ luËt häc sè 3/2006

109

Vượt lên các thách thức đó đội ngũ nữ giảng
viên đã có những bước tiến quan trọng trong
việc thực hiện nhiệm vụ này. Nếu như năm
1996 sự tham gia của đội ngũ nữ giảng viên
vào các hoạt động nghiên cứu khoa học khác
nhau, như viết giáo trình, sách tham khảo,
viết bài tạp chí, tham gia đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ và trường còn hạn chế, số
lượt nữ giảng viên tham gia chỉ đạt 24% của
tổng số lượt người tham gia (73/301), thì
trong 2 năm 2003 và 2004 tỉ lệ tham gia này
của đội ngũ nữ giảng viên đã tăng lên đáng
kể, chiếm 46% (314/687). Đặc biệt số nữ
tham gia đề tài cấp bộ được nghiệm thu
trong 2 năm này tăng đột biến, chiếm 67%
tổng số người tham gia (25/37).
Về phẩm chất chính trị đội ngũ nữ giảng
viên cũng có bước phát triển lớn. Nếu như
năm 1996 số nữ giảng viên là đảng viên chỉ
chiếm 34% của tổng số giảng viên là đảng
viên (32/95) thì đến nay số nữ giảng viên là

này đã tăng lên 34,8% (16/46). Trong các
cương vị trên, hầu hết các nữ cán bộ chủ
chốt đều cố gắng cao hoàn thành nhiệm vụ
được giao và qua đó góp phần rất quan
trọng vào việc thúc đẩy phát triển đào tạo
cán bộ pháp lí của đất nước.
Trong công tác quản lí các hoạt động của
nhà trường cũng như quản lí quá trình đào
tạo, nữ cán bộ của trường đang khẳng định
vị thế đặc biệt quan trọng. Công tác quản lí
của nhà trường ngày càng có vai trò lớn đối
với việc thực hiện quy mô đào tạo và nâng
cao chất lượng đào tạo, mà lực lượng chính
đảm nhiệm công tác quản lí lại là các nữ
cán bộ, chiếm khoảng 76% tổng số cán bộ
làm công tác quản lí. Không những vậy đa
số họ còn là những cán bộ quản lí cần mẫn,
trách nhiệm.
1.4. Dựa vào các cơ sở nêu trên có thể
khẳng định đội ngũ nữ cán bộ, giảng viên
của Trường Đại học Luật Hà Nội đã ngày
càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng,
có vị thế ngày càng cao và gần với vị thế
Thùc hiÖn CEDAW trong ®µo t¹o luËt häc

110


gặp phải những rào cản nhất định.
Định kiến giới mà nội dung căn bản
nhất là tư tưởng trọng nam khinh nữ chính
là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển
nguồn lực con người là phụ nữ, mà con
người vừa là động lực lại vừa là mục tiêu
của mọi sự phát triển. Định kiến giới tồn tại
cả ở cả phái nữ và phái nam. Tuy nhiên,
định kiến của nam giới đối với phụ nữ là
nghiêm trọng hơn và phổ biến hơn.
Những biểu hiện của định kiến giới cũng
đang tồn tại tương đối phổ biến trong xã hội.
Do định kiến giới và không có quan niệm
đúng đắn về trách nhiệm giới nên nhiều
người coi nghĩa vụ chăm sóc nuôi dạy con
cái là thuộc về người vợ, mặc dù Luật hôn
nhân và gia đình của nước ta đã quy định rõ
ràng về nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của vợ,
chồng. Trên thực tế, việc chăm sóc và nuôi
dạy con cái chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm.
Thực tế này không chỉ gây thiệt thòi cho con
trẻ là không nhận được sự chăm sóc, nuôi
dạy đầy đủ và cân bằng cả từ bố và mẹ -
những yếu tố quyết định cho sự phát triển
hoàn chỉnh nhân cách - mà còn thể hiện sự
bất bình đẳng đối với phụ nữ, làm hạn chế
điều kiện phát triển của phụ nữ trong xã hội.
Do bị tác động bởi tình hình chung như vậy
mà không ít nữ cán bộ và nữ giảng viên của

ở một phạm vi nhất định, đã hạn chế quyền
lao động, quyền tham gia công tác lãnh đạo,
quản lí, quyền phục vụ đất nước của phụ nữ
so với nam giới. Ngoài ra, quy định phân
biệt về tuổi đề bạt đối với phụ nữ còn tạo sự
thách đố đối họ, cùng đạt được các điều kiện
để được đề bạt vào cương vị nhất định nào
đó, hạn cuối cùng về tuổi của phụ nữ phải
sớm hơn nam viên chức 5 năm. Nếu trình
độ, năng lực và cố gắng ngang nhau, do
phải dành nhiều sức lực và thời gian cho
việc sinh con và nuôi dạy con cái (thế hệ
tương lai của đất nước), phụ nữ phát triển
chậm nhịp hơn nam giới là điều tất nhiên.
Vậy mà lại đòi hỏi hạn tuổi đối với họ sớm
hơn, khi quy định điều kiện đề bạt vào
cương vị lãnh đạo. Cũng do quy định này
mà tình trạng đội ngũ nữ trí thức, nữ tham
gia công tác lãnh đạo, quản lí nhà nước, xã
hội có số lượng hạn chế lại càng hạn chế
hơn so với đội ngũ này của nam giới.
2. Lồng ghép giới nhằm tiến tới bình
đẳng giới trong đào tạo luật học
Bình đẳng giới theo nghĩa đầy đủ là nam
giới và phụ nữ được bình đẳng về các điều
kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng, được
bình đẳng về cơ hội tham gia đóng góp và
hưởng lợi trong quá trình phát triển và bình
đẳng về quyền tự do, chất lượng cuộc sống.
Với nghĩa đó bình đẳng giới đang trở thành

