Ảnh hướng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển - Pdf 12



TÊN CÔNG TRÌNH

ẢNH HƯỞNG CÚ SỐC GIÁ DẦU VÀ
GIÁ LƯƠNG THỰC VÀO LẠM PHÁT Ở CÁC
NƯỚC CHÂU Á ĐANG PHÁT TRIỂN

Mã số:…………
i
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lạm phát là vần đề vĩ mô luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà làm chính
sách cũng như dư luận. Đặc biệt ở những nước đang phát triển thì mục tiêu kiểm
soát lạm phát lại càng được xem trọng vì một sự gia tăng quá nhanh của lạm phát sẽ
nhấn chìm hết tất cả các nỗ lực phát triển kinh tế khác ở những quốc gia này. Một lý
do khác cho việc luôn đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát lên hàng đầu chính là do
những nước đang phát triển có nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào thế giới nói
chung và các khu vực bên ngoài có nhiều hoạt động giao thương nói riêng. Chính vì
nền kinh tế còn non trẻ, dễ bị tác động nên các chỉ báo kinh tế, đặc biệt là lạm phát
thường rất biến động. Xuất phát từ nhận định trên chúng tôi cho rằng lạm phát các
nước Châu Á đang phát triển cũng không ngoại lệ trong vấn đề sẽ chịu nhiều tác
động từ các thay đổi của tình hình kinh tế thời giới. Đồng thời theo thống kê chúng
tôi tìm thấy có một sự tương thích cao giữa sự gia tăng đột biến của lạm phát khu
vực các quốc gia Châu Á đang phát triển với sự gia tăng của giá dầu và giá lương
thực thế giới trong giai đoạn 2000-2012. Trên cơ sở đó, nhóm tiến hành thực hiện
bài nghiên cứu “Ảnh hướng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến
lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển” giai đoạn 2000-2012 với mong

thực(π
CPI food
) và lạm phát phi lương thực (π
CPI non-food
), và thành phần cuối cùng
là lạm phát kỳ vọng ở mỗi giai đoạn được dựa trên thông tin sẵn có ở thời điểm t-1.
Mẫu được quan sát trong bài bao gồm 10 nước trong khu vực các quốc gia Châu Á
đang phát triển gồm: Brunei, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia,
Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
iii
Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp ADF được thực hiện để kiểm tra tính
dừng của các biến sau đó xử lý các biến không dừng bằng cách lấy sai phân để đảm
bảo tất cả các biến của mô hình điều dừng nhằm tránh kết quả sai lệch do vấn đề hồi
quy giả. Các kiểm định đồng liên kết cũng được thực hiện để xem xét có hay không
mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến. Trường hợp các biến điều dừng và không
có đồng liên kết thì kết quả sẽ được ước lượng bằng mô hình VAR thông thường,
còn trường hợp các biến đều dừng nhưng có xuất hiện đồng liên kết thì ước lượng
của bài sẽ được thực hiện bằng mô hình VECM. Độ lớn của độ trễ được kiểm tra
bằng tiêu chuẩn Akaike. Phân tích phương sai được áp dụng để đánh giá nguồn gốc
của lạm phát và hàm phản ứng đẩy được lấy làm cơ sở để tính toán hệ số dẫn truyền
của các cú sốc cung thế giới vào giá cả trong nước.
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung của đề tài này gồm 5 phần chính:
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây đã thực hiện về sự dẫn truyền
của các cú sốc ngoại sinh vào giá cả trong nước.
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu - Mô hình và dữ liệu

6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Vì lý do hạn chế về mặt số liệu này đề tài này chỉ xem xét được tác động của cú sốc
giá dầu, giá lương thực và tỷ giá đến lạm phát CPI thông qua lạm phát CPI lương
thực và CPI phi lương thực. Mặt dù đã có xem xét đến tính phù hợp của hai biến
này trong mô hình nhưng xét về mức độ phù hợp thì hai biến CPI-F và CPI-NF
không thể thay thế hoàn toàn cho hai biến lạm phát chỉ số giá nhập khẩu (IPI) và
lạm phát chỉ số giá sản xuất (PPI) trong cơ chế dẫn truyền các các cú sốc ngoại sinh
vào lạm phát trong nước. Chính vì vậy mà có thể dẫn đến những sai lệch trong kết
quả đo lường. Việc hoàn thiện về số liệu IPI và PPI là cần thiết để tiến hành đánh
giá lại một lần nữa kết quả dẫn truyền từ giá dầu và giá lương thực vào lạm phát để
kiểm tra liệu có sự khác biệt nào khi dùng CPI-F, CPI-NF và dùng IPI, PPI để đánh
giá mức độ dẫn truyền của giá dầu và giá lương thực vào lạm phát ở các nước Châu
Á đang phát triển hay không ?
vi
Mục lục
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC HÌNH, VÀ BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG x
1. Tóm tắt: 1
2. Giới thiệu 2
3. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 7
4. Phương pháp nghiên cứu – Mô hình và dữ liệu 10
4.1. Mô hình 10


viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng
CPI-F Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng lương thực trong nước
CPI-NF Chỉ số lạm phát giá tiêu dùng hàng hóa phi lương thực
EIA Tổ chức quản lý thông tin năng lương (Enegry Information
Administration )
IFS Thống kê dữ liệu tài chính thế giới (International Financial
Statistic)
IMF Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetary Fund)
IPI Chỉ số giá nhập khẩu (Import Price Index)
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (Food
and Argiculture Organization)
PPI Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index)

Hình 5.7: Hàm phản ứng đẩy của lạm phát CPI-F và CPI-NF 34
Hình 5.8: Phân tích phương sai 40
Hình 5.9: Lỗ hổng sản lượng giai đoạn 2000-2012 41
Hình 5.10: Lãi suất danh nghĩa giai đoạn 2000-2012 43
Hình 5.11 : Hệ số dẫn truyền giá dầu thế giới vào lạm phát giai đoạn 2000-2012 46
Hình 5.12 : Hệ số dẫn truyền giá lương thực thế giới vào lạm phát giai đoạn 2000-
2012 50
Hình 5.13: Hệ số dẫn truyền tỷ giá hối đoái vào lạm phát giai đoạn 2000 - 2012 54
x
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm về tỷ giá, chính sách tiền tệ và tỷ trọng lượng thực trong CPI ở
các nước 6
Bảng 4.1: Tóm tắt nguồn thu thập dữ liệu 16
Bảng 5.1: Kết quả đo lường sự dai dẳng của lạm phát CPI, CPI-F và CPI-NF ở 10
quốc gia được quan sát, giai đoạn 2000-2012 32
Bảng 5.2: Thống kê mô tả sự dai dẳng lạm phát CPI, CPI-F và CPI-NF của mẫu giai
đoạn 2000-2012 32
Bảng 5.3: Số liệu xuất khẩu ròng dầu ở 10 quốc gia được quan sát 38
1 1. Tóm tắt:
Bài nghiên cứu này kiểm tra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá dầu,
giá lương thực và lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển . Đồng thời đo lường

tổng cầu tăng lên nhanh nhưng không bền vững. Trong khi đó, trong một thời gian
ngắn mức cung của nền kinh tế không thể tăng lên kịp thời để đáp ứng cho sự gia
tăng quá đôt ngột của tổng cầu. Điều này làm cho cầu vượt quá cung và chính sự dư
thừa trong tổng cầu này sẽ làm tăng áp lực gia tăng giá cả, kết quả là lạm phát tăng
lên. Ngược lại, một chính sách tiền tệ thắt chặt để kìm chế lạm phát sẽ đi kèm với
sự tổn thất do tạo nên những rào cản cho sự phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy,
sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng luôn là vấn đề mà được hầu hết các cơ
quan tiền tệ ở các nước cân nhắc.
Tuy vậy, bằng chứng về sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của khu vực các nước
Châu Á đang phát triển gian đoạn 2005-2007 đã diễn ra mức lạm phát thấp từ 2-4%
đã làm cho các cơ quan tiền tệ của các nước này bị ru ngủ trong sự thành công của
một chính sách tiền tệ có thể cân bằng giữa lạm phát và tăng trưởng. Không lâu sau
đó, sự thành công này đã nhanh chóng bị sụp đổ, lạm phát tăng lên đồng loạt ở hầu
hết các nước Châu Á đang phát triển (Hình 2.1). Tính trung bình trên toàn khu vực,
lạm phát năm 2008 là 7,38%, so sánh với mức 3,72% năm 2005 và 4,153% năm
2006. Và mặc dù chính sách tiền tệ đã có nhiều biện pháp để kìm hãm lạm phát leo
thang nhưng lạm phát của cả khu vực vẫn nằm ở mức 6,546% năm 2011 và 5,042%
năm 2012. Lạm phát tăng cao đã nhấn chìm hết tất cả những nổ lực phát triển của
Châu Á mặc dù mức tăng là khác nhau ở các nước.
3
Nguồn: Dữ liệu trực tuyến Thống kê tài chính thế giới (IFS), thu thập ngày
10/3/2013.
Vậy một câu hỏi đặt ra, điều gì đã làm cho lạm phát ở cả khu vực tăng nhanh trong
giai đoạn vừa qua ? Đây là một vấn đề đang còn mang nhiều tranh luận, tuy nhiên


