Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lào Cai để thu hút đầu tư phát triển đến năm 2020 - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế quan trọng, quyết định đến sự
phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia cũng như của mỗi địa phương, mà
đầu tư thường được ví như một canh bạc. Các nhà đầu tư đặt cược một số tiền
lớn trong điều kiện hiện tại và hy vọng thu được nhiều lợi nhuận hơn trong
tương lai. Do vậy, đầu tư luôn đòi hỏi một môi trường thích hợp, nhất là trong
điều kiện kinh tế thị trường, với xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nhận
thức được điều đó, trong những năm vừa qua tỉnh Lào Cai đã không ngừng
cải thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư phát triển: Lãnh đạo tỉnh đã
hoạch định và tổ chức hiệu quả các chương trình, kế hoạch thu hút các nhà
đầu tư trong nước, quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Vấn đề thủ tục đăng ký
kinh doanh đã tiến bộ rất nhiều, mô hình một cửa, một dấu đã được áp dụng
triệt để.. Tuy nhiên, còn nhiều quy định vay vốn còn cứng nhắc, hạ tầng giao
thông còn kém, thiếu hụt nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật..Vì vậy, cho
đến nay, Lào Cai vẫn là một trong sáu tỉnh miền núi gặp nhiều khó khăn nhất
trong cả nước. Để đưa Lào Cai phát triển thì việc đề ra các giải pháp nhằm cải
thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư phát triển là rất cần thiết. Chính vì
vậy mà tôi lựa chọn đề tài “Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lào Cai để thu
hút đầu tư phát triển đến năm 2020” làm chuyên đề thực tập.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư phát
triển tỉnh Lào Cai trong thời gian tới?
3. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
cùng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh, đối chiếu để mô
tả thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Lào Cai.
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

được đề cập nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều
nước trên thế giới. Tại Việt Nam khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
thực thi chính sách đổi mới mở cửa nền kinh tế hội nhập với thế giới, thu hút
vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề môi trường đầu tư mới được quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn và vấn đề cải thiện môi trường đầu tư được áp đặt ra
như là một giải pháp cho phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế thế giới và thực
thi các cam kết của Việt Nam với quốc tế.
Tuy nhiên môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều
cách khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và
cách tiếp cận vấn đề. Với phạm vi nhất định, có thể nghiên cứu môi trường
đầu tư của một doanh nghiệp, một ngành, môi trường đầu tư trong nước, môi
trường đầu tư khu vực và môi trường đầu tư quốc tế. Nhưng nếu tiếp cận môi
trường đầu tư theo một khía cạnh, một yếu tố cấu thành nào đó thì ta lại có
môi trường pháp lý, môi trường công nghệ, môi trường kinh tế, môi trường
chính trị…Chính vì vậy, trong thực tiễn và lý luận có nhiều quan niệm khác
nhau về môi trường đầu tư và sau đây là một số khái niệm về môi trường đầu
tư tiêu biểu:
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khái niệm 1: Môi trường đầu tư được hiểu là tổng hợp các yếu tố, điều
kiện về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ
tầng, năng lực thị trường và cả các lợi thế của một quốc gia…có ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia.
Khái niệm 2: Môi trường đầu tư là một tập hợp các yếu tố có tác động
tới các cơ hội, các ưu đãi, các lợi ích của các doanh nghiệp khi đầu tư mới,
mở rộng sản xuất kinh doanh, các chính sách của chính phủ có tác động chi
phối tới hoạt động đầu tư thông qua chi phí, rủi ro, cạnh tranh…
Những yếu tố có tác động đến các lợi ích của các nhà đầu tư mà có thể
dự tính, được phân loại dựa trên các yếu tố có liên hệ tương tác lẫn nhau như

