Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng
kể trên tất cả các lĩnh vực nh kinh tế, văn hoá - xã hội. Đời sống của ngời lao
động từng bớc đợc cải thiện, song bên cạnh những thành quả đạt đợc trong kinh
tế thị trờng cũng gây ra các mặt tiêu cực, chịu ảnh hởng của các quy luật kinh tế
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh đã gây ra sức ép lớn đối với nền sản xuất
xã hội. Một mặt do ảnh hởng của cơ chế cũ, kém nhạy bén trong sản xuất, kinh
doanh. Mặt khác do khu vực kinh tế quốc doanh vẫn đợc u tiên phát triển mạnh,
cả về quy mô và số lợng nhng hoạt động lại kém hiệu quả. Khu vực này thờng
thu hút phần lớn lực lợng lao động nên đã gây ra những lãng phí về vốn, lao
động và tài nguyên. Một tất yếu khách quan đặt ra phải đổi mới cơ chế quản lý,
đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, tiết kiệm chi phí. Dẫn đến thực trạng
các doanh nghiệp đã dôi ra một lực lợng lao động khá lớn không có việc làm
trong khi các thành phần kinh tế khác cha đủ khả năng thu hút, tiếp nhận số lao
động này gây ra thất nghiệp.
Giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm, tạo việc làm, nâng cao trách
nhiệm đảm bảo đời sống cho ngời lao động vừa là vấn đề cấp bách, vừa có ý
nghĩa chiến lợc lâu dài vừa là mục tiêu xã hội hàng đầu đối với Đảng và Nhà n-
ớc ta. Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: "Giải quyết việc làm là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của chính sách xã hội, là yếu tố quyết định để phát huy
nhân tố con ngời, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh hóa xã hội, đáp
ứng nguyện vọng và yêu cầu bức xúc của nhân dân"{1}.
Giải quyết tốt việc làm cho ngời lao động, sẽ giải quyết đợc mọi quan hệ
xã hội. Thực tế cho thấy, mọi tệ nạn xã hội đều bắt nguồn từ nguyên nhân sâu
sa đó là đội ngũ những ngời thất nghiệp.
Tổ chức Công đoàn với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động mà trọng tâm là giải quyết việc
làm cho ngời lao động. Có việc làm ngời lao động sẽ có thu nhập, làm cơ sở cho
việc thực hiện chế độ, chính sách đối với ngời lao động. Luật Công đoàn Việt
Nam khẳng định: "Công đoàn cơ sở có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực
làm
Sắp
xếp
lại lao
động
Tổ
chức
lại lao
động
Đào
tạo, đào
tạo lại,
bồi dư
ỡng
nâng
cao
trình độ
CN-LĐ
Tổ chức
các
phong
trào thi
đua,
luyện
tay
nghề,
thi thợ
giỏi
Mở
rộng
4.1.Đối tợng nghiên cứu :
- Công đoàn Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 8.
4.2.Khách thể nghiên cứu :
- Hoạt động công đoàn Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 8
- Cán bộ, công nhân viên chức, lao động Tổng công ty.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: tại Tổng công ty Xây dựng công trình Giao
thông 8.
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 1998 đến 2003.
6. Phơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phơng pháp phân tích tổng hợp các kết quả sản xuất kinh
doanh hàng năm của Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 8.
-Nghiên cứu Hoạt động của công đoàn thông qua các báo cáo tổng kết
hoạt động công đoàn một số năm gần đây và khảo cứu các tài liệu thứ cấp.
- Khảo sát tình hình thực tế về sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
- Sử dụng phơng pháp chuyên gia.
7. Kết cấu đề tài bao gồm 3 phần:
- Chơng 1: Những vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm.
- Chơng 2: Công đoàn Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông
8 tham gia giải quyết việc làm cho công nhân, viên chức, lao động.
- Chơng 3: Kết luận và khuyến nghị.
