Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
MỤC LỤC
Nhận xét : 21
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động qua 3 năm 2009 – 2011 thì nguồn vốn huy động từ
tiền gửi dân cư và tiền gửi TCKT chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiền gửi từ dân cư trong năm
2010 tăng 79.11% so với 2009 với mức tương ứng là 337.002 triệu đồng. Đến năm 2011,
tiền gửi từ dân cư tăng 69.77% so với năm 2010 ứng với 532.373 triệu đồng. Đây là kết
quả của việc áp dụng mạnh mẽ các hoạt động marketing nhằm tạo hình ảnh tốt, giới thiệu
rộng rãi các sản phẩm dịch vụ tiết kiệm của ngân hàng đến với các tầng lớp dân cư. Tiền
gửi từ dân cư đa phần là tiền gửi tiết kiệm do đó nó có tính ổn định cao, dễ sử dụng đối với
ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần sử dụng tối ưu nguồn vốn này để đạt được hiệu quả cao
nhất 21
Bên cạnh đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế cũng đã tăng lên cụ thể là năm 2009 chiếm 35%,
năm 2010 chiếm 32% và năm 2011 chiếm 27.86% trong tổng nguồn vốn, ứng với mức
tăng là năm 2010 tăng 49.23% so với năm 2009 với số tiền là 131.515 triệu đồng. Sang
năm 2011, mức tăng trưởng này là 38.52% ứng với 153.566 triệu đồng so với năm 2010.
Việc tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng mạnh như vậy là do nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi
và tăng trưởng, sản xuất bắt đầu hoạt động trở lại, nhưng đến năm 2011 tỷ lệ có giảm so
với 2010 vì nền kinh tế có nhiều biến động, mà điều đó không làm ảnh hưởng đến hoạt
động của NH. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã không ngừng tăng cường các hoạt động
Marketing để tìm kiếm lượng khách hàng mới trong nền kinh tế như sử dụng các kênh
thông tin đại chúng, các chương trình tài trợ…Vì vậy Ngân hàng đã tận dụng được triệt để
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế 21
Đối với các khoản tiền gửi khác như tiền gửi của các TCTD, tiền gửi kho bạc, tiền gửi
khác… thì qua 3 năm 2009 – 2011 thì cũng có biến động nhưng không đáng kể trên tổng
nguồn vốn huy động. Tiền gửi của TCTD năm 2010 tăng 28.7% so với năm 2009 với mức
tăng là 22.552 triệu đồng, đến năm 2011 tăng 32.93% so với năm 2010 ứng với 33.308
triệu đồng. Do trong năm 2010, nhu cầu về vốn trong nền kinh tế của thành phố rất lớn, do
đó, các TCTD muốn rút tiền gửi ngân hàng về để cho khách hàng vay nhằm thu tiền lãi
nhiều hơn 22
Bên cạnh đó, ngân hàng đi vay để làm vốn cho mình thể hiện rõ qua các năm. Năm 2010
cao là do trong năm 2011 chi nhánh đã tăng cường khuyến khích khách hàng vay vốn,
chính vì vậy mà đem lại một khoản thu rất cao từ lãi vay, đẩy thu nhập của chi nhánh lên
cao. Bên cạnh đó, các dịch vụ thu ngoài lãi như là thu từ dịch vụ, thu kinh doanh ngoại hối
và thu khác cũng tăng đều qua các năm 24
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
DANH MỤC CC BNG
Nhận xét : 21
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động qua 3 năm 2009 – 2011 thì nguồn vốn huy động từ
tiền gửi dân cư và tiền gửi TCKT chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiền gửi từ dân cư trong năm
2010 tăng 79.11% so với 2009 với mức tương ứng là 337.002 triệu đồng. Đến năm 2011,
tiền gửi từ dân cư tăng 69.77% so với năm 2010 ứng với 532.373 triệu đồng. Đây là kết
quả của việc áp dụng mạnh mẽ các hoạt động marketing nhằm tạo hình ảnh tốt, giới thiệu
rộng rãi các sản phẩm dịch vụ tiết kiệm của ngân hàng đến với các tầng lớp dân cư. Tiền
gửi từ dân cư đa phần là tiền gửi tiết kiệm do đó nó có tính ổn định cao, dễ sử dụng đối với
ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần sử dụng tối ưu nguồn vốn này để đạt được hiệu quả cao
nhất 21
Bên cạnh đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế cũng đã tăng lên cụ thể là năm 2009 chiếm 35%,
năm 2010 chiếm 32% và năm 2011 chiếm 27.86% trong tổng nguồn vốn, ứng với mức
tăng là năm 2010 tăng 49.23% so với năm 2009 với số tiền là 131.515 triệu đồng. Sang
năm 2011, mức tăng trưởng này là 38.52% ứng với 153.566 triệu đồng so với năm 2010.