lợi cho các nhà đầu tư.
1.1.2.2. Môi trường đầu tư có tính tổng hợp
Tính tổng hợp ở chỗ nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có quan hệ qua
lại ràng buộc lẫn nhau. Số lượng và những bộ phận cấu thành cụ thể của môi
trường đầu tư tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, trình độ quản lý
và ngay chính những bộ phận cấu thành môi trường đầu tư.
1.1.2.3. Môi trường đầu tư có tính đa dạng
Môi trường đầu tư là sự đan xen của các môi trường thành phần, các yếu
tố của các môi trường thành phần có tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau,
do đó khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư phải xem xét tổng thể
trong mối tương quan giữa các môi trường thành phần và giữa các yếu tố với
nhau, hơn nữa giữa các môi trường lại có đặc trưng riêng của từng loại.
1.1.2.4. Môi trường đầu tư có tính động
Môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành luôn vận động và biến đổi. Sự
vận động và biến đổi này chịu tác động của các quy luật vận động nội tại của
từng yếu tố cấu thành môi trường đầu tư và của nền kinh tế, chúng vận động
và biến đổi bởi ngay nội tại của hoạt động đầu tư cũng là một quá trình vận
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động trong một môi trường thay đổi không ngừng. Các yếu tố và điều kiện
của môi trường đầu tư tác động đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư hay
doanh nghiệp một cách thường xuyên vận động. Do đó, sự ổn định của môi
trường đầu tư chỉ mang tính tương đối hay ổn định trong sự vận động. Các
nhà đầu tư muốn nâng cao hiệu quả đầu tư của mình cần có được một dự báo
về sự thay đổi của môi trường đầu tư, để từ đó có các quyết định đầu tư chuẩn
xác phù hợp với môi trường đầu tư.
Mặt khác để cải thiện môi trường đầu tư ta phải tìm cách ổn định các yếu
tố của môi trường đầu tư trong xu thế luôn vận động của nó và phải cải thiện
nó liên tục. Nói cách khác là khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư

nghiệp, là đánh giá và cảm nhận của doanh nghiệp đối với môi trường kinh
doanh địa phương, kết hợp với các dữ liệu tin cậy và có thể so sánh được thu
thập từ các nguồn chính thức và các nguồn khác về địa phương, chỉ số PCI
xếp hạng năng lực cạnh tranh các tỉnh trên thang điểm 100. Chỉ số tổng hợp
PCI từ năm 2006-2008 bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía
cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía
cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của cơ quan chính
quyền địa phương:
- Chi phí gia nhập thị trường (chi phí thành lập doanh nghiệp)
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước/ Thanh-kiểm tra
- Chi phí không chính thức
- Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước (Môi trường cạnh tranh)
- Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh
- Thiết chế pháp lý
- Đào tạo lao động
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nghiên cứu đã xây dựng trên một số yếu tố quan trọng để các kết quả thu
được sau này có thể dễ dàng chuyển biến thành những cải cách về điều hành
kinh tế:
Thứ nhất, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống
ban đầu tới sự tăng trưởng kinh tế (những điều kiện này là các nhân tố căn
bản cần thiết cho sự tăng trưởng nhưng rất khó hoặc thậm chí không thể đạt
được trong thời gian ngắn). Những thực tiễn này góp phần lý giải sự khác biệt
về phát triển kinh tế giữa các tỉnh hoặc tại sao các tỉnh đạt kết quả phát triển
kinh tế tương đồng mặc dù điều kiện truyền thống ban đầu của mỗi tỉnh rất
khác nhau.