Trong thời gian tìm hiểu và nghiên cứu khoa luận không tránh khỏi
những thiếu sót nên em rất mong sự góp ý, giúp đỡ của giáo viên hớng dẫn và
của các đồng chí tại Tổng công ty Xây dựng công trính Giao thông 8.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Tăng Quyết Thắng và đồng chí
Vũ Chí Thọ Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty đã nhiệt tình hớng dẫn em hoàn
thành khóa luận này.
Chơng 1
Những vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm
1.1 Một số khái niệm
làm việc hoặc làm việc cả ngày, nhng có năng suất lao động thấp dẫn đến thu
nhập cũng rất thấp nhng họ vẫn phải chấp nhận và không có sự lựa chọn nào
khác để đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân và gia đình, ở đây rõ ràng bộc lộ sự
không hợp lý trong khái niệm ngời có việc làm.
Do đó, để đánh giá khái quát hơn khái niệm "có việc làm", cần phải đợc
bổ sung với ý nghĩa đầy đủ của nó, trên hai khía cạnh chủ yếu đó là mức độ sử
dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi
hỏi ngời làm công việc đó có thể sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo chế độ
(ở Việt Nam quy định là 8 giờ/ngày). Mặt khác, làm công việc đó phải mang lại
một khoản thu nhập không thấp hơn mức tiền lơng tối thiểu là 290.000đ/tháng.
Việc lợng hoá ngời có việc làm theo khái niệm này sẽ cho chúng ta một cách
nhìn nhận trung thực hơn về mức độ sử dụng lao động xã hội và xác định đợc
quy mô việc làm cần phải tạo thêm cho lao động xã hội.
1.1.2. Tạo việc làm
Tạo việc làm theo nghĩa rộng là những vấn đề liên quan đến việc phát
triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, quá trình đó diễn ra từ việc giáo
dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho ngời lao động bớc vào cuộc
đời lao động đến việc tự do lao động và hởng thụ xứng đáng với giá trị lao động
mà mình đã tạo ra.
Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hớng vào đối tợng thất nghiệp, cha
có việc làm hoặc thiếu việc làm, nhằm tạo thêm chỗ làm việc cho ngời lao
động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao nhất.
Tạo việc làm đầy đủ cho ngời lao động không những tạo điều kiện để ng-
ời lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã
hội làm cho xã hội càng văn minh hơn. Tạo việc làm đầy đủ cho ngời lao động
còn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngời lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền
đợc làm việc, nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng đất nớc.
1.1.3. Thất nghiệp
Thất nghiệp là một hiện tợng kinh tế - xã hội tồn tại trong nhiều chế độ
việc cho lao động xã hội làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đợc toàn thế giới quan tâm và cam kết thực
hiện. Trong cơ chế thị trờng ngời lao động có quyền tự do lao động, tự tìm và
tạo việc làm cho ngời khác trong khuôn khổ pháp luật, không bị phân biệt đối
xử, cơ chế bao cấp, việc ỷ lại Nhà nớc để có việc làm, có biên chế Nhà nớc,
đang dần dần thay đổi cho thị trờng lao động phát triển.
Tình hình thiếu việc ở nớc ta cũng rất gay gắt, gõ cửa từng gia đình và
trở thành vấn đề xã hội nóng bỏng, đòi hỏi Đảng và Nhà nớc có những chủ tr-
ơng giải quyết việc làm cho ngời lao động trong tình hình mới và xây dựng
chiến lợc an toàn việc làm. Khắc phục triệt để những nguyên nhân tiêu cực do
nền kinh tế thị trờng tạo ra cho xã hội Việt Nam.