Việc tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng mạnh như vậy là do nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi
và tăng trưởng, sản xuất bắt đầu hoạt động trở lại, nhưng đến năm 2011 tỷ lệ có giảm so
với 2010 vì nền kinh tế có nhiều biến động, mà điều đó không làm ảnh hưởng đến hoạt
động của NH. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã không ngừng tăng cường các hoạt động
Marketing để tìm kiếm lượng khách hàng mới trong nền kinh tế như sử dụng các kênh
thông tin đại chúng, các chương trình tài trợ…Vì vậy Ngân hàng đã tận dụng được triệt để
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế 21
Đối với các khoản tiền gửi khác như tiền gửi của các TCTD, tiền gửi kho bạc, tiền gửi
khác… thì qua 3 năm 2009 – 2011 thì cũng có biến động nhưng không đáng kể trên tổng
triệu đồng và đến năm 2011, con số đã tăng lên một cách đáng kể là 380.846,8 triệu đồng.
Cụ thể là nguồn thu từ lãi là chủ yếu của chi nhánh với tỷ trọng luôn trên 80%. Năm 2010
thu nhập từ hoạt động này là 156.343,95 triệu đồng tăng 50.83% ứng với 79.474,55 triệu
đồng so với năm 2009. Sang năm 2011 doanh thu của CN vẫn tăng cao, mặc dù tình hình
kinh tế của năm gặp rất nhiều khó khăn. Trong năm 2011 tổng doanh thu đạt 380.846,8
triệu đồng tăng 45.35%, tương ứng tăng 118.826,3 triệu đồng. Khoản thu nhập này tăng
cao là do trong năm 2011 chi nhánh đã tăng cường khuyến khích khách hàng vay vốn,
chính vì vậy mà đem lại một khoản thu rất cao từ lãi vay, đẩy thu nhập của chi nhánh lên
cao. Bên cạnh đó, các dịch vụ thu ngoài lãi như là thu từ dịch vụ, thu kinh doanh ngoại hối
và thu khác cũng tăng đều qua các năm 24
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Ngân hàng là một trung gian tài chính, kênh dẫn vốn quan trọng cho nền
kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc hoàn thiện và mở
rộng các hoạt động (nhất là hoạt động tín dụng) là hướng đi và phương châm cho
các ngân hàng tồn tai và phát triển.
Với định hướng phát triển là ngân hàng bán lẻ, phục vụ chủ yếu cho các
khách hàng cá nhân nhỏ lẻ. Ngân hàng thương mại cổ phần ĐÔNG NAM Á
(SEABANK) đang từng bước cải thiện, nâng cao và đẩy mạnh các sản phẩm tín
dụng cá nhân nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
Hiện nay, một trong những sản phẩm mang lại thu nhập cao cho Ngân hàng
TMCP Đông Nam Á , được ban lãnh đạo SeABank chú trọng về chất lượng và định
hướng phát triển mạnh trong thời gian tới là sản phẩm cho vay tiêu dùng. Nếu như
nói đến tín dụng là chỉ nói đến sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể với nhau thì tín
dụng tiêu dùng làm người ta nghĩ đến mục đích của việc giao tiếp đó. Có thể nói
đây là mảng nghiệp vụ của ngân hàng tiếp cận gần nhất với cuộc sống của người lao
động nhằm hỗ trợ họ trong việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Nhu cầu của con người ngày càng được tăng lên cùng với sự phát triển của
3, Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng TMCP Đông Nam Á – CN Đà Nẵng qua 3 năm 2009 – 2011.
4, Phương pháp nghiên cứu
Để nắm được các thông tin, dữ liệu một cách chính xác và đầy dủ đáp ứng
nhu cầu phân tích các mục tiêu trên, em đã vận dụng những kiến thức đã học ở
trường cùng với việc thu thập thông tin trên sách báo, tạp chí, internet, đặc biệt là
những số liệu, tài liệu được thu thập trực tiếp tại ngân hàng. Trên cơ sở đó, dùng
phương pháp so sánh để thấy được hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân
hàng.
5, Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và phạm vi tiếp cận với ngân hàng có giới hạn, hơn nữa kiến
thức và kinh nghiệm công tác còn nhiều hạn chế nên trong phạm vi của đề tài chỉ
phản ánh, phân tích tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng tại SeABank qua 3 năm
2009 – 2011 và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động này.
6, Kết cấu chuyên đề
Kết cấu bài báo cáo thực tập ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính
được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về NHTM và hoạt động cho vay tiêu dùng
ở NHTM
Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng tại SeABank-CN
Đà Nẵng qua 3 năm 2009-2011.
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại SeABank-Đà
Nẵng.
Vì thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn ít. Em hi vọng sẽ nhận được sự
góp ý của cán bộ Ngân hàng, thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện
hơn.
