i
TÓM TẮT
1. Lý do chọn đề tài
Market timing (thời điểm thị trường) là một trường phái đầu tư phổ biến trên
thế giới, theo chiến lược này các nhà đầu tư sẽ cố gắng lựa chọn những thời điểm
phù hợp với kỳ vọng của mình để đầu tư, điều này mang lại tỷ suất sinh lợi cao cho
họ. Tuy nhiên, khả năng định thời điểm thị trường lại phụ thuộc vào mỗi nhà đầu tư
và không phải ai cũng có thể chọn đúng thời điểm đầu tư. Để làm rõ thêm về hiệu
quả của chiến lược định thời điểm thị trường, trên thế giới đã có rất nhiều bài
nghiên cứu được thực hiện và những kết luận của họ đôi khi là trái ngược nhau: có
những bài nghiên cứu chỉ ra rằng không có khả năng định thời điểm thị trường như
bài nghiên cứu của Ravi Jagannathan và Robert A Korajczy (1984), bài nghiên cứu
của Kim-Lian KOK, Kim-Leng GOH và Yoke-Chen WONG (2004), bài nghiên
cứu của Connie Becker, Wayne Ferson, David H. Myers và Michael J. Schill
(1998)…; tuy nhiên nhiều bài nghiên cứu khác lại khẳng định là có khả định định
thời điểm thị trường như bài nghiên cứu của Keith Cuthbertson , Dirk Ni tzsche and
Niall O’Sullivan (2010), bài nghiên cứu của Sanjay Sehgal và Manoj Jhanwar, bài
nghiên cứu của Paskalis và Glabadanidis (2012)
Những nhà đầu tư Việt Nam khi tham gia thị trường đều mong muốn có thể
đạt được lợi nhuận từ khoản đầu tư của mình, để làm được điều này họ không chỉ
cần kiến thức và kinh nghiệm, mà quan trọng hơn là phải có một chiến lược đầu tư
hiệu quả. Các nhà đầu tư Việt Nam thường sử dụng hai công cụ chính là phân tích
cơ bản và phân tích kỹ thuật, hai công cụ này đã giúp đỡ nhiều cho các nhà đầu tư
trong việc định thời điểm thị trường và ra quyết định đầu tư; tuy nhiên, vẫn chưa có
nhiều bài nghiên cứu định lượng về hiệu quả thực sự của những công cụ này đối với
thị trường Việt Nam. Qua tìm hiểu, chúng em nhận thấy thời điểm thị trường thật sự
là một chiến lược đầu tư hiệu quả, có thể giúp nhà đầu tư giảm rủi ro và gia tăng tỷ
suất sinh lợi mong đợi, đặc biệt nếu chiến lược này kết hợp với các công cụ khác
chứng khoán Việt Nam hay không?
Thứ sáu, phương pháp lựa chọn danh mục cổ phiếu và phương pháp
tính toán tỷ suất sinh lợi danh mục nào là tối ưu đối với nhà đầu?
Thứ bảy, nhà đầu tư nên áp dụng chiến lược định thời điểm thị trường
như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất?
iii
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu, chúng em giả định rằng thị trường Việt Nam là hiệu
quả, các nhà đầu tư có thông tin giống nhau về thị trường, mọi người được tự do
mua bán với nhau và các giao dịch sẽ được thực hiện ngay mà không phải chờ đợi.
Dữ liệu chúng em sử dụng là tỷ suất sinh lợi của thập phân vị được sắp xếp
theo các biến quy mô, P/B, CF/P, P/E, DIV/P, nhóm ngành. Danh sách những công
ty được chọn để tổng hợp các thập phân vị mang tính đại diện cho thị trường chứng
khoán Việt Nam, những công ty được chọn cũng thuộc những ngành đại diện cho
thị trường Việt Nam. Ngoài ra, chúng em còn sử dụng số liệu phần bù rủi ro thị
trường, phần bù quy mô, phần bù giá trị và số liệu đà tăng trưởng.