Trong những năm gần đây nhờ thực hiện đờng lối đổi mới nền kinh tế n-
ớc ta đã đạt tốc độ tăng trởng cao và tơng đối ổn định. Nhịp độ tăng trởng GDP
bình quân hàng năm đạt khoảng 9 - 10%; sản xuất nông - lâm - ng nghiệp
khoảng 4,5 - 5,2%, công nghiệp bình quân hàng năm 14 - 15%, dịch vụ bình
quân hàng năm 12 - 13%, xuất khẩu khoảng 28%. Tích luỹ nội bộ nền kinh tế ở
mức cao 20% GDP. Nhờ đó mà đầu t cho nền kinh tế tăng đáng kể, tổng số vốn
đầu t cho xã hội năm 2003 khoảng 40 tỷ USD (chiếm khoảng 30% GDP).
Đến nay số lao động làm việc trong khu vực Doanh nghệp có vốn đầu t
nớc ngoài là 40 vạn lao động, lao động trong công nghiệp và xây dựng khoảng
3,75 triệu ngời chiếm 10,5% lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là 7
triệu ngời chiếm 19% lực lợng lao động, còn lại là lao động trong nông - lâm -
ng nghiệp chiếm trên 70%.
Cơ cấu lao dộng đã có sự chuyển dịch theo hớng tích cực, tăng mạnh vào
các ngành công nghiệp và dịch vụ, có xu hớng giảm nhẹ trong khu vực nông
nghiệp, đáp ứng với nhu cầu về tăng trởng kinh tế và sử dụng tốt hơn lao động
xã hội. Nhờ đó 3 năm trở lại đây đã tăng thêm đợc 2,95% bình quân mỗi năm
chỗ làm việc mới. Tơng đơng với số lao động tăng thêm là 1,2 triệu ngời trong
tổng số 38 triệu lao động toàn quốc, trên 9 triệu ngời đợc giải quyết việc làm.
Riêng các năm 2002 - 2003 đã giải quyết đợc việc làm mới hàng năm cho
cần phải đào tạo đúng mục đích và đúng yêu cầu xã hội. Nếu đào tạo không gắn
với yêu cầu sản xuất và thị trờng sức lao động dẫn đến hàm lợng chất xám trong
sản phẩm thấp làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng trong nớc
và quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra rất chậm chạp. Tỷ trọng GDP
các ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng - dịch vụ, đặc biệt một số
ngành dịch vụ thơng mại cha đợc coi trọng làm hạn chế rất lớn đến vấn để giải
quyết việc làm trong nền kinh tế thị trờng và hoà nhập với quốc tế trong xu h-
ớng toàn cầu hoá.
- Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng: đặc biệt là giữa nông thôn
và thành thị, các khu công nghiệp dẫn đến tình trạng di dân tự phát từ khu vực
nông thôn lên thành thị ngày càng lớn với tốc độ cao. Số lao động này vào thành
phố chủ yếu là ngời có thu nhập thấp, đại đa số là lao động làm những công
việc phổ thông gây lên tình trạng quá tải cho đô thị. Đặc biệt gây hiện tợng rối
loạn xã hội và các tệ nạn gia tăng.
1.3. ý nghĩa của việc giải quyết việc làm cho ngời lao động
1.3.1. Về kinh tế
Giải quyết việc làm cho ngời lao động tức là sử dụng đợc tối đa tiềm
năng lao động nh nâng cao về trình độ khoa học - kỹ thuật, tăng thu nhập cho
ngời lao động. Từ đó tạo ra tiềm năng cho phát triển sản xuất, tăng quy mô và
tích luỹ sản xuất, từng bớc đổi mới công nghệ và tăng trởng kinh tế làm tiền đề
cho việc thực hiện công bằng xã hội. Ngời lao động mất việc làm không những
ảnh hởng đến nền kinh tế mà còn ảnh hởng trực tiếp đến đời sống của họ. Ngời
lao động mất việc làm không có thu nhập, sống nhờ vào thu nhập của ngời khác
trong gia đình, ảnh hởng đến đời sống của cả gia đình, gây khó khăn về kinh tế.
Đây là nguyên nhân và nguồn gốc của những phức tạp, tệ nạn xã hội mà hàng
năm Nhà nớc phải mất khá nhiều kinh phí để chi cho.