Để hoàn thành đề tài này, em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình
của Cô Lê Phương Dung, cùng với các anh chị trong Ngân hàng TMCP Đông Nam
Á chi nhánh tại Đà Nẵng.
chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Nhờ nguồn vốn huy động được và cho khách
hàng vay khi cần, Ngân hàng có khả năng tạo nên một lượng tiền lớn hơn rất nhiều
so với lượng tiền ban đầu. Lượng tiền do ngân hàng tạo ra chính là bút tệ. Bút tệ là
loại tiền chỉ xuất hiện trên sổ sách của Ngân hàng. Lượng tiền này phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương, đặc biệt là “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc”
thông qua việc tăng giảm “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc” Ngân hàng trung ương sẽ có khả
năng giảm hoặc tăng lượng tiền trong lưu thông.
1.1.3/ Nghiệp vụ của NHTM.
1.1.3.1/ Nghiệp vụ huy động vốn.
Đây là nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn hoạt động của NHTM, Ngân hàng nào tạo
lập được nhiều nguồn vốn thì càng có điều kiện mở rộng cho vay, mở rộng tín dụng
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 3 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
cho nền kinh tế. Vì vậy nghiệp vụ nguồn vốn bao giờ cũng được quan tâm đúng
mức, gồm các hoạt động sau :
Nghiệp vụ tiền gởi
* Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
- Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền khách hàng gửi vào không xác định
trước thời hạn sẽ rút ra nên nó mang tính chất không kỳ hạn, khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào, là khoản tiền chờ thanh toán không phải gửi với mục đích để dành
mà nhằm an toàn tài sản, tạo được tiện ích trong thanh toán.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Khác với tiền gửi không kỳ hạn vì ngân hàng biết trước
thời gian người gửi rút tiền, là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng hay để dành nhằm
hưởng lợi tức và tìm kiếm sự an toàn cho đồng vốn của mình.
- Tiền gửi ký quỹ: Khách hàng gửi vào nhằm mục đích nào đó theo thoả thuận
giữa ngân hàng với khách hàng.
- Tiền gửi chuyên dùng: Là nguồn tiền do ngân sách cấp cho đơn vị hành
chính sự nghiệp mà doanh nghiệp phải để riêng và sử dụng cho mục đích đã xác
định.
* Tiền gửi của cá nhân dân cư
cho người khác, được dùng để thế chấp, chiết khấu cầm cố hay bảo lãnh vay vốn tại
ngân hàng.
Vốn vay
Trong quá trình hoạt động của mình nhiều lúc phát sinh các nghiệp vụ cùng
một lúc làm cho nguồn vốn hoạt động của các Ngân hàng không đảm bảo đáp ứng
các nhu cầu cho hoạt động của mình, vì thế Ngân hàng phải tiến hành vay vốn của
các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, của Ngân hàng Trung
ương,
Vốn tự có của Ngân hàng :
- Vốn điều lệ: Là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ
ngân hàng luôn luôn lớn hơn hoặc bằng nguồn vốn pháp định do nhà nước quy định
vào đầu mỗi năm tài chính.
- Các quỹ dự trữ: Quỹ dự trữ, quỹ dự trữ đặc biệt, quỹ khác.
- Lợi nhuận chưa chia: Theo qui định sau khi nộp thuế phần còn lại của lợi
nhuận được đem chia để bù lỗ năm trước, thu sử dụng vốn ngân sách, bù đắp những
khoản tiền phạt và chi phí không hợp lý mà không được tính vào chi phí để tính
thuế, trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng, tăng vốn điều lệ, dự phòng nói
chung còn lại đưa vào quỹ đầu tư phát triển.
Vốn khác
Ngoài các loại nguồn vốn trên thì Ngân hàng thương mại còn có nguồn vốn
trong thanh toán vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý
1.1.3.2/ Nghiệp vụ cho vay.
Đi đôi với nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ cho vay. Đây là nghiệp vụ
quan trọng nhất của NHTM, là thu nhập chính của ngân hàng.
Quy mô tín dụng của ngân hàng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào khả năng huy động
vốn của ngân hàng và nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Hoạt động cho vay của
ngân hàng ngày càng được mở rộng với nhiều loại hình khác nhau. Có các hình
thức sau:
Cho vay ngắn hạn bằng VND cho các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân nhằm bổ sung vốn điều lệ, vốn cố định trong quá trình kinh doanh.
trạng quá tải đối với cán bộ ngân hàng. Mất nhiều thời gian và tốn kém trong việc
thực hiện công tác cho vay. Cũng như theo dõi việc thu nợ.
Cho vay tiêu dùng có rất nhiều rủi ro nhưng việc phân tán rủi ro bởi rất nhiều
đối tượng tham gia vay vốn.