Nguồn: Dữ liệu Giá hàng hóa cơ bản IMF ((IMF Primary Commodity Price tables,
Actual Price Series)
Chú thích: Giá hàng hóa thế giới được tính theo danh mục gồm 5 loại lương thực
chính là ngô (corn), đậu nành (soybean), lúa mì (wheat), gạo (rice) và đường
(sugar).
Vậy phải chăng cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới là nguyên nhân chính gây
ra sự tăng lên của lạm phát trong giai đoạn vừa qua hay đây chỉ là sự trùng khớp
ngẫu nhiên ? Xuất phát từ câu hỏi còn bỏ ngõ này, bài nghiên cứu này mong muốn
tìm được câu trả lời từ các phân tích thực nghiệm để xác định xem có mối liên quan
nào giữa giá dầu và giá lương thực với lạm phát ở khu vực hay không. Trong phạm
vi của bài nghiên cứu này, do giới hạn về mặt số liệu nên chúng tôi chỉ xem xét sự
ảnh hưởng của cú sốc giá dầu và giá lương thực thế giới đến lạm phát ở các 10 nước
đang phát triển ở Châu Á, cụ thể: Brunei, Cambodia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam.
Mục tiêu trọng tâm của bài nghiên cứu là tìm ra đâu là nguồn gốc của lạm phát ở
các nước Châu Á đang phát triển trong thời gian qua. Một mục tiêu khác của bài
nghiên cứu là đo lường mức độ dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu thế
giới vào giá cả hàng hóa trong nước. Tuy nhiên mức độ dẫn truyền này là không
giống nhau ở các nước. Bảng 2.1 trình bày một số đặc điểm của các quốc gia được
đưa vào mẫu quan sát theo thống kê của IMF, qua đó làm cơ sở để chúng tôi xem
xét sự phụ thuộc của mức độ dẫn truyền vào ba yếu tố: chế độ tỷ giá, mục tiêu của
chính sách tiền tệ và tầm quan trọng của lương thực trong CPI, được đại diện bằng
tỷ trọng lương thực trong rổ hàng hóa tính CPI. Sở dĩ chúng tôi xem xét đến ba yếu
tố trên là do: cú sốc ngoại sinh như giá dầu, giá lương thực sẽ thông qua tỷ giá tác
động vào giá cả hàng hóa trong nước và ứng với mỗi nước có một mục tiêu trọng
tâm của chính sách tiền tệ khác nhau thì các biện pháp để hạn chế mức độ dẫn
truyền của các cú sốc này vào giá cả nội địa sẽ bị giới hạn trong một phạm vi cụ thể
nhằm đảm bảo vẫn thực hiện được mục tiêu trọng tâm này. Ngoài ra, mỗi quốc gia
sẽ có một tỷ trọng lương thực trong CPI khác nhau, chính điều này sẽ làm cho mức

Khuôn khổ chính
sách tiền tệ
Tỷ trọng lương
thực trong CPI
Brunei
Chế độ tỷ giá chuẩn
tiền tệ
Neo tỷ giá
0,46
Cambodia
Thả nổi có điều tiết
không công bố trước
Neo tỷ giá theo
đồng Đô La
0,45
Trung Quốc
Hệ thống tỷ giá con rắn
tiền tệ
Neo tỷ giá theo
đồng Đô La
0,30
Ấn Độ
Thả nổi có điều tiết
không công bố trước
Khác
0,46
Indonesia
Thả nổi có điều tiết
không công bố trước
Khuôn khổ lạm