1.3.2. Về xã hội
Giải quyết việc làm là trực tiếp tạo ra thu nhập để đảm bảo và nâng cao
đời sống cho ngời lao động, là cơ sở để thực hiện các chính sách xã hội nh:
chính sách tiền lơng, phúc lợi và các chính sách xã hội khác, góp phần làm
hiện nay. Giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều là có thể giải
quyết ngay đợc, mà đòi hỏi sự nổ lực phấn đấu, sáng tạo của mỗi cấp, mỗi
ngành mỗi đoàn thể và mọi tổ chức xã hội. Do đó Đại hội IX Đảng cộng sản
Việt Nam đã chỉ rõ: "Về lao động và việc làm: Dành vốn ngân sách đầu t nâng
cấp các cơ sở dạy nghề của Nhà nớc, đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến
khích xã hội hoá, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, bảo đảm hàng năm
đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động, đa tỷ lệ đợc đào tạo nghề lên khoảng
30% vào năm 2010. Có chính sách thu hút những ngời đợc đào tạo về làm việc
ở nông thôn, nhất là miền núi và vùng sâu, vùng xa.
Nhà nớc có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu t khai
hoang mở thêm đất mới, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, phát
triển chăn nuôi, nuôi trồng và đánh thuỷ sản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, phát
triển ngành nghề và dịch vụ nhằm tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân"[4].
1.4.2. Chủ trơng giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nớc ta
Giải quyết việc làm cho ngời lao động vừa là chính sách kinh tế, đồng
thời còn là chính sách xã hội, và đây là trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc, của
toàn xã hội và của mỗi ngời lao động. Ngời lao động cũng phải chủ động tìm và
tạo việc làm cho mình. Nhà nớc sẽ tạo điều kiện về cơ chế chính sách, pháp
luật, môi trờng sản xuất kinh doanh. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề. Cụ thể:
Theo điều 55 Hiến pháp nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ:
Nhà nớc và xã hội có kế hoạch tạo ra việc làm cho ngời lao động, khuyến khích
và bảo vệ các chủ doanh nghiệp các tiểu thủ, các hộ t nhân và những gia đình
làm ăn giỏi khuyến khích họ làm giàu một cách chính đáng để tạo ra nhiều chỗ
làm việc, thu hút nhiều lao động[5].
Theo dự báo sức ép về việc làm các năm tới vẫn tiếp tục gia tăng, số ngời
thất nghiệp năm 1999 vẫn là 7,4% và đến hết năm 2003 có khoảng gần 3 triệu
ngời thiếu việc làm. Tình trạng thiếu việc làm ở nớc ta hiện nay do nhiều
nguyên nhân, do sắp xếp lại lao động, thu hẹp sản xuất cùng với thiên tai xảy ra
dẫn đến việc làm trở thành vấn đề cấp bách hiện nay. Đại hội IX của Đảng ta đã
khẳng định "việc làm là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính sách xã
Để thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm Quyết định số 126/1998/QĐ -
TTg ngày 11/7/1998 về chơng trình mục tiêu quốc gia về việc làm đợc triển
khai trên 3 hớng cơ bản sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật, các chủ trơng chính
sách đồng bộ nhằm thúc đẩy nền kinh tế hớng về xuất khẩu phát triển bền
vững. Phát triển các khu công nghiệp tập trung, các vùng kinh tế trọng điểm.
Chú ý phát triển doanh nghiệp nhỏ và công nghệ sử dụng nhiều lao động. Phát
triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, nông nghiệp để thu hút nhiều lao
động vào làm việc. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ xây dựng, kiểm soát chỉ tiêu
sử dụng lao động và chỉ tiêu tạo chỗ làm việc mới đối với các ngành, các cấp,
các đơn vị sử dụng lao động; các kế hoạch kinh tế xã hội, các chơng trình dự
án. kết hợp hài hoà giữa tăng trởng kinh tế với giải quyết việc làm. Đó là hớng
để giải quyết việc làm cơ bản và quan trọng nhất.