Cho vay tiêu dùng có nhiều rủi ro cao hơn so với cho vay trong lĩnh vực
thương mại và công nghiệp. Bởi lẻ chúng ta ít có thông tin hơn trong việc thẩm
định. Vì vậy công tác thẩm định gặp nhiều khó khăn dẫn đến rủi ro nhiều. Vì vậy lãi
suất của cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất cho vay kinh doanh
Chất lương thông tin tài chính của khách hàng vay tiêu dùng thường không
cao. Vì thường những khách hàng không phải là các pháp nhân nên việc kiểm soát
rất khó khăn chủ yếu dựa vào đạo đức của khách hàng.
Lãi suất cho vay tiêu dùng tính theo lãi kép.
Nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ
kinh tế và ít co giãn với lãi suất. Thông thường người đi vay hầu như ít quan tâm
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 6 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
đến lãi suất vay vốn mà họ chỉ quan tâm đến số tiền phải trả trong mỗi kỳ, mặc dù
lãi suất biểu hiện chi phí phải bỏ ra cho món vay đó. Đây là những món vay tiêu
dùng, không vì mục đích kinh doanh, nên người vay thường ít quan tâm đến chi phí
phải trả này.
Nguồn trả nợ chủ yếu của người vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá
trình làm việc kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này.
1.2.3/ Phân loại cho vay tiêu dùng.
1.2.3.1/ Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: Là khoản vay với thời hạn dưới 12 tháng, loại
này áp dụng lãi suất ngắn hạn, thường được sử dụng để cho vay phục vụ nhu cầu
tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân.
- Cho vay tiêu dùng trung hạn: Là loại vay với thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại
tín dụng này dùng để tài trợ vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định.
- Cho vay tiêu dùng dài hạn: Là khoản vay có thời hạn trên 5 năm, loại tín
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp : Được thực hiện bằng cách các nhà sản xuất hay
nhà cung ứng bán hàng hoá cho khách hàng và Ngân hàng sẽ thanh toán thay người
mua hàng. Đây là hình thức phối hợp giữa Ngân hàng và cá tổ chức bán lẻ hàng
hoá. Sau đó định kỳ Ngân hàng sẽ thực hiện thu Nợ từng người vay.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp : Là việc Ngân hàng thực hiện phát vay trực tiếp
cho người đi vay một số tiền mặt nhất định nhằm mục đích tiêu dùng. Định kỳ
người đi vay phải trả một số tiền theo qui định của Ngân hàng.
1.2.3.5/ Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay trả góp: là khoản vay mà người đi vay vốn phải trả nợ vay (cả gốc
lẫn lãi) cho tổ chức tín dụng làm nhiều kỳ liên tiếp như thỏa thuận (thường là tháng
hoặc quý).
- Cho vay trả một lần: là khoản cho vay mà người vay vốn chỉ thanh toán
một lần cho tổ chức tín dụng (cả gốc và lãi) khi đáo hạn hợp đồng theo thỏa thuận
của hai bên. Thông thường, đây là những khoản vay có quy mô vốn vay nhỏ thường
đi kèm với thời hạn ngắn và sử dụng cho mục đích như chi trả cho những chuyến đi
nghỉ, tiền viện phí, mua sắm các dụng cụ trong gia đình, các chi phí sửa chữa,…
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là hình thức cho vay mà ngân hàng cho
phép khách hàng sử dụng thể tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi
dựa trên tài khoản vãng lai. Thời hạn tín dụng phải được thỏa thuận trước căn cứ
vào: nhu cầu chi tiêu, thu nhập kiếm được từng kỳ. Khách hàng được ngân hàng
cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng
nhất định.
1.2.4/ Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng của NHTM
1.2.4.1/ Nhân tố khách quan
- Môi trường Luật pháp: Luật pháp là công cụ quản lý đắc lực của Nhà
nước, mọi cá nhân, tổ chức tại mỗi nước đều chịu sự chi phối của hệ thống pháp
luật do quốc gia đó quy định với những hoạt động của mình, các ngân hàng thương
mại cũng không phải ngoại lệ. Hơn thế nữa, hoạt động kinh doanh của các ngân
hàng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm - kinh doanh tiền tệ - thì sự giám sát kiểm tra
của Nhà nước là hết sức quan trọng và cần thiết; họ phải tuân theo các quy định của
đồng có thói quen hưởng thụ, luôn muốn thỏa mãn các nhu cầu của mình một cách
nhanh chóng và không ngừng mong muốn cải thiện và nâng cao cuộc sống hiện tại
thì cho vay tiêu dùng sẽ có cơ hội phát triển. Ngược lại, một cộng đồng mà các cá
nhân trong đó chủ yếu không thích mua sắm, không có thói quen tiêu dùng quá mức
những gì mà họ kiếm được tại thời điểm hiện tại thì xu hướng chung của họ là sẽ
tiết kiệm chứ không phải là đến Ngân hàng vay vốn để chi tiêu. Do đó, cho vay tiêu
dùng sẽ hoạt động hết sức khó khăn trong một môi trường như thế.