và đang được quán triệt và áp dụng mạnh mẽ
hơn, thể hiện rõ nét ở tổ chức thực hiện và
thường xuyên đánh giá, tổng kết việc thực
hiện Nghị quyết số 04 (ngày 12/7/1993) của
Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng
về đổi mới và tăng cường công tác vận động
phụ nữ trong tình hình mới, Chỉ thị số 37
(ngày 16/5/1994) của Ban bí thư trung ương
Đảng về một số vấn đề công tác cán bộ nữ
Thực hiện CEDAW trong đào tạo luật học

112

Tạp chí luật học số 3/2006

trong tỡnh hỡnh mi; Tng cng t chc b
mỏy hot ng vỡ s tin b ph n t trung
ng n a phng; Ban hnh v t chc
thc hin cỏc Chin lc quc gia v K
hoch hnh ng vỡ s tin b ca ph n
Vit Nam, Ch th s 27 (ngy 15/7/2004)
ca Th tng Chớnh ph v tng cng
hot ng vỡ s tin b ca ph n v cỏc
vn bn khỏc nhm tng cng hot ng
ca cỏc cp cỏc ngnh vỡ s tin b ph
n; c bit, cũn th hin vic cỏc c
quan, t chc tham gia hoc cú trỏch nhim

thuc trỏch nhim ca ton ng b, lónh
o trng, lónh o cỏc n v v ban chp
hnh cỏc t chc xó hi trong Trng. Trỏch
nhim ny va phi c thc hin trong
cụng tỏc qun lớ, khai thỏc ngun lc con
ngi v t chc hot ng o to ngun
lc con ngi.
T thc trng bỡnh ng gii ti Trng
i hc Lut H Ni v yờu cu thc hin
bin phỏp lng ghộp gii nhm tng cng
bỡnh ng gii trong o to lut hc, cn
thit phi a ra mt lot cỏc gii phỏp c
th mang tớnh kh thi, ng b v thc hin
chỳng trong thi gian ti.
Phỏt huy ti a tim nng ca i ng n
cỏn b, ging viờn ca trng, hin ang
chim 60% tng s cỏn b, ging viờn ton
trng, phi c xem l phng hng
chớnh nhm tng cng bỡnh ng gii.
Mun t c iu ny thỡ i ng n cỏn
b, ging viờn phi c gii phúng bi cỏc
ro cn trong nhn thc, trong hnh ng, t
cỏc tỏc ng ca c ch, mụi trng cụng
tỏc, c bỡnh ng v c hi tham gia v
úng gúp vo cụng tỏc o to ca nh
trng. T phớa nh trng cn thc hin
mt s bin phỏp sau:
- T chc cỏc hot ng nhm nõng cao
nhn thc ca ton th cỏn b, ging viờn v
gii, bỡnh ng gii, bin phỏp lng ghộp

biện pháp tiếp sau đây. Đối với sinh viên cần
nâng cao hiệu quả giáo dục về giới và bình
đẳng giới trong tuần học tập chính trị đầu
năm học và trong công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng sinh viên của nhà trường. Ngoài ra,
trong giảng dạy các môn khoa học chính trị
của Khoa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, nếu cần thiết phải chú ý đưa nội dung
khoa học về giới và bình đẳng giới vào nội
dung giảng dạy của môn học.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến,
quán triệt đường lối, chính sách, pháp luật về
bình đẳng giới và về sự tiến bộ phụ nữ.
Công tác này không chỉ phải được tiếp tục
tăng cường đối với cán bộ, giảng viên nhà
trường, đặc biệt đối với các cán bộ chủ chốt,
mà còn phải được mở rộng cả đối với các đối
tượng được đào tạo trong phạm vi cả nước.
Là trung tâm đào tạo luật học lớn nhất
nước, Trường Đại học Luật Hà Nội cần đi
đầu trong việc tổ chức nghiên cứu sâu rộng
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
bình đẳng giới và ở phạm vi thích hợp đưa
nội dung các kết quả nghiên cứu này vào
chương trình đào tạo. Dựa trên các kết quả
nghiên cứu cần rút ra và đóng góp những
kiến nghị vào việc hoàn thiện chính sách,
pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới và vì
sự tiến bộ phụ nữ.
- Tự giác và chủ động thực hiện đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status