- Duy trì, bảo đảm việc làm cho ngời lao động, chống sa thải công nhân
hàng loạt. Từng bớc xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
- Tăng cờng các hoạt động hỗ trợ để giải quyết việc làm cho ngời thất
nghiệp, ngời thiếu việc làm và những đối tợng yếu thế trong thị trờng lao động.
1.4.4. Chính sách của Đảng và Nhà nớc ta đối với việc giải quyết việc làm cho công
nhân, viên chức, lao động
Để thực hiện thành công các chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về giải
quyết việc làm, hoàn thành mục tiêu mà Đại hội Đảng IX đã đặt ra "Phấn đấu
đến năm 2005, tạo việc làmvà ổn địh việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động
(bình quân trên 1,5 triệu lao động/năm) và đến năm 2010 đa tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị xuống dới 5%, quỹ thời gian lao động đợc sử dụng ở nông thôn lên
khoảng 80-85%, nâng tỷ lệ ngời lao động đợc đào tạo nghề lên khoảng 40%" Vì
vậy, Nhà nớc có những biện pháp sau:
- Tiếp tục cải cách thể chế hớng vào hoàn thiện bổ sung các chính sách
nhằm tiếp tục giải phóng tiềm năng lao động, khai thác đất đai, tài nguyên thiên
nhiên và vốn trong dân đầu t vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo mở việc
làm. Phải có t tởng đột phá chính sách khuyến khích đầu t trong nớc nh: Luật
Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và
quần chúng lao động, có nhiệm vụ chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho ngời
lao động, thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích ngời lao động Công đoàn cần tích
cực tham gia giải quyết việc làm cho công nhân, lao động. Bởi việc làm là lợi
ích cơ bản và thiết thực nhất, là cơ sở để đảm bảo và nâng cao đời sống của
công, nhân lao động.
Điều 7 Luật Công đoàn quy định: "Công đoàn tham gia với cơ quan đơn
vị, tổ chức hữu quan, giải quyết việc làm, tổ chức dạy nghề, nâng cao trình độ
nghề nghiệp, văn hoá, khoa học kỹ thuật cho ngời lao động [8].
Đại hội lần thứ IX Công đoàn Việt Nam cũng khẳng định " Giải quyết
việc làm vẫn là một yêu cầu hết sức gay gắt, trong khi đó có nhiều lĩnh vực,
ngành nghề lại thiếu hụt trầm trọng công nhân kỹ thuật bậc cao...[9]"
Trong quá trình sắp xếp lại dây chuyền công nghệ, sắp xếp lại doanh
nghiệp làm dôi ra số lao động không có việc làm. Tổ chức Công đoàn các cấp
tích cực tham gia với cấp mình giải quyết việc làm cho ngời lao động
+ Tham gia xây dựng và thực hiện chơng trình quốc gia về giải quyết
việc làm
+ Thành lập các trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm
+ Lập các quỹ hỗ trợ do Công đoàn quản lý
Tổ chức hớng dẫn công nhân, lao động phát triển kinh tế gia đình. Trên
thực tế, vẫn đề giải quyết việc làm cho ngời lao động vẫn còn gặp nhiều khó
khăn. Hàng năm vẫn có tới hàng chục vạn ngời phải nghỉ việc, hàng vạn ngời
không có việc làm thờng xuyên. Tính trong khu vực Nhà nớc số lao động có
việc làm thờng xuyên khoảng 80 - 85%, thiếu việc làm từ 15 - 20% cha kể hàng
vạn con em công nhân, viên chức, lao động hàng năm đến tuổi lao động nhng
không có việc làm.
Sự phân hoá giàu nghèo trong công nhân, lao động và trong xã hội vẫn
đang diễn ra, việc làm của số đông công nhân, lao động cha đợc đảm bảo, nhiều
công nhân phải làm việc trong môi trờng ô nhiễm độc hại. Đặc biệt là một số cơ
sở sản xuất thuộc t nhân quản lý vẫn còn tình trạng doanh nghiệp làm ăn có lãi
đại hội IX Công đoàn Việt Nam đã quyết tâm "Xây dựng giai cấp công nhân và
tổ chức Công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính
đáng củacông nhân, viên chức, lao động, góp phần tăng cờng đại đoàn kết dân
tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc[10].