Ngoài ra, tình hình an ninh, trật tự xã hội cũng góp phần đáng kể trong việc
đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng. Với một xã hội an toàn, an ninh đảm bảo thì
càng có nhiều nhu cầu trong việc chi tiêu, hưởng thụ. Vậy nên càng có nhiều cá
nhân tìm đến Ngân hàng để được tài trợ nhằm thỏa mãn nhu cầu mà khả năng thanh
toán hiện tại chưa đáp ứng được.
1.2.4.2/ Nhân tố chủ quan
- Nhân tố xuất phát từ phía khách hàng:
+ Đạo đức của khách hàng: Đây là yếu tố tiên quyết vì nó thể hiện thiện chí
trả nợ đối với ngân hàng của người đi vay. Vì rằng ngay cả khi người đi vay có
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 9 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
nguồn thu nhập cao để trả nợ thậm chí đưa ra những tài sản đảm bảo tốt nhưng đạo
đức không tốt (không có thiện chí trả nợ) thì cũng không hứa hẹn một thiện chí tốt
khi người đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Chính vì vậy, tư cách đạo
đức của người vay là yếu tố quyết định đến khoản cho vay của ngân hàng
+ Khả năng tài chính: Sau khi xem xét tư cách đạo đức của người đi vay thì
việc đánh giá khả năng tài chính cũng rất quan trọng vì rằng nó quyết định khả năng
trả nợ. Khách hàng có thu nhập cao, việc thanh toán nợ ngân hàng ít ảnh hưởng đến
các nhu cầu chi tiêu khác (đặc biệt là nhu cầu chi tiêu thiết yếu), do đó khoản cho
vay ít rủi ro hơn.
+ Tài sản đảm bảo: Cơ sở để phòng ngừa rủi ro tín dụng chính là tài sản đảm
bảo. Nếu khoản vay tiêu dùng nào mà khách hàng có TSĐB thì càng an toàn cho
ngân hàng. Vì nếu khách hàng không có khả năng thanh toán thì ngân hàng có thể
+ Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh hoạt động
của một ngân hàng, là định hướng chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân
hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung
trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng cạnh tranh:
o Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng mở rộng, các hoạt động của
ngân hàng tập trung vào việc tăng trưởng dư nợ cho vay. Tuy nhiên,
cũng cần phải chú ý đến chất lượng của hoạt động tín dụng.
o Nếu ngân hàng có chính sách tín dụng trọng tâm, trọng điểm: các
ngân hàng sẽ tập trung vào các đối tượng khách hàng mà mình lựa
chọn.
+ Nguồn vốn của ngân hàng: Một điều kiện vô cùng quan trọng trong việc
mở rộng, đi sâu vào các hoạt động cho vay tiêu dùng đấy chính là nguồn vốn. Nếu
một ngân hàng có vốn lớn thì càng có cơ hội đầu tư nhiều vào trang thiết bị, vào
nguồn nhân lực… cho các hoạt động cho vay tiêu dùng. Thông qua đó, cho vay tiêu
dùng ngày càng được mở rộng.
1.2.5/ Sự cần thiết trong cho vay tiêu dùng.
Việc cho vay tiêu dùng của Ngân hàng có tác động ảnh hưởng rất lớn đối với
bản thân Ngân hàng, cũng như đối với người tiêu dùng và nền kinh tế.
- Đối với khách hàng: nhờ có cho vay tiêu dùng họ có thể được hưởng các tiện
ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó cần thiêt cho những
trường hợp cá nhân có nhu cầu chi tiêu cấp bách, nhu cầu chi tiêu cho giáo dục y
tế…
- Đối với ngân hàng: giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó
làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng, tạo điều kiện đa dạng
hóa được các sản phảm dịch vụ, tìm kiếm được lợi nhuận từ các khoản vay, tăng thu
nhập và phát tán rủi ro, góp phần quảng bá thương hiệu sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng.
- Đối với nền kinh tế: nếu cho vay tiêu dùng được tài trợ cho các chỉ tiêu về
hàng hóa và dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, giúp
hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được đều đặn, tạo điều kiện phát triển
từ làm cơ sở giải ngân. Bộ phận kế toán tiến hành thẩm định lại các hợp đồng và
các chứng từ theo các điều kiện trong hợp đồng tín dụng. Nếu thấy phù hợp thì tiến
hành giải ngân bằng chuyển khoản hoặc chuyển tiền mặt cho khách hàng.