Nguồn số liệu là dữ liệu về giá, quy mô, P/B, CF/P, P/E, DIV/P, nhóm ngành
của 110 công ty có quy mô lớn nhất thuộc 10 nhóm ngành khác nhau niêm yết trên
cả 2 sàn HNX và HSX năm 2008. 110 công ty này được giữ nguyên trong thời gian
nghiên cứu để có một cái nhìn tốt nhất. Giá của các công ty được lấy theo tuần và
theo ngày. Các biến quy mô, P/B, CF/P, P/E, DIV/P, nhóm ngành của mỗi công ty
được tính toán từ dữ liệu báo cáo tài chính cuối năm của công ty đó. Nguồn số liệu
này được thu thập từ công ty Vietstock. Nguồn số liệu lãi suất phi rủi ro từ ngân
hàng nhà nước Việt Nam.
Nguồn dữ liệu được lấy từ 1/2008 – 12/2012, đây là thời kỳ khủng hoảng và
suy giảm của nền kinh tế Việt Nam khi chỉ số Vn – Index giảm từ 921.07
(2/1/2008) điểm xuống 413.73 điểm (28/12/2012).
làm tăng tỷ suất sinh lợi vượt trội MAP của chiến lược MA so với chiến lược BH.
Thứ ba, chúng em kiểm tra độ tin cậy của các kết luận trên bằng việc chia
nhỏ thành hai giai đoạn phụ với những đặc điểm khác nhau, kiểm định hiệu quả của
chiến lược tại những độ dài trung bình di động khác nhau, tính toán số lượng giao
dịch và chi phí giao dịch hòa vốn. Qua những việc làm trên, chúng em rút ra một số
kết luận sau: chiến lược thời điểm thị trường bằng trung bình di động chuyển đổi
trong giai đoạn ổn định mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn so với khi thực hiện chiến
lược trong thời kỳ kinh tế suy giảm; các yếu tố như quy mô, P/B, CF/P, DIV/P, P/E
không phải là các tiêu chí quan trọng để các nhà đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư,
chúng không ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận của chiến lược định thời điểm thị
trường bằng trung bình di động; sử dụng đường trung bình di động ngắn mang lại tỷ
suất sinh lợi vượt trội cao hơn khi sử dụng đường trung bình di động dài và đặc biệt
thích hợp cho thị trường Việt Nam; Tỷ lệ giao dịch chuyển đổi thành công của chiến
v
lược trung bình chuyển đổi di động rất đáng khích lệ, hơn 65% sau khi giao dịch
chuyển đổi mang lại tỷ suất sinh lợi dương và hơn 25% sau khi chuyển đổi mang lại
tỷ suất sinh lợi cao hơn mức tỷ suất sinh lợi phi rủi ro; Chi phí giao dịch chuyển đổi
không phải là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi vượt trội MAP.
Những điều này giúp chúng em khẳng định chắc chắn hơn về hiệu quả của chiến
lược định thời điểm thị trường bằng MA so với chiến lược mua và nắm giữ truyền
thống ở thị trường Việt Nam.
Thứ tư, chúng em kiểm tra khả năng định thời điểm trị trường bằng hai mô
hình Treynor-Mazuy và mô hình Henrikson-Merton, kết quả tìm ra bằng chứng yếu
về khả năng định thời điểm thị trường khi chúng em sử dụng dữ liệu tuần. Sau đó,
chúng em tìm hiểu thêm về bài nghiên cứu của Bollen và Busse (2001), bài nghiên
cứu này chỉ ra rằng một giá trị thường xuyên hơn của dữ liệu sẽ cho một kết quả
chắc chắn hơn về khả năng định thời điểm thị trường, vì thế chúng em tiến hành hồi
họ xung quanh đề tài này, từ đó chúng em rút ra được những vấn đề mình cần
nghiên cứu.
Phần 3 nói về những giả định, phương pháp nghiên cứu, những dữ liệu
nghiên cứu, nguồn số liệu, cách xử lý số liệu và các mô hình được sử dụng.
Phần 4 trình bày những kết quả nghiên cứu chính và những giải thích cũng
như kết luận rút ra xung quanh nội dung chính của bài.