7 và cơ chế dẫn truyền. Phần 5 là nội dung nghiên cứu và thảo luận về các kết quả
chính của bài, đánh giá tầm quan trọng của hai cú sốc này trong việc giải thích sự
tăng lên của lạm phát ở 10 nước được nghiên cứu trong thời gian qua. Phần cuối
cùng nên lên kết luận nổi bật và một số hàm ý chính sách từ bài nghiên cứu.
3. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
Trong những năm gần đây, những ảnh hưởng từ sự tăng lên đột biến của giá lương
thực và giá dầu thế giới đến nền kinh tế đã trở thành một vấn đề nóng, nhận được
nhiều sự quan tâm của dư luận và các nhà nghiên cứu. Sau đây chúng tôi xin được
tóm tắt một số kết quả nghiên cứu đã được thực hiện về tác động của hai cú sốc này
đến lạm phát và một số chỉ tiêu kinh tế khác:
Theo bài nghiên cứu “Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển: Cầu kéo hay
chi phí đẩy ?” của Juthathip Jongwanich và Donghyun Park, 9/2008 thuộc bộ phận
nghiên cứu Ngân Hàng Phát Triển Châu Á tìm hiểu về nguồn gốc của lạm phát của
khu vực cũng như mức độ dẫn truyền của cú sốc giá dầu, giá lương thực năm 2008
vào lạm phát tiêu dùng ở chín nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore,
Thailand, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ đã tìm thấy những kết quả
chính sau:
- Lạm phát ở các nước Châu Á đang phát triển chủ yếu có nguyên nhân là các
yếu tố cầu kéo, cụ thể là sự dư thừa của tổng cầu và kỳ vọng lạm phát. Các
cú sốc ngoại sinh như giá dầu và giá lương thực chỉ giải thích khoảng 30%
lạm phát giá tiêu dùng của khu vực này. Qua đó cho thấy rằng, lạm phát của
khu vực này không hoàn toàn là do các nhân tố ngoại sinh nằm ngoài tầm
kiểm soát của các cơ quan tiền tệ và vì vậy chính sách tiền tệ vẫn là một công
cụ mạnh trong cuộc chiến chống lạm phát ở các nước này.
- Sự dẫn truyền của các cú sốc giá dầu và giá lương thực lớn hơn đáng kể đối
với giá sản xuất hơn là giá tiêu dùng. Sự tăng lên giá dầu và giá lương thực
giải thích khoảng hơn 50% lạm phát giá sản xuất trong khi đối với giá tiêu

Theo Eduardo Lora và Andrew Powell trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá lương thực
ảnh hưởng như thế nào để lạm phát ở khu vực Mỹ La-Tinh và vùng Caribbean ?”
9 8/2011 đo lường sự dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu năm 2011 vào
tỷ giá, lạm phát lương thực, lạm phát phi lương thực và lạm phát chỉ số giá tiêu
dùng của khu vực Mỹ La-tinh và Caribbean đã chỉ ra rằng: sự gia tăng của giá
lương thực thế giới làm lạm phát chỉ số giá tiêu dùng tăng lên khoảng 5% ở các
nước Bolivia, Cộng hòa Đô-mi-ni-a, Guatemala và Honduras. Ở một số nước có hệ
thống tỷ giá thả nổi như Brazil, Colombia và Mexico, nội tệ có xu hướng tăng giá
trị như một phản ứng lại với việc giá lương thực tăng cao và kết quả là làm giảm độ
dẫn truyền từ giá lương thực và giá dầu thế giới vào giá cả trong nước. Mức độ dẫn
truyền của hai cú sốc này vào lạm phát phi lương thực thì nhỏ hơn nhiều so với lạm
phát lương thực và lạm phát chỉ số giá tiêu dùng.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đây đã nêu, bài nghiên cứu của chúng tôi tập
trung vào phân tính sự ảnh hưởng của cú sốc giá dầu và giá lương thực trong suốt
giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 ở 10 quốc gia Brunei, Cambodia, Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam với hai
điểm nhấn là hai thời điểm giá dầu và giá lương thực đạt đỉnh vào năm 2008 và
2011. Trên cở sở kết hợp hai bài nghiên cứu của tác giả Juthathip Jongwanich,
Donghyun Park, 9/2007 và Eduardo Lora, Andrew Powell, 8/2011 bài nghiên cứu
của chúng tôi sẽ đo lường mức độ dẫn truyền của cú sốc giá lương thực và giá dầu
vào lạm phát ở nước này với cơ chế dẫn truyền thông qua các biến lỗ hổng sản
lượng, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát giá lương thực, lạm phát giá phi lương thực và cuối
cùng là vào lạm phát chỉ số giá tiêu dùng. Sự kết hợp này sẽ khắc phục được nhược
điểm hạn chế số liệu về chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá sản xuất ở nhiều nước
trong mẫu của bài nghiên cứu của tác giả Juthathip Jongwanich, Donghyun Park và
khắc phục được việc bỏ qua các tác động quan trọng như sự tác động của giá dầu
lên giá lương thực và sự tác động của hai biến này lên lỗ hổng sản lượng từ đó tác