Chi phí không chính thức 7,6% 5,7% 5%
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 9,6% 3,6% 5%
Chi phí gia nhập thị trường 17,1% 3,3% 5%
Thực hiện chính sách Trung ương 0,2%
1.1.4. Các yếu tố cấu thành chất lượng môi trường đầu tư
1.1.4.1.Chi phí gia nhập thị trường
Chỉ số thành phần này đo thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký kinh
doanh, xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép, thực hiện tất cả các thủ
tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh.
1.1.4.2.Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Chỉ số thành phần này được tính toán dựa trên hai khía cạnh về đất đai
mà doanh nghiệp phải đối mặt - việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và khi
có đất rồi thì doanh nghiệp có được đảm bảo về sự ổn định, an toàn trong sử
dụng đất hay không. Khía cạnh thứ nhất phản ánh tình trạng doanh nghiệp có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có đủ mặt bằng thực hiện
những yêu cầu mở rộng kinh doanh hay không, doanh nghiệp có đang thuê lại
đất của doanh nghiệp nhà nước không và đánh giá việc thực hiện chuyển đổi
đất tại địa phương. Khía cạnh thứ hai bao gồm đánh giá cảm nhận của doanh
nghiệp về những rủi ro trong quá trình sử dụng đất (ví dụ như rủi ro từ việc bị
thu hồi, định giá không đúng, thay đổi hợp đồng thuê đất) cũng như thời hạn
sử dụng đất.
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.4.3. Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
Chỉ số thành phần này đánh giá khả năng mà doanh nghiệp có thể tiếp
cận những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh
doanh, tính sẵn có của các loại tài liệu, văn bản này; liệu chúng có được đưa
ra tham khảo ý kiến doanh nghiệp trước khi ban hành và tính có thể dự đoán
được trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản đó, mức độ tiện dụng

sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá
khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung
ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp.
1.1.4.9. Đào tạo lao động
Chỉ số thành phần này phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động
đào tạo nghề và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai nhằm hỗ trợ cho các
ngành công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa
phương
1.1.4.10. Thiết chế pháp lý
Chỉ số thành phần này phản ánh lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối
với các thiết chế pháp lý của địa phương, việc doanh nghiệp có xem các thiết
chế tại địa phương này như là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc
là nơi mà doanh nghiệp có thể khiếu nại những hành vi nhũng nhiễu của cán
bộ công quyền tại địa phương hay không.
1.2. Vai trò của môi trường đầu tư đối với việc thu hút đầu tư phát triển
Mục đích tối thượng của nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, bởi vậy trước
khi quyết định đầu tư vào địa phương nào, lĩnh vực nào họ nghiên cứu rất kỹ
các yếu tố liên quan đến khả năng sinh lợi khi tổ chức sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh việc tìm hiểu các điều kiện cần thiết cho sản xuất như nguyên nhiên
vật liệu, máy móc thiết bị…các nhà đầu tư còn xem xét khả năng tiêu thụ sản
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm và đặc biệt là môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư là căn cứ quan
trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn và đưa ra các quyết
định đầu tư vào một địa phương, trong điều kiện cạnh tranh ngày nay, các nhà
đầu tư sẽ đưa nguồn lực của họ vào những địa phương có môi trường đầu tư
tốt. Địa phương nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nguồn tài nguyên dồi
dào, điều kiện giao thông tốt, đặc biệt là có đội ngũ các nhà lãnh đạo và các
nhà quản lý năng động, sáng tạo , đưa ra được những chính sách ưu đãi,

nào đó, tại một địa bàn nào đó thì có thể ban hành mức thuế ưu tiên cho
ngành đó, địa bàn đó có một cơ chế đầu tư thuận lợi, với động thái này khả
năng thu hút vốn đầu tư cho ý định đã đề ra là rất lớn.
Qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy rõ vai trò của môi trường
đầu tư không những có tác dụng thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư mà
còn có thể lái được các nhà đầu tư hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, địa bàn
kinh tế mà chúng ta lựa chọn.
1.3. Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lào Cai
Phần trình bày ở trên đã cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của môi
trường đầu tư đối với thu hút đầu tư, bởi vậy việc cải thiện môi trường đầu tư
là tất yếu. Ngoài ra, trong xu thế chung cải thiện môi trường đầu tư để thu hút
đầu tư các địa phương trong cả nước đang diễn ra một cuộc cạnh tranh mãnh
liệt. Hoà chung trong xu thế đó, Lào Cai cũng đang tích cực tích cực cải thiện
môi trường đầu tư để thu hút đầu tư phát triển nhằm đưa Lào Cai ra khỏi
những tỉnh nghèo, khó khăn trong cả nước. Vì khi môi trường đầu tư được cải
thiện sẽ thu hút được các nhà đầu tư, từ đó sẽ tạo ra nhiều giá trị sản xuất,
việc làm và các giá trị khác mà nó sẽ làm cho mục tiêu tăng trưởng, giảm
nghèo của Lào Cai thành hiện thực. Với mục đích thu lợi nhuận, các nhà đầu
tư sẽ bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh với những ý tưởng mới, với những cơ
sở vật chất mới và đó chính là những yếu tố cấu thành cho tăng trưởng kinh
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tế. Các doanh nghiệp là nơi sẽ tạo ra khoảng 90% việc làm, là nơi để mọi
người thể hiện khả năng, trình độ của mình để tăng thu nhập cải thiện mức
sống. Các DN là nguồn thu thuế chủ yếu của chính phủ, là nhân tố chính tham
gia vào quá trình cung cấp hàng hoá nói chung và hàng hoá công cộng cho
mọi người như đào tạo, sức khoẻ, y tế…Như vậy, các DN là nhân tố chính,
đóng vai trò nòng cốt cho quá trình tạo dựng một nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển, nhưng sự tham gia của các DN cho xã hội lại hoàn toàn phụ thuộc