Phần 5 tóm lại những kết quả nghiên cứu chính, đưa ra khuyến nghị đối với
nhà đầu tư và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
5. Đóng góp của đề tài
Thứ nhất, chúng em đã cung cấp những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng
định thời điểm thị trường bằng trung bình di động là một chiến lược đầu tư hiệu
quả, chiến lược này giúp nhà đầu tư không những hạn chế được những rủi ro khi thị
trường suy giảm mà còn giúp họ đạt được tỷ suất sinh lợi cao hơn thị trường, đặc
biệt chiến lược còn mang lại tỷ suất sinh lợi cao nữa khi nền kinh tế bước vào giai
đoạn ổn định.
Thứ hai, chúng em cũng cung cấp những bằng chứng về khả năng định thời
điểm trị trường bằng chiến lược chuyển đổi trung bình di động ở thị trường Việt
Nam ở mức dữ liệu thường xuyên (dữ liệu ngày). Tuy nhiên, khả năng định thời
điểm thị trường không phải là yếu tố duy nhất tạo ra tỷ suất sinh lợi vượt trội của
chiến lược MA so với chiến lược BH.
vii
Thứ ba, chúng em cung cấp cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Việt Nam một công cụ đầu tư hiệu quả: một công cụ mang lại tỷ suất sinh lợi cao và
rủi ro thấp hơn. Chúng em cũng đưa ra những khuyến nghị trong việc lựa chọn danh
mục đầu tư hay xác định chiều dài độ trượt hợp lý để giúp nhà đầu tư đạt được lợi
nhuận lớn nhất khi sử dụng chiến lược thời điểm thị trường bằng trung bình chuyển
đổi.
3. Phương pháp nghiên cứu iii
4. Nội dung nghiên cứu iv
5. Đóng góp của đề tài vi
6. Hướng phát triển đề tài vii
1. GIỚI THIỆU 1
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Những bài nghiên cứu về thời điểm thị trường 4
2.2 Những bài nghiên cứu về chiến lược trung bình di động 7
2.3 Những bài nghiên cứu về khả năng định thời điểm thị trường bằng trung
bình di động 11
2.4 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 14
3. DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Dữ liệu và xử lý dữ liệu 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Các giả định 17
3.2.2 Tính toán tỷ suất sinh lợi vượt trội MAP của chiến lược MA so với
chiến lược BH 17
3.2.3 Mô hình CAPM (1964), Fama-French (1992) và Carhart (1997) 19
3.2.3.1 Mô hình định giá tài sản CAPM của Sharpe (1964) 20
3.2.3.2 Mô hình ba nhân tố của Fama-French (1992) 20
3.2.3.3 Mô hình bốn nhân tố của Carhart (1997) 21
3.2.4 Mô hình xác định khả năng định thời điểm thị trường: 22
3.2.4.1 Mô hình xác định khả năng định thời điểm thi trường của Treynor
và Mazuy (1966) 24
3.2.4.2 Mô hình xác định khả năng thời điểm thị trường của Henriksson và
Merton (1981) 25
ix
CF/P Cash flow/Price (Dòng tiền chia giá thị trường)
EW Equal-weight (tỷ trọng bình quân)
FPTS Công ty cổ phần chứng khoán FPT
HSC Công ty cổ phần chứng khoán TP.HCM
IVS Công ty chứng khoán đầu tư Việt Nam
MA Moving Average (Trung bình di động chuyển đổi)
MAP Thu nhập trung bình vượt trội của chiến lược định thời điểm thị
trường bằng MA so với chiến lược BH
MT Market timing (Xác định thời điểm thị trường)
NĐT Nhà đầu tư
NT Số lượng giao dịch chuyển đổi
P/E Price/EPS (Giá thị trường chia thu nhập trên mỗi cổ phần)
PHS Công ty cổ phần chứng khoán Phú Hưng
SBSC Công ty chứng khoán Sacombank
SEASC Công ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á
SHS Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội
SSI Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
TSSL Tỷ suất sinh lợi