Bước 5: Giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro
Sau khi giải ngân cho khách hàng, CBTD tiến hành theo dõi, giám sát quá
trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Các thông tin có thể thu thập từ nội bộ Ngân
hàng, các báo cáo tài chính định kỳ và các nguồn thông tin khác với mục đích giám
sát quá trình sử dụng vốn vay của ngân hàng.
Bước 6: Đến hạn trả nợ hay hết hạn trả nợ trong hợp đồng tín dụng, khách
hàng phải trả hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng không
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 12 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
trả được nợ và không được Ngân hàng gia hạn nợ thì Ngân hàng đưa ra những biện
pháp xử lý phù hợp và chấm dứt hợp đồng tín dụng
1.2.7/ Những chỉ tiêu dùng để phân tích cho vay tiêu dùng.
- Dư nợ bình quân: Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của
Ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn
càng nhanh thì được coi là tốt và ciệc đầu tư càng được an toàn.
- Nợ xấu bình quân: Đây là chỉ tiêu mà hầu hết tất cả các ngân hàng hiện nay
rất quan tâm, mặc dù khi cho vay thì công tác xét duyệt và thẩm định của ngân hàng
là rất cẩn trọng nhưng những bất trắc là không thể lường trước dẫn đến nợ xấu xảy
ra là điều không thể tránh khỏi .
Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến khách hàng mà còn ảnh hưởng rất lớn
đến Ngân hàng, về phía khách hàng thì phải chịu mức lãi suất quá hạn và mất lòng
tin, uy tín đối với ngân hàng. Còn về phía ngân hàng, nợ xấu xảy ra lớn thì hiệu quả
kinh tế sẽ bị giảm sút. Đòi hỏi ngân hàng cần phải tìm mọi cách để hạn chế nợ xấu
ở mức thấp nhất. Bởi thế, phân tích nợ xấu là vấn đề rất quan trọng để đánh giá
được hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, từ đó rút ra được ưu điểm để phát huy
và những hạn chế để khắc phục.
- Tỷ lệ nợ xấu bình quân: Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân
Tàu, Bình Dương, TPHCM; ở miền trung: Đà Nẵng và Nha Trang, nâng tổng số
điểm giao dich của SeABank trên toàn quốc là 125. Việc mở chi nhánh tại Đà Nẵng
của SeABank là rất quan trọng vì đây là chi nhánh đầu tiên tại miền Trung, nó đánh
dấu một bước phát triển mới nhằm phục vụ nhu cầu Tài chính – Ngân hàng đa dạng
của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tại “khúc ruột” của Tổ quốc.
SeABank – ĐN được khai trương ngày 21 tháng 12 năm 2006 tại địa chỉ : 23
Nguyễn Văn Linh, phường Nam Dương – Quận Hải Châu. Đây là chiếc cầu nối
quan trọng của SeABank với 2 thị trường miền Bắc và miền Nam.
SeABank – ĐN là một ngân hàng mới nhưng được đánh giá có tốc độ tăng
trưởng nhanh về vốn , tài sản và mạng lưới cùng với định hướng phát triển kinh
doanh trên nền tảng định vị sự khác biệt về cấu trúc tổ chức, định hướng tới khách
hàng các sản phẩm dịch vụ được thiết kế phù hợp vời từng phân khúc mục tiêu,
thích nghi tính đa dạng của địa phương. SeABank đã nhanh chóng hội nhập và bắt
kịp ngay với thị trường kinh doanh tại Đà Nẵng. Ngay ngày đầu khai trương chi
nhánh, ngân hàng đã huy động được 50 tỷ đồng từ tiền gửi dân cư, mở đầu cơ hội
kinh doanh cho thương hiệu SeABank tại khu vực này.
Nắm bắt được mục tiêu, kế hoạch của Thành phố và các nhu cầu đa dạng của
khách hàng địa phương, SeABank đã chủ động phát triển các sản phẩm ngân hàng
riêng biệt cho Đà Nẵng như: Chú trọng đến các dịch vụ ngân hàng, phục vụ danh
mục ngành nghề có thế mạnh tại khu vực: chế biến, xuất khẩu thuỷ sản , thương mại
dịch vụ, kinh doanh sắt thép, xây dựng dân dụng, bất động sản…,đặc biệt mở rộng
danh mục ngành nghề , lĩnh vực có yếu tố công nghệ cao .
Các sản phẩm chủ yếu như: tài trợ vốn lưu động, dự án trung và dài hạn, đẩy
mạnh các hoạt động tín dụng, xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…Ngoài ra, trước
nhu cầu cần được nâng cao năng lực tài chính, SeABank ĐN cũng quan tâm đến
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 14 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
mảng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ cá nhân, tiểu thương, bên
cạnh đó ngân hàng cũng phát triển thêm các dịch vụ ngân hàng cá nhân, trong đó
sản phẩm ngân hàng bán lẻ rất đa dạng như: gửi tiết kiệm, mở tài khoản, cho vay
TGĐ, trước HĐQT và trước pháp luật trong điều hành và quản lý mọi hoạt động
của chi nhánh theo chế độ một thủ trưởng hoạch toán phụ thuộc.