Dương chưa có những “tỉnh sách” nào ngoài những chính sách của trung
ương. Chính sự vận dụng sáng tạo, hợp lý các chính sách đó vào điều kiện
thực tiễn của địa phương bằng hành động thực tế với thái độ thân thiện và
trách nhiệm hết mình, của bộ máy hành chính của chính quyền địa phương
đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân trực tiếp,
góp phần cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Điều đó đã được thể hiện trong
sự nhất trí cao của cấp uỷ, chính quyền, các ngành, các đoàn thể nhân dân từ
tỉnh đến cơ sở, coi việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các doanh nhân khởi
nghiệp làm ăn theo pháp luật là công việc của chính mình. Bất kể khi nào nhà
đầu tư cần giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư đều được
đáp ứng, kể cả ngoài giờ hành chính, vào những ngày nghỉ, thậm chí cả điều
chỉnh chương trình làm việc của lãnh đạo các cấp. Ông Nguyễn Minh Đức,
nguyên Bí thư tỉnh uỷ, cho biết: “Khi có kiến nghị của doanh nghiệp, nếu xét
thấy cần thiết, chúng tôi có thể điều chỉnh chương trình làm việc của cấp uỷ
để dành thời gian gặp gỡ và giải quyết các ách tắc cho doanh nghiệp”.
Điều đó được cụ thể hoá trong quy chế làm việc của cấp uỷ, của HĐND,
UBND và các sở, ban, ngành của tỉnh và chính quyền cấp huyện, cấp xã.
Thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết từng loại công việc cho doanh nghiệp
được quy định rõ ràng. Ách tắc ở khâu nào đều có cơ quan, có người chịu
trách nhiệm, không có tình trạng dựa dẫm, đùn đẩy công việc cho nhau, theo
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tinh thần “chủ trương bàn và quyết tập thể, điều hành và quyết định cụ thể chỉ
một người”, không chờ báo cáo xin ý kiến hoặc họp bàn những việc đã được
phân cấp. Trong chương trình giao ban hằng tuần có nội dung xem xét những
vấn đề các nhà đầu tư, các doanh nghiệp còn vướng mắc để bàn biện pháp xử
lý là nội dung quan trọng. Những kiến nghị của doanh nghiệp, Chủ tịch, Phó
chủ tịch UBND tỉnh cùng các ngành liên quan nghe và có kết luận, giải quyết
tại chỗ. Những ý kiến cần được giải quyết khi có quyết định của Chủ tịch