TVSI Công ty chứng khoán Tân Việt
VCBS Công ty TNHH chứng khoán NH TMCP ngoại thương Việt Nam
VW Value-weight (tỷ trọng theo giá trị vốn hóa thị trường)
xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Mức độ đại diện của các nhóm ngành được chọn
Bảng 3.2: Mức độ đại diện của danh mục các công ty được chọn
Bảng 3.3: Biểu phí giao dịch của các công ty chứng khoán
Bảng 4.1: Thống kê tóm tắt
ý nghĩa 5%, 19% các quỹ không khả năng market timing và số còn lại thì lại trễ
so với thị trường… Gần đây nhất Paskalis và Glabadanidis (11/2012) tiến hành
một bài nghiên cứu về khả năng market timing bằng chiến lược trung bình di
động trên chỉ số REIT và REITs trên thị trường Hoa Kỳ. Hendrik Bessembinder
và Kalok Chan (1997) đã cung cấp thêm những bằng chứng bổ sung cho nghiên
cứu của Brock, Lakonishok và LeBaron (1992) cho thấy rằng hình thức đơn giản
của phân tích kỹ thuật có khả năng dự báo cho những thay đổi của chỉ số công
nghiệp trung bình Dow Jones (DJIA), các bằng chứng này tồn tại cho dù thị
trường là hiệu quả. F.E.James (2001) tiến hành một loạt các thí nghiệm được
thực hiện trên dữ liệu thực tế trên thị trường, bằng cách sử dụng độ dài MA khác
nhau và tỷ trọng. Sadigh Raissi và Mohammad Reza Zakizadeh (2011) cũng đã
tiến hành một nghiên cứu để tìm thấy MA có thật sự đem lại hiệu quả không
bằng một nghiên cứu về lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Iranian nếu sử
dụng kỹ thuật giao dịch MA.
Thời điểm thị trường đã là một chủ đề được thảo luận rất nhiều trên thế
giới, chúng em nhận thấy đây cũng là một vấn đề cần thiết đối với nhà đầu tư
Việt Nam, đây là một công cụ đầu tư hiệu quả có khả năng làm tăng tỷ suất sinh
lợi cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vẫn chưa có nhiều bài nghiên cứu
2
đánh giá về tính hiệu quả của những chiến lược định thời điểm thị trường. Vì
vậy, chúng em thực hiên bài nghiên cứu: “Định thời điểm thị trƣờng bằng
chiến lƣợc trung bình di động” nhằm cung cấp những bằng chứng định lượng
về hiệu quả của chiến lược định thời điểm thị trường bằng trung bình di động
trên thị trường Việt Nam để giúp các nhà đầu tư hiểu thêm về chiến lược định
thời điểm thị trường và làm tăng thêm sự chắc chắn của những quyết định đầu tư.
Bài nghiên cứu tập trung vào những nội dung chính sau: thứ nhất, cung cấp bằng
chứng cho thấy chiến lược chuyển đổi trung bình di động có hiệu quả tốt hơn
chiến lược mua và nắm giữ là chiến lược tốt nhất trong dài hạn, vì không ai có
thể dự đoán được biến động của thị trường, do đó hãy chọn danh mục đa dạng
hóa của những cổ phiếu tốt, những cổ phiếu này luôn mang lại hiệu quả trong dài
hạn.
Định thời điểm thị trường bằng trung bình di động chuyển đổi là việc nhà
đầu tư sử dụng công cụ trung bình di động để xác định giá trung bình di động,
sau đó so sánh giá cả trung bình di động này với giá cả bình thường để ra quyết
định đầu tư mua, bán hay nắm giữ. Nếu có tín hiệu bán, nhà đầu tư sẽ bán danh
mục chứng khoán mình đang nắm giữ và đầu tư toàn bộ tiền thu được vào tín
phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng; nếu có tín hiệu mua, nhà đầu tư sẽ thực hiện
ngược lại, bán toàn bộ tín phiếu kho bạc và đầu tư toàn bộ vào danh mục chứng
khoán; nếu có tín hiệu nắm giữ, nhà đầu tư sẽ giữ nguyên danh mục của mình.
Việc xác định thời điểm sẽ được thực hiện liên tục trong suốt giai đoạn quan sát.