Để thực hiện đợc mục tiêu này, tổ chức Công đoàn cần có sự nỗ lực và quan tâm
mạnh mẽ hơn nữa đến việc tạo ra thật nhiều việc làm, không kẻ là thành phần
kinh tế nào. Bởi vì mong muốn của ngời lao động là có việc làm, có thu nhập
hợp pháp, đợc làm việc trong điều kiện phù hợp với quy định của pháp luật. Đối
với việc làm ở nông thôn, các cấp Công đoàn cần thu hút đầu t, mở rộng đào tạo
nghề, kể các ngành nghề thủ công, tạo thêm việc làm bố trí việc làm cho ngời
lao động.
1.5.2. Trách nhiệm của Công đoàn cơ sở.
Nh đã nêu trên, tham gia giải quyết việc làm cho công nhân lao động là
nhiệm vụ đầy khó khăn phức tạp, liên quan đến nguyện vọng và quyền lợi của
ngời lao động. Công đoàn cơ sở cần tìm các biện pháp cụ thể, thiết thực phù hợp
với đặc điểm của cơ sở để tham gia có hiệu quả nhất, nh :
- Tuyên truyền cho đoàn viên hiểu rõ tình hình thực tế của địa phơng,
ngành, đơn vị sản xuất, những khó khăn và thuận lợi trong sản xuất kinh doanh,
trong tổ chức sắp xếp lao động. Từ đó, tuyên truyền, phổ biến và hớng dẫn cho
công nhân viên chức lao động nắm vững pháp luật, chế độ chính sách của Đảng,
Nhà nớc liên quan đến giải quyết việc làm. Nâng cao trách nhiệm của cá nhân
chủ động tìm việc làm, góp phần cùng tập thể tạo ra nhiều việc làm.
- Tổ chức tham gia xây dựng phơng án sản xuất có hiệu quả nh tổ chức
Đại hội công nhân viên chức, hội nghị chuyên đề về giải quyết việc làm cho
công nhân, lao động. Khơi dậy và phát huy tính năng động sáng tạo của công
nhân, lao động trong vấn đề chủ động tạo việc làm và tìm việc làm, tổ chức các
đoàn tham quan học hỏi kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, giải quyết việc làm
trong các đơn vị trong và ngoài ngành kinh tế, kịp thời khen thởng các sáng
kiến phát huy tính năng động sáng tạo trong công nhân, lao động, chủ động kết
hợp với chuyên môn thờng xuyên tổ chức, bồi dỡng kiến thức về quản lý kinh tế
Năm 1992, Tổng công ty có 12 đơn vị thành viên hạch toán độc lập và 1
đơn vị hạch toán phụ thuộc, 1 trung tâm đào tạo Nghiệp vụ, 1 viện điều dỡng 8
(nay là Trung tâm y tế Giao thông 8). Thời gian này Tổng công ty đã chuyển
hết các đơn vị về Việt Nam, dần ổn định về cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất
kinh doanh. Đầu t gần 250 tỷ đồng mua sắm máy móc thiết bị hiện đại của Nhật
Bản, Đức... Để nhanh chiếm lĩnh thị trờng xây dựng các công trình giao thông
trong nớc, đấu thầu Quốc tế thực hiện các dự án lớn. Nhiệm vụ chủ yếu là xây
dựng các công trình GTVT cầu, đờng, bến bãi.
Trong những năm gần đây, ngành xây dựng cơ bản đợc phát triển theo h-
ớng thị trờng hoá, các công trình đợc thực hiện theo nguyên tắc đấu thầu.