một đầu mối. Việc cấp phép đầu tư vào các khu công nghiệp do Ban quản lý
các khu công nghiệp thực hiện; cấp phép ngoài khu công nghiệp do Sở Kế
hoạch và đầu tư chịu trách nhiệm. Những thủ tục hành chính liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, cơ quan chủ trì cùng các cơ quan liên đới tự giải
quyết với nhau, không để tình trạng các nhà đầu tư, các doanh nghiệp phải đi
giải quyết các vấn đề cụ thể ở những cơ quan khác nhau. Các quyết định của
UBND tỉnh liên quan đến doanh nghiệp, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư,
Trưởng Ban quản lý các khu công nghiệp trực tiếp trình và chịu trách nhiệm
trước Chủ tịch UBND, văn phòng chỉ thực hiện các thủ tục hành chính, giảm
bớt khâu thẩm định và làm tờ trình của văn phòng UBND.
Các nhà đầu tư đến đăng ký, sau khi xem xét có đủ các yếu tố cần thiết,
Ban quản lý các khu công nghiệp thông báo ngày nhận cấp phép. Trên cơ sở
đó, phối hợp với các cơ quan liên quan để hoàn tất các thủ tục, ít nhất là 2-3
ngày trước khi nhà đầu tư đến nhận giấy phép. Đồng thời cơ quan này cũng
giúp các doanh nghiệp tiến hành các thủ tục sau cấp phép như, thủ tục thuê
đất, đăng ký mã số thuế, thủ tục khắc dấu, giấy phép tạm trú của các chuyên
gia…nên hầu hết các nhà đầu tư sau khi có giấy phép đều có thể triển khai
ngay.
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việc tổ chức đăng ký cấp phép kinh doanh đã đi dần vào nền nếp, cán bộ
các phòng đăng ký cấp phép được tuyển chọn theo tiêu chuẩn “thạo việc, lịch
sự, nhẹ nhàng”; các thủ tục hành chính đều được giải quyết nhanh hơn quy
định của trung ương từ 3 đến 5 ngày ở cấp tỉnh, 5 đến 7 ngày ở cấp huyện.
UBND tỉnh có quy chế kết hợp các cơ quan có thẩm quyền cấp phép đăng ký
với các cơ quan liên quan như công an, cục thuế…khi có giấy phép đăng ký
có thể tiến hành ngay việc khắc dấu, đăng ký mã số thuế và mua hoá đơn một
cách tiện lợi. Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp miễn phí cho các doanh nghiệp đến
đăng ký hoặc xin phép kinh doanh một băng đĩa, bao gồm các quy định của

nhiệm. Những dự án lớn, UBND tỉnh chủ trì, những dự án nhỏ và vừa UBND
huyện hoặc xã chủ trì, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp chỉ biết nhận mặt
bằng kinh doanh, không liên quan trực tiếp đến chủ sử dụng đất. Trừ một số
dự án nhỏ, lẻ doanh nghiệp thoả thuận với chủ đất về giá đền bù, báo cáo
UBND tỉnh quyết định và doanh nghiệp cùng UBND cấp xã trực tiếp đền bù
cho chủ sử dụng đất. Sau khi có quyết định giao đất hoặc cho thuê đất của
UBND tỉnh, việc cắm mốc, giao đất ngoài thực địa, hướng dẫn nhà đầu tư
thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước, trao giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện khẩn trương, đúng hẹn.
Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất, mức giá đền bù, thời gian giải toả đối với từng loại đất lấy ý kiến của dân
nơi bị thu hồi đất, Hội đồng nhân dân bàn và quyết định, nên việc giải phóng
mặt bằng phần lớn là thuận lợi, giúp cho việc giao đất cho các nhà đầu tư, các
doanh nghiệp đúng thời gian theo quy định.
c. Huy động mọi nguồn vốn tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, trước hết là
đường giao thông, điện, nước cho các khu công nghiệp.
Trong chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng
tỉnh chủ động điều chỉnh vốn, nguồn lực tại chỗ, tập trung ưu tiên giải quyết
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vấn đề kết cấu hạ tầng đến các khu công nghiệp; những công trình vượt quá
thẩm quyền, tỉnh trực tiếp làm việc với các bộ, ngành ở trung ương để sớm
được thi công, tạo cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tiếp cận các khu
công nghiệp tiện lợi nhất.
Thứ ba, chủ động xây dựng, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch phát triển
kinh tế-xã hội phù hợp với quy hoạch chung của quốc gia.
Trong xây dựng quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh coi
việc quy hoạch giao thông là tiền đề cho sự thu hút đầu tư, phải luôn đi trước
một bước. Đường thông đến đâu, nhà đầu tư và doanh nghiệp tiến theo đến