Bài viết này dựa trên bài nghiên cứu “Market timing with MA” của
Paskalis - Glabadanidis (9/2012). Tuy nhiên bài nghiên cứu này có một số điểm
khác biệt. Thứ nhất, để phù hợp với điều kiện của Việt Nam chúng em sử dụng
số liệu quan sát theo tuần, đồng thời cũng nghiên cứu thêm về số liệu ngày để
nghiên cứu về khả năng định thời điểm thị trường mà bài nghiên cứu của
Paskalis-Glabadanidis không thực hiện. Ngoài ra, bài nghiên cứu này chỉ tập
trung chủ yếu vào khả năng áp dụng chiến lược định thời điểm thị trường dựa
trên sự biến động của thị trường mà không quan tâm đến những yếu tố khác của
thị trường như thái độ nhà đầu tư, tính thanh khoản, hay những nhân tố thị trường
khác. Ngoài ra, chúng em cũng có một số giả định: thị trường Việt Nam là hiệu
quả, các nhà đầu tư có thông tin giống nhau về thị trường, mọi người được tự do
mua bán với nhau và các giao dịch sẽ được thực hiện ngay mà không phải chờ
đợi.
4
5
chứng khoán chất lượng cao có hiệu quả đầu tư cao và ngược lại. Điều này là
một lời giải thích hữu hiệu cho các kết quả thực nghiệm trước cho rằng hiệu suất
hoạt động của các quỹ tỷ lệ nghịch với khả năng định thời điểm thị trường hay
lựa chọn chứng khoán. Để kiểm tra hai tác giả đã thực hiện hai kiểm định là
Henriksson – Merton và Pfleiderer – Bhattacharya nhưng cả hai đều chỉ ra rằng
không có khả năng định thời điểm thị trường.
John R. Graham và Campbell R. Harvey (1994) đã có một bài nghiên cứu
về khả năng Market timing theo các đề xuất của bản tin phân bổ tài sản. 237 bản
tin đầu tư suốt giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 với hơn 15000 khuyến nghị
phân bổ tài sản được đưa ra. Các tác giả đánh giá phi tham số hiệu suất của các
bản tin đầu tư bằng cách tạo ra các danh mục đầu tư kết hợp các khuyến nghị của
các bản tin và so sánh hiệu suất của nó với một danh mục đầu tư tỷ trọng tiền mặt
cố định trên chỉ số S&P 500 có cùng phương sai không điều kiện. Và thấy rằng
hơn 75% các bản tin tạo ra lợi nhuận âm bất thường. Không có một bằng chứng
nào cho thấy các bản tin tư vấn đầu tư có khả năng cho lời khuyên thời điểm thị
trường tốt hơn mức bình thường.
Connie Becker, Wayne Ferson, David H. Myers và Michael J. Schill năm
1998 đã tiến hành điều tra khả năng định thời điểm thị trường với những tiêu
chuẩn của nhà đầu tư. Sử dụng một mẫu của hơn 400 quỹ tương hỗ của Mỹ từ
năm 1976 đến năm 1994, những phát hiện của tác giả cho thấy rằng các quỹ
tương hỗ không muốn mạo hiểm như các nhà đầu tư chuẩn. Không tìm thấy được
bằng chứng các quỹ có khả năng định thời điểm thị trường theo mô hình không
điều kiện nhưng cũng mở ra vài hướng nghiên cứu mới trong tương lai như mở
rộng mô hình và khoảng thời gian nghiên cứu.
Năm 2002 M. Hashem Pesaran và Allan Timmermann đã tiến hành một
bài nghiên cứu về lựa chọn thời điểm thị trường và dự đoán tỷ suất sinh lợi bằng
trường của các quỹ tương hỗ trên thị trường Ấn Độ. Bài nghiên cứu chỉ ra một
loạt các nghiên cứu trước đây về các quỹ tương hỗ và khả năng định thời điểm
thị trường như: nghiên cứu của Treynor và Mazuy (1966) với bằng chứng chỉ
có 1 trong số 67 quỹ tương hỗ có khả năng thời điểm thị trường, nghiên cứu của
Henriksson (1984) sử dụng kiểm định Henriksson và Merton (1981) chỉ tìm thấy
3 trong số 116 quỹ có tín hiệu thời điểm thị trường mang ý nghĩa thống kê dương
và nghiên cứu của Bollen và Busse (2001) với việc áp dụng nghiên cứu trước sử
7
dụng dữ liệu ngày và tìm ra bằng chứng cho market timing, Chance và Hemler
(2001) cũng thế.