tích phương sai (Variance decomposition analysis) được sử dụng để xác định nguồn
gốc của cú sốc trong mô hình VAR. Phương pháp này đã từng được sử dụng để biểu
diễn mối quan hệ năng động giữa các biến lạm phát. Mô hình VAR được xem là sự
lực chọn tốt cho việc đo lường mức độ tác động của các yếu tố khác vào lạm phát,
11 nó đã được nhiều nhà khoa học sử dụng trong bài nghiên cứu của mình trước đây,
cụ thể như sau:
- McCarthy (1999), Bhundia (2002) và Duma (2006)
1
sử dụng mô hình VAR
để đo lường sự dẫn truyền của tỷ giá hối đoái và cú sốc ngoại sinh năm 2008
và lạm phát ở Nam Phi, Sri Lanka và nhiều nước đang phát triển khác với
các biến giá dầu, lỗ hổng sản lượng, tỷ giá, chỉ số lạm phát giá nhập khẩu,
chỉ số lạm phát giá bán buôn, chỉ số lạm phát giá tiêu dùng và cung tiền.
- Sau đó vào tháng 9/2007, Juthathip Jongwanich và Donghyun Park đã dựa
trên mô hình VAR của Duma (2006) ở trên để tiến hành đo lường sự dẫn
truyền của các cú sốc ngoại sinh năm 2008 vào lạm phát ở các nước Châu Á
đang phát triển. Điểm mới trong mô hình của Juthathip Jongwanich và
Donghyun Park có xem xét thêm biến lương thực trong quá trình dẫn truyền
này.
- Eduardo Lora và Andrew Powell trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá lương
thực ảnh hưởng như thế nào để lạm phát ở Mỹ La-Tinh và vùng Caribbean
?” cũng sử dụng mô hình VAR để xem xét sự tác động của giá dầu và giá
lương thực đến lạm phát ở khu vực này. Tuy nhiên, trong bài này tác giả
phân tích sự ảnh hưởng riêng biệt của giá dầu hoặc giá lương thực đến giá cả
trong nước thay vì xem xét luôn sự dẫn truyền từ giá dầu lên giá lương thực
trong cơ chế dẫn truyền đến lạm phát. Ông tiến hành chạy mô hình VAR với
5 biến: giá dầu/hoặc giá lương thực, tỷ giá, CPI lương thực, CPI phi lương

và CPI-NF ở mẫu 10 quốc gia được quan sát trong bài này hay không ? Nếu mức độ
dai dẳng của hai biến này lớn đồng nghĩa với việc đây là hai cú sốc có tác động
trong bài hạn chứ không phải nhất thời. Đồng thời nếu tồn tại mối liên hệ dẫn
truyền từ CPI-F vào CPI-NF sẽ khẳng định được mô hình VAR 7 biến áp dụng
trong bài nghiên cứu này đảm bảo được cơ chế dẫn truyền theo trật tự Cholesky với
mức độ nội sinh từ trên xuống. Phần kiểm tra sự phù hợp của hai biến CPI-F và
CPI-NF sẽ được trình bày cụ thể trong phần nội dung nghiên cứu. Ngoài ra bài
nghiên cứu này sẽ đưa ra có một cái nhìn mới về lạm phát lương thực, lạm phát phi
lương thực. Như vậy, mô hình VAR của chúng tôi sử dụng trong bài này gồm 7
biến sau: Hai thành phần đầu tiên là lạm phát giá dầu (π
oil
) và lạm phát giá lương
thực (π
food
), là tác động của cú sốc cung thế giới tới lạm phát (cái được đề cập ở đây
là lạm phát chi phí đẩy). Thành phần thứ ba là lỗ hổng sản lượng (y), được xem là
cú sốc cầu, tác động của cú sốc tỷ giá ( ) đến lạm phát được xem là thành phần
thứ tư. Thành phần thứ năm và thứ sáu là tác động của các cú sốc đến hai thành
13 phần của lạm phát tiêu dùng tổng thể (CPI) là lạm phát CPI lương thực(π
CPI food
) và
lạm phát phi lương thực (π
CPI non-food
). Thành phần cuối cùng là lạm phát kỳ vọng ở
mỗi giai đoạn được dựa trên thông tin sẵn có ở thời điểm t-1. Mô hình VAR với 7
biến thành phần trên có thể được biểu diễn như sau:


oil
= E
t-1

oil
) +

π
food
= E
t-1

food
) + a
1
+

y
t
= E
t-1
(y
t
) + b
1
+ b
2
+
∆e = E
t-1

+ e
2
+ e
3
+ e
4
+ e
5
+
π
CPI
= E
t-1

CPI
)+ f
1
+ f
2
+ f
3
+ f
4
+ f
5
+f
6
+

14

thập từ nguồn “Specifications for Commodity prices của IMF Primary

Trích đoạn Đo lường mức độ dẫn truyền từ CPI-F vào CPI-NF Kết quả ước lượng mô hình VAR Dẫn truyền của cú sốc giá dầu vào lạm phát Dẫn truyền của cú sốc giá lương thực vào lạm phát Dẫn truyền của cú sốc tỷ giá vào lạm phát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status