GĐCN có quyền quyết định mọi vấn đề hằng ngày của chi nhánh trong phạm
vi đã được TGĐ và PGĐ phụ trách khu vực miền Trung và miền Nam uỷ quyền.
GĐCN có quyền uỷ quyền cho các bộ phận , trong phạm vi uỷ quyền của TGĐ
do GĐ thay mặt mình thực hiện một số công việc cụ thể và chịu trách nhiệm về sự
uỷ quyền đó.
Phòng khách hàng cá nhân:
- Đề xuất chiến lược và mục tiêu kinh doanh thị trường khách hàng cá nhân.
+ Thực hiện xây dựng chiến lược phát triển cho tất cả các phân khúc của thị
trường khách hàng cá nhân trong địa bàn hoạt động.
+ Đặt ra mục tiêu phát triển danh mục khách hàng về các mảng: tài khoản tiền
gửi, tín dụng, huy động,
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 16 -
Giám đốc chi nhánh
TP Khách hàng
doanh nghiêp
TP Khách hàng
cá nhân
TP Quản trị và
hỗ trợ hoạt động
CVQL Khách
hàng DNo
CVQL
KH cá
nhân
Trưởng
quỹ
Trưởng
nhóm
- Đề xuất chiến lược và mục tiêu kinh doanh trên thị trường khách hàng tiền
năng.
+ Thực hiện xây dựng chiến lược phát triển cho tất cả các phân khúc của thi
trường khách hàng doanh nghiệp, khách hàng tiềm năng trong địa bàn hoạt động.
+ Dự báo, phân tích xu thế kinh doanh và thị trường cũng như đối thủ cạnh
tranh trong địa bàn quản lý để đề xuất kế hoạch hành động khả thi.
- Phát triển và đào tạo nhân lực.
+ Quản lý và đánh giá hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ nhân viên trực
thuộc.
+ Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ khung và đội ngũ cán bộ kế cận.
- Thực hiện các công việc khác theo sự phân công của Ban Giám Đốc.
Phòng quản trị và hỗ trợ hoạt động(QT&HTHĐ)
- Chịu trách nhiệm về các công tác liên quan đến quản trị và hỗ trợ hoạt động
kinh doanh của chi nhánh .
- Xây dựng, tổ chức, điều hành mọi hoạt động của phòng quản trị và hỗ trợ
hoạt động nhằm đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu công việc được giao.
- Giám sát việc hỗ trợ tín dụng và đặc biệt là phê duyệt việc tạo lập hợp đồng
vay, đăng ký thuế chấp kiểm soát tính tuân thủ của hồ sơ xin giải ngân trước khi
giải ngân theo quy định của SeABank.
- Đảm bảo công tác hậu cần của chi nhánh, kiểm soát chứng từ chi tiêu tại chi
nhánh.
- Chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng hoạt động của phòng.
- Kiếm vị trí trưởng phòng kế toán tại chi nhánh theo quy định tại Luật và chế
độ kế toán hiện hành.
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 17 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
- Phát triển và đào tạo nhân lực, Giám sát những thay đổi giữa chi nhánh và
trung tâm đào tạo của SeABank. Góp phần cải thiện kỹ năng và tính chuyên nghiệp
của nhân viên thông qua công tác đào tạo.
Phòng hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ hoạt động
được phê duyệt trong thời hạn quy định đối với mỗi giao dịch.
- Thực hiện các nghiệp vụ khác và trợ giúp Trưởng phòng trong công tác
quản lý nhóm Teller hàng ngày.
Phòng kho quỹ:
- Tổ chức thực hiện công tác điều phối tiền mặt: tiền quỹ đầu ngày, trong
ngày, đóng quỹ cuối ngày.
SVTH: Lê Huỳnh Ngọc Duyên - Trang 18 -
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS Lê Phương Dung
- Đảm bảo an toàn kho quỹ, bảo quản tiền mặt, hồ sơ và giấy tờ có giá, tài sản
quý.
- Thực hiện các giao dịch Tiền mặt và thu chi tiền của khách hàng tại chi
nhánh và các phòng giao dịch theo đúng quy định.
- Hoàn thành công tác nộp lĩnh tiền và tiếp quỹ ATM.
- Điều hành, đào tạo, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho nhân viên quỹ và
Teller.
- Báo cáo trực tiếp các công việc khác theo sự phân công của Trưởng đơn vị.