Nghiên cứu của Bollen và Busse (2001) chỉ ra rằng khi sử dụng một
nguồn dữ liệu thường xuyên hơn chẳng hạn dữ liệu ngày thay vì dữ liệu tháng thì
các bằng chứng cho thấy 28% số quỹ trong mẫu thể hiện một giá trị alpha dương
theo mô hình bốn nhân tố của Jensen với các biến như quy mô, giá trị và xu
hướng. Khi tần số quan sát thường xuyên hơn làm rõ hơn kết luận về khả năng
market timing của các quỹ tương hỗ ngành công nghiệp. Khi các tác giả lấy
nguồn dữ liệu theo tháng thì dường như không tìm thấy bằng chứng nào cho khả
năng thời điểm thị trường. Tuy nhiên khi thay bằng việc sử dụng nguồn dữ liệu
theo ngày thì 45% các quỹ trong mẫu thể hiện khả năng thời điểm thị trường theo
mô hình đa nhân tố của Treynor-Muazy và 28% theo mô hình của Hendrikson-
Merton. Bài nghiên cứu này có những ý nghĩa quan trọng cho các nghiên cứu sau
này. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nên sử dụng dữ liệu với mức độ thường
xuyên hơn như dữ liệu ngày thay vì dữ liệu tháng và cũng đề xuất sử dụng mô
hình bốn nhân tố của Carhart (1997) vì giúp cho khả năng lựa chọn và định thời
điểm tốt nhất sau khi kiểm soát các đặc tính cá nhân. Kiểm định thực nghiệm
càng có giá trị hơn khi được tiến hành trên một thị trường mới nổi như Ấn Độ.
Qua những bài nghiên cứu trên, chúng em nhận thấy những nghiên cứu về
01/02/1990 - 05/17/2006. Kết quả cho thấy rằng quy tắc MA thực sự có khả năng
dự báo và có thể phân biệt mẫu hình giá định kỳ để giao dịch có lợi nhuận. Kết
quả cũng ủng hộ giả thuyết rằng các quy tắc giao dịch kỹ thuật có thể làm tốt hơn
chiến lược mua và nắm giữ. Chi phí giao dịch hòa vốn một chiều được ước tính
là giữa 0,61% và 2,36%, những chi phí hòa vốn này lớn hơn so với chi phí giao
dịch ước tính thực tế, ngụ ý các quy tắc kinh doanh này đem lại lợi nhuận cho thị
trường chứng khoán Úc.
Mitchell Ratner và Ricardo Leal (1998) đưa ra thêm nhiều bằng chứng
hơn bằng cách xem xét lợi nhuận tiềm năng của MA trên 10 thị trường chứng
khoán mới nổi của châu Mỹ Latinh và châu Á: Argentina, Brazil, Chile, Mexico,
Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan, và Thái Lan. Lợi nhuận mua
- bán bằng MA sau khi trừ chi phí giao dịch được so sánh với chiến lược mua và
nắm giữ. Đài Loan, Mexico và Thái Lan nổi lên như những thị trường mà chiến
lược có thể có lãi.