Doanh nghiệp muốn có việc làm cho ngời lao động, muốn tồn tại và phát triển
đợc phải thắng thầu. Để thắng đợc thầu thì Doanh nghiệp cần phải đầu t cả về
cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ và trình độ quản lý, kĩ thuật cao. Vì thắng
thầu là điều kiện sống còn của Doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Hay muốn
thắng thầu Doanh nghiệp phải có công nghệ thi công hợp lý. bố trí tổ chức thi
công khoa học nâng cao uy tín với chủ đầu t. Nhờ ý thức đợc điều đó mà năm
1998 Tổng công ty đã thắng nhiều gói thầu Quốc tế: Bắc Thăng Long Nội
Bài, đờng Hồ Chí Minh, đờng 5A Hải Phòng, đờng 1A, đờng Láng Hoà Lạc,
Nội Bài Lạng Sơn, xây dựng nhà máy xi măng Nghi Sơn, xây dựng đờng
vành đai Viên Chăn và nhiều công trình khác khắp từ Lạng Sơn và đến thành
phố Hồ Chí Minh.
Năm 2000, Tổng công ty trúng thầu các dự án: đờng Pháp Vân thờng
Tín, dự án ADB8, đờng Sikớt Dong Dook (Lào), đờng quốc lộ 6 (Lào), dự án
xuyên á: V1,V2,V3.
Năm 2003, Tổng công ty trúng thầu các dự án: Đờng Xuyên á, dự án
Vành đai III đoạn Mai dịch - Trung Hòa, các dự án R1, R2, R4. Ngoài ra còn
các dự án nhỏ lẻ ở khắp trong nớc, tạo đủ việc làm cho gần 5000 cán bộ công
nhân viên chức lao động.
Thắng thầu quốc tế xây dựng đờng 13 (Lào) trị giá 6,5 triệu USD, dự án
cải tạo nâng cấp quốc lộ 6 trị giá 8,5 triệu USD (Lào) năm 1998 liên doanh với
Sơ đồ tổ chức quản lý Tổng công ty
Để phù hợp với tình hình nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn
mới và nâng cao vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nớc, Tổng công ty Xây
dựng Giao thông 8 đợc tổ chức theo kiểu Tổng công ty Nhà nớc, có Hội đồng
quản trị quản lý theo mô hình trực tuyến. Nhiệm vụ của các ban phòng đợc quy
định nh sau:
Hội đồng quản trị (bao gồm chủ tịch hội đồng quản trị và các thành viên
hội đồng quản trị Tổng công ty) có trách nhiệm trực tiếp trớc bộ giao thông vận
tải về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty, lập và quyết
định phê duyệt các kế hoạch sản xuất, kinh doanh và kế hoạch phát triển của
Tổng công ty lập phơng án đầu t, quản lý tổ chức cán bộ hoạt động tài chính, thi
đua, khen thởng... do Tổng giám đốc đề nghị.
Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị bầu ra để giúp cho Hội đồng quản trị
trong công tác giám sát, kiểm tra hoạt động của Ban giám đốc trong các vấn đề
thu chi tài chính, kiểm tra việc chấp hành điều lệ Tổng công ty.
Tổng giám đốc: Chịu trách nhiệm trớc hội đồng quản trị về hoạt động
của Doanh nghiệp, chịu sự giám sát của Ban kiểm soát. Tổng giám đốc chịu
trách nhiệm điều hành cao nhất về mọi hoạt động của Tổng công ty, phụ trách
Văn
phòng
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phòng
Tài
chính-kế
toán
Phóng kế
hoạch
tiếp thị
Phóng tổ
HCM
- R-10.
- Cơ quan
(Văn phòng
Tổng công
ty)
Phó TGĐ
phụ trách
Tài chính
Phó TGĐ
phụ trách
miền Trung
Phó TGĐ
phụ trách
ở Lào
Phó TGĐ
phụ trách
dự án
Phó TGĐ
phụ trách
Kinh tế kỹ
thuật
Phó TGĐ
phụ trách
Lao động