thông tin về cơ chế, chính sách thương mại của chính phủ; thông tin về thị
trường quốc tế đối với các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam; thông tin về hội
chợ triển lãm trong và ngoài nước…cho các nhà đầu tư nắm được để chủ
động xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Tổ chức các hội
nghị, hội thảo, phổ biến quy hoạch, giới thiệu các tiềm năng, lợi thế so sánh
của tỉnh, các lĩnh vực và dự án kêu gọi đầu tư…
g. Xây dựng, giáo dục tinh thần, thái độ trọng thị đối với các nhà đầu tư,
quan tâm giải quyết các khó khăn vướng mắc của các nhà đầu tư, tăng cường
gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp để nắm bắt kịp thời thông tin về khó khăn
của doanh nghiệp để có biện pháp hỗ trợ giải quyết kịp thời.
Tỉnh chủ trương xây dựng quan hệ thân thiện giữa cơ quan nhà nước, nhân
dân với nhà đầu tư để nhà đầu tư có thể hoàn toàn yên tâm khi hoạt động trên
địa bàn tỉnh.
Như vậy, kinh nghiệm của các tỉnh này đều cho thấy thái độ của lãnh đạo
ở địa phương là then chốt và thái độ này được các cơ quan cấp dưới chia sẻ.
Họ luôn cố gắng tạo điều kiện dễ dàng cho doanh nghiệp và hoạt động thu hút
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đầu tư có hiệu ứng dây chuyền; khi đã mời chào được một vài doanh nghiệp
đầu tiên (con chim mồi) thì tỉnh này đã trở thành nơi lập nghiệp mới của
những bạn bè, anh em các doanh nghiệp đó. Khi đã tạo ra được một “hình ảnh
đẹp” thì sẽ lôi cuốn được nhiều nhà đầu tư với nhiều dự án quan trọng.
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 2: Đánh giá môi trường đầu tư tỉnh Lào Cai đến 2008
2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Lào Cai
2.1.1. Các yếu tố về điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

diện tích đất tự nhiên cả nước. Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 78.387,37 ha, chiếm 12,32% diện tích tự nhiên, bao
gồm: đất trồng cây hàng năm: 59.276,33 ha, trong đó đất lúa có
20.695,98 ha; đất trồng cây lâu năm: 17.747,53 ha; đất cỏ dùng vào
chăn nuôi: 3.293,26 ha; đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1.363,51
ha.
- Đất lâm nghiệp có rừng: 286.044,35 ha, chiếm 44,97% diện tích đất tự
nhiên, trong đó diện tích rừng tự nhiên: 233.189,7ha.
- Đất ở: 3.258,06 ha, chiếm 0,51% diện tích tự nhiên, trong đó đất ở đô
thị là 612,33 ha, chiếm 18,33% diện tích đất ở.
- Đất chuyên dùng và mặt nước sông suối chuyên dùng: 26.271,7 ha,
bằng 4,13% diện tích tự nhiên.
- Đất chưa sử dụng: 242.082,56 ha, bằng 38,06% diện tích tự nhiên.
Đặc điểm khí hậu xứ lạnh kết hợp với diện tích đất nông, lâm nghiệp dồi
dào sẽ là lợi thế cho Lào Cai phát triển các loại nông sản đặc sản xứ lạnh có
giá trị kinh tế cao như: hoa, quả, thảo dược…
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất
Đơn vị: ha; %
Chỉ tiêu 1995 2000 2005
D.Tích Cơ
cấu
D.Tích Cơ
cấu
D.Tích Cơ
cấu
Tổng diện tích 634.401 100 635.708 100 636.076 100
I.Nhóm đất nông nghiệp 241.815 38,12 280.546 44,13 364.460,8 57,30

loài thực vật, trong đó có nhiều loại quý hiếm như: Lát Hoa, Thiết Sam, Đinh,
Nguyễn Thu Hà - Kế hoạch 47A
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status