9
Eric M. Wilder (2009) cũng đã tiến hành một kiểm định 10 năm chiến
lược trung bình di động giản đơn (MA) với mục đích là để chứng minh liệu MA
đơn giản có thể được sử dụng để dự đoán hiệu quả giá cổ phiếu trong tương lai
và tốt hơn phương pháp mua và nắm giữ chứng khoán hay không. Tầm quan
trọng của nghiên cứu này là liệu MA có thể dự đoán giá trong tương lai và sau đó
chúng có thể được sử dụng để đạt được một lợi thế khi đầu tư vào thị trường
chứng khoán. Giá lịch sử đối với 29 trên 30 cổ phiếu trong chỉ số trung bình công
nghiệp Dow Jones đã được sử dụng để kiểm tra thực nghiệm tiêu chuẩn MA khi
mua và bán cổ phiếu có tốt hơn phương pháp mua-nắm giữ thông thường, kết quả
cho thấy rằng các kiểm tra MA không thể cạnh tranh với phương pháp mua -giữ
và biến động giá lịch sử không thể dự đoán giá trong tương lai. Các kết quả trong
nghiên cứu này chứng minh rằng đường trung bình di động có thể không phải là
giao dịch kỹ thuật trên thị trường chỉ số JSE ở Nam Phi trong giai đoạn 4/1988
đến 4/2007. Dữ liệu được chia nhỏ và thử nghiệm trong bốn giai đoạn không
chồng chéo. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là để xác định xem việc áp dụng
các quy tắc giao dịch kỹ thuật đơn giản MA và giao dịch tại điểm phá vỡ để các
giá đóng cửa quá khứ của chỉ số JSE All Share mang lại lợi nhuận vượt mức khi
so sánh với một chiến lược mua- giữ cơ bản. Lợi nhuận thặng dư từ chiến lược
MA bằng giao dịch kỹ thuật là 4.6% mỗi năm, lợi nhuận trung bình của mua –
nắm giữ hàng năm là 16,3%, và lợi nhuận vượt trội từ các quy tắc giao dịch kỹ
thuật đơn giản sau khi chi phí kinh doanh là trung bình 1,5% mỗi năm. Kết quả
cho thấy, phân tích kỹ thuật có thể tạo lợi nhuận vượt mức trên chiến lược mua
và nắm giữ. MA ngắn hơn được xác định là mang lại kết quả tốt hơn, ngay cả khi
có sự hiện diện của chi phí giao dịch. Lợi nhuận vượt mức là dương (trước khi
xét đến chi phí giao dịch) được quan sát thấy trong tất cả các tiểu giai đoạn được
kiểm tra (ngoại trừ tiểu giai đoạn 3 là thời kỳ với sự biến động giá lớn nhất và đi
ngang). Tiểu giai đoạn 4 cho thấy một xu hướng giá tích cực theo cấp số nhân,
dẫn đến lợi nhuận giao dịch kỹ thuật cao nhất. Cả hai tiểu giai đoạn 2 và 3 cho
thấy lợi nhuận âm khi so sánh với một chiến lược mua và nắm giữ một khi chi
phí giao dịch đã được xem xét. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng lợi nhuận
thặng dư có thể đạt được trong xu hướng tích cực của thị trường chứ không phải
là thị trường biến động cao hoặc thị trường con gấu, và rằng lợi nhuận vượt mức
không phải lúc nào cũng đạt được bằng cách sử dụng các quy tắc đơn giản kỹ
thuật sau khi chi phí giao dịch được khấu trừ.
Gần đây, Thomas Kilgallen (2012) đã tiến hành một kiểm định về phân
tích kỹ thuật với chiến lược MA đơn giản trên hàng hóa, chứng khoán toàn cầu
11
và tiền tệ. Ông cho rằng một nhà đầu tư hợp lý khi phải đương đầu với hai chiến
lược, một trong số đó có rủi ro thấp hơn đáng kể nhưng có lợi nhuận bằng hoặc
trên chỉ số REIT và REITs trên thị trường Hoa Kỳ. Bài nghiên cứu thể hiện
những bằng chứng cho thấy một chiến lược kinh doanh MA chiếm ưu thế hơn
chiến lược mua - nắm giữ các danh mục tài sản cơ sở bằng cách sử dụng lợi
nhuận hàng tháng của các chỉ số US REIT theo tỷ trọng vốn hóa (value-
weighted) và theo tỷ trọng đồng nhất (equal-weighted) trong giai đoạn tháng 1
năm 1980 cho đến tháng 12 năm 2010. Lợi nhuận bất thường phần lớn là không
nhạy cảm với bốn yếu tố Carhart (1997) và tạo ra các alpha có ý nghĩa kinh tế và
thống kê từ 10% và 15% một năm sau khi xét đến chi phí giao dịch. Kết quả này
được củng cố với các độ trễ khác nhau của MA và khi mở rộng với tâm lý đầu tư,
rủi ro thanh khoản, chu kỳ kinh doanh, sự lên xuống thị trường. Khả năng market
timing bằng chiến lược MA dường như là tác nhân chính của lợi nhuận bất
thường. Lợi nhuận chiến lược MA giống như lợi nhuận của một chiến lược
quyền chọn bán bảo vệ đúng giá liên quan đến danh mục đầu tư cơ bản. Chiến
lược MA tránh được sự suy giảm mạnh thời kỳ đầu năm 2008 và cơ bản tốt hơn
so với lợi nhuận tích lũy của chiến lược mua - nắm giữ dựa trên 20 chỉ số REIT.
