A. Những con số BH cần nhớ !
1. Mức đóng BHXH bắt buộc
Năm Người sử dụng lao động Người lao động
Luật BHXH
năm 2006
Đóng 15% trong đó :
- 3% vào quỹ ốm đau, thai sản
- 1% quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- 11% vào quỹ hưu trí, tử tuất. Từ năm 2010
cứ 2 năm trăng 1% cho đến khi đạt 14%
5% từ năm 2010, cứ 2
năm tăng 1% cho đến
khi đạt 8%
2010 16% 6%
2012 17% 7%
2014 18% 8%
2. Chi tiết mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động.
Hằng năm người sử dụng lao động đóng trên mức lương, tiền công đóng BBXH của người lao
động.
Năm
Người sử dụng lao động đóng
Quỹ ốm đau thai
sản
Quỹ TNLĐ,
BNN
Quỹ hưu trí, tử
tuất
Tổng cộng
1/2007-12/2009 3% 1% 11% 15%
1/2010-12/2011 3% 1% 12% 16%
1/2012-12/2013 3% 1% 13% 17%
- 12 tháng, nếu đóng đủ từ 12 năm trở lên
B. Nội dung chính từng chương
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM
I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM
1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm
- Rủi ro xảy ra sẽ làm cho con người gặp phải những khó khăn nhất định trong cuộc sống
như mất hoặc giảm thu nhập, thiệt hại tài sản, đình trệ sản xuất kinh doanh làm ảnh hưởng đến
đời sống kinh tế xã hội nói chung.
- Để đối phó với các rủi ro, con người đã sử dụng hai nhóm biện pháp nhằm đề phòng, ngăn chặn
rủi ro xảy ra và hạn chế, giải quyết hậu quả của rủi ro.
- Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra có hiệu quả nhất.
2. Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm
- Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm trên thế giới
- Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm ở Việt Nam
II. BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM
1. Bản chất của bảo hiểm
- Bảo hiểm phản ánh những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối
và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung (quỹ bảo hiểm) nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố bảo hiểm,
bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường.
2. Đối tượng nghiên cứu của bảo hiểm
Đối tượng nghiên cứu của bảo hiểm là các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa người tham gia với
các tổ chức bảo hiểm (người bảo hiểm) cũng như quan hệ giữa các tổ chức bảo hiểm với nhau.
3. Vai trò của bảo hiểm
Bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân trên các nội dung như:
- Góp phần bảo vệ tài sản, bảo vệ con người, phòng tránh rủi ro của xã hội, mang lại sự an toàn
cho xã hội;
- Thúc đẩy hoạt động tiết kiệm, tập trung vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn trong
xã hội;
tế - xã hội; góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát, tạo việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động, tạo ra thu nhập cho nền kinh tế, tức là góp phần kích thích tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Chương 2
BẢO HIỂM XÃ HỘI
I. BẢO HIỂM XÃ HỘI
1. Bản chất, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH
1.1. Bản chất của BHXH
Bảo hiểm xã hội phản ánh các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng
quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao
động, nhằm bảo đảm quyền lợi vật chất cho người lao động và gia đình họ, khi gặp phải các biến
cố làm giảm hoặc mất khả năng thanh toán từ thu nhập theo lao động.
1.2. Đối tượng BHXH
Đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động.
1.3. Chức năng của BHXH
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao
động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với
xã hội.
1.4. Tính chất của BHXH
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian.
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ.
2. Những quan điểm cơ bản về BHXH và hệ thống các chế độ BHXH
2.1. Những quan điểm cơ bản về BHXH
Để bảo toàn và phát triển quỹ BHXH, đối với phần quỹ BHXH chưa sử dụng đến có thể
tạm thời sử dụng tham gia vào đầu tư với mục đích nhằm tăng khả năng thanh toán của quỹ.
II. BẢO HIỂM Y TẾ
1. Bản chất của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là phản ánh các quan hệ kinh tế gắn kiền với việc huy động các nguồn tài
lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm và sử dụng
quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau. BHYT có
tác dụng khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, đồng thời nâng
cao chất lượng và thực hiện công bằng xã hội trong khám chữa bệnh cho nhân dân.
2. Đối tượng, phạm vi, phương thức BHYT
2.1. Đối tượng của BHYT
Đối tượng BHYT là sức khỏe của người được bảo hiểm.