Phòng kinh doanh:
- Chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu mà chi nhánh giao về việc phát triển các hợp
đồng trả lương qua tài khoản với các doanh nghiệp và phát triển danh mục khách
hàng cá nhân, tài khoản vãng lai, thẻ, các dịch vụ ngân hàng từ xa, huy động và tín
dụng.
- Phối hợp với chuyên viên Quan hệ khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá
nhân để thực hiện việc khai thác và bán chéo các sản phẩm dịch vụ.
- Thực hiện việc chăm sóc khách hàng tiềm năng trong phạm vi vùng và lĩnh
vực hoạt động và chuyển các khách hàng tiềm năng và danh mục khách hàng của
CRO.
- Thực hiện các công việc khác theo sự phân công của Trưởng phòng khách
hàng cá nhân và Ban Giám Đốc chi nhánh.
2.1.3. Các sản phẩm, dịch vụ của NHTMCP Đông Nam Á – chi nhánh Đà
Nẵng:
Để biết rõ hơn về điều trên, ta có thể đánh giá hoạt động của ngân hàng qua việc
xem xét các chỉ tiêu tài chính của NH trong 3 năm vừa qua:
2.2.1. Tình hình huy động vốn của NHTMCP Đông Nam Á – chi nhánh
Đà Nẵng:
Nếu như vấn đề hằng ngày của các doanh nghiệp là kết hợp các yếu tố đầu vào
để tạo ra sản phẩm, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của khách hàng thì vấn đề hằng
ngày của Ngân hàng là huy động nguồn vốn để cung cấp đầy đủ nhu cầu về vốn cho
các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế. Với vai trò là trung gian tài chính, ngân
hàng sẽ đi vay để cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính. Vì thế việc huy động
vốn không chỉ có ý nghĩa riêng đối với bản thân ngân hàng và còn có ý nghĩa đối
với nền kinh tế. Thông qua hoạt động huy động vốn sẽ tạo nguồn vốn phục vụ cho
hoạt động đầu tư đồng thời đáp ứng nhu cầu cho người dân gửi tiền an toàn và
thuận lợi.
Nền kinh tế của Đà Nẵng trong những năm gần đây tăng trưởng rất mạnh, nhu
cầu về vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh cũng tăng cao. Mặt khác, Việt Nam đã
được gia nhập tổ chức thương mại thế giới-WTO, các doanh nghiệp nước ngoài đầu
tư vào nước ta ngày càng nhiều, do đó các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong
nước phải bổ sung vốn để đầu tư vào trang thiết bị, nâng cấp sửa chữa máy móc
mới có thể đứng vững và cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy,
đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn để đáp ứng được các nhu cầu của các doanh
nghiệp trong nước.
Dưới đây là bảng tình hình huy động vốn của SeABank-CN Đà Nẵng:
Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua 3 năm 2009 – 2011 ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Chênh
lệch(2010/2009)
Chênh
lệch(2011/2010)
Số tiền
78.592 10% 101.144 8% 134.452 6,78% 22.552 28,70% 33.308 32,93%
3,ĐI VAY
34.651 100% 48.275 100% 62.349 100% 13.624
39,32
% 14.074 29,15%
TỔNG
806.385 100% 1.311.078 100%
2.044.76
3 100%
504.69
3
62,59
% 733.685 55,96%
(Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009-2011 của SeABank-CN ĐN)
Nhận xét :
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng nguồn vốn huy động tăn qua các năm. Năm
2009 chi nhánh huy động được 806.385 triệu đồng. Sang năm 2010 mặc dù nên
kinh tế khó khăn nhưng tổng vốn huy động vẫn tăng lên đến 1.331.087 triệu đồng,
tăng 504.963 triệu đồng so với năm 2009 tương ứng với tỷ lệ tăng là 62,59%. Đến
cuối năm 2011 NH đã huy động được 2,044,763 triệu đồng tăng 733.685 triệu đồng
so với năm 2010, tương ứng tăng 55,96%. Mặc dù là tỷ lệ tăng có thấp hơn so với
năm 2010, nhưng số tiền thì vẫn vượt so với năm 2010. Đó là một điều đáng mừng
của NH, vì trong những tháng đầu năm 2011 lãi suất biến động rất mạnh, và cuộc
chạy đua lãi suất giữa các NH khác làm cho thị trường biến động rất mạnh, có rất
nhiều NH bị rơi vào tình trạng thanh khoản kém, nhưng SEABANK vẫn giữ được
một vị thế rất ổn định.
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động qua 3 năm 2009 – 2011 thì nguồn vốn
huy động từ tiền gửi dân cư và tiền gửi TCKT chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tiền gửi từ
dân cư trong năm 2010 tăng 79.11% so với 2009 với mức tương ứng là 337.002
triệu đồng. Đến năm 2011, tiền gửi từ dân cư tăng 69.77% so với năm 2010 ứng với