Những nghiên cứu của các tác giả vừa kể trên chỉ là một phần trong những
nghiên cứu trước đây về lý thuyết định thời điểm thị trường cũng như chiến lược
giao dịch kỹ thuật MA được khá nhiều các nhà đầu tư sử dụng. Có những lý
thuyết với kết luận phản bác cho rằng MA hay thời điểm thị trường là không khả
thi, nhưng các tác giả cũng chỉ ra rằng vấn đề trong nghiên cứu của họ là do thiếu
hụt dữ liệu, một số tác giả khác cũng cho rằng họ đã sử dụng không hợp lý mô
hình.
Kim – Lian KOH, Kim – Leng GOH và Yoke – Chen WONG thực hiện
việc chia nhỏ giai đoạn nghiên cứu vẫn không tìm thấy kết quả market timing
nhưng Campell (2001) cũng chia nhỏ giai đoạn nghiên cứu cho kết quả thật ấn
tượng. Đa số các tác giả sử dụng nghiên cứu bằng dữ liệu tháng không tìm thấy
bằng chứng định thời điểm thị trường thì Bollen và Busse (2001) cũng như
Chance và Hemler (2001) chỉ với việc thay thế dữ liệu tháng của các nghiên cứu
tiến hành thay đổi thời gian trượt của chiến lược MA. Metghakhi, Glasure và
Gomez (2007) hay Campbell (2011) đề cập thêm chi phí giao dịch vào nghiên
cứu của mình. Những vấn đề này đều làm cho chiến lược định thời điểm thị
trường bị ảnh hưởng ít hay nhiều, vì vậy, để cho bài nghiên cứu của mình thể
hiện một cách toàn diện hơn chiến lược trung bình chuyển đổi, chúng em sẽ xem
xét tất cả các khía cạnh được đề cập ở trên như chia nhỏ giai đoạn nghiên cứu, sử
dụng các độ trượt khác nhau, chi phí giao dịch và vấn đề dữ liệu ở mức độ
thường xuyên hơn.
14
2.4 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu của chúng em nghiên cứu ba vấn đề chính:
Thứ nhất, khả năng định thời điểm thị trường ở Việt Nam như thế
nào khi kết hợp nó với chiến lược trung bình di động.
Thứ hai, hiệu quả của chiến lược thời điểm thị trường bằng trung
bình di động so với chiến lược mua và nắm giữ truyền thống như
thế nào.
Thứ ba, nhà đầu tư nên áp dụng chiến lược định thời điểm thị
trường như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất.
Để làm rõ những vấn đề trên, chúng em sẽ đi sâu vào những câu hỏi sau:
Thứ nhất, tỷ suất sinh lợi và rủi ro của chiến lược định thời điểm thị
trường bằng trung bình di động so với tỷ suất sinh lợi chiến lược
mua và nắm giữ như thế nào?
Thứ hai, tỷ suất sinh lợi vượt trội của chiến lược thời điểm thị
trường do những nhân tố nào quyết định?
Thứ ba, liệu có khả năng định thời điểm thị trường ở thị trường
Việt Nam hay không?
Thứ tư, ở những thời kỳ kinh tế khác nhau (bất ổn và ổn định) thì