2.2. Phạm vi BHYT
Vì hoạt động trên nguyên tắc cân bằng thu chi nên tuy mọi người dân trong xã hội đều có quyền
tham gia BHYT nhưng BHYT không chịu trách nhiệm trong các trường hợp: những người mắc
bệnh nan y, HIV, AIDS, ung thư nếu không có thoả thuận gì thêm; người tham gia cố tình tự huỷ
hoại bản thân, trong tình trạng say rượu, vi phạm pháp luật; người được BHYT khám, chữa
những bệnh thuộc chương trình sức khoẻ quốc gia.
2.3. Phương thức BHYT
BHYT thực hiện theo 3 phương thức: BHYT trọn gói, BHYT trọn gói trừ các đại phẫu
thuật và BHYT thông thường.
3. Quỹ BHYT
3.1. Nguồn hình thành quỹ BHYT
- Người tham gia đóng góp
- Sự hỗ trợ của NSNN
- Sự ủng hộ của các tổ chức từ thiện, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi theo quy định của pháp luật
nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ
3.2. Sử dụng quỹ BHYT
Quỹ BHYT được sử dụng cho các mục đích:
- Thanh toán chi phí y tế cho người được BHYT theo hệ thống định mức;
3.4. Chế độ bảo hiểm y tế:
- Người có Phiếu khám chữa bệnh được khám chữa bệnh theo đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật
do Bộ Y tế quy định được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí
hiện hành tại cơ sở khám chữa bệnh.
3.5. Chế độ trợ cấp hưu trí:
- Chế độ trợ cấp hưu trí nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không
được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu.
3.6. Chế độ tử tuất:
- Chế độ tử tuất giúp cho thân nhân người chết có được khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt
thu nhập của gia đình do người lao động bị chết.
Chương 3
BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
1. Quan niệm về bảo hiểm thương mại (BHTM)
Bảo hiểm thương mại là phương sách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro
trong từng nhóm người được thực hiện qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo
hiểm.
2. Đặc điểm của bảo hiểm thương mại
- Bảo hiểm thương mại là hoạt động thoả thuận nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai
bên: bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm.
- Bảo hiểm thương mại vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn.
- Bảo hiểm thương mại thực hiện trong một "cộng đồng có giới hạn", một "nhóm đóng".
- Bảo hiểm thương mại không chỉ đảm bảo các rủi ro về con người mà còn đảm bảo các rủi
ro về tài sản và trách nhiệm dân sự.
3. Những nguyên tắc chung trong hoạt động kinh doanh BHTM
- Nguyên tắc1: Số đông bù số ít
- Nguyên tắc 2: Rủi ro có thể được bảo hiểm
- Nguyên tắc 3: Phân tán rủi ro
- Nguyên tắc 4: Trung thực tuyệt đối
được người bảo hiểm đảm bảo cho rủi ro của mình. Phí bảo hiểm chính là giá cả của dịch vụ bảo
hiểm.
8. Thời hạn bảo hiểm
Là thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, kể từ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm và có
bằng chứng công ty bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí
bảo hiểm (trừ trường hợp đã có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm).
9. Bồi thường, trả tiền bảo hiểm
- Bồi thường là việc người bảo hiểm thực hiện cam kết theo quy định trong hợp đồng, chi
trả một khoản tiền nhất định nhằm đền bù cho người được bảo hiểm khi có thiệt hại vật chất xảy
ra cho họ trong sự cố bảo hiểm.
- Trả tiền bảo hiểm là việc người bảo hiểm thực hiện cam kết trả một khoản tiền nhất định,
theo những quy định trong hợp đồng mà không có thiệt hại vật chất xảy ra đối với người được
bảo hiểm.
III. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm (gọi là người được bảo hiểm)
và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo
hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.
IV. TÁI BẢO HIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
Tái bảo hiểm là nghiệp vụ trong đó một doanh nghiệp bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm
gốc hay doanh nghiệp nhượng tái) chuyển cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác
(doanh nghiệp nhận tái) một phần rủi ro đã nhận đối với một đối tượng bảo hiểm nhất định trên
cơ sở chuyển nhượng bớt một phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm.
Vai trò của hoạt động tái bảo hiểm thể hiện ở những nội dung sau:
- Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, hoạt động tái bảo hiểm giúp các doanh nghiệp bảo
hiểm không phải từ chối những hợp đồng có giá trị lớn, do đó, đã nâng cao được uy tín của
doanh nghiệp đối với khách hàng và giữ vững được thị trường, hạn chế các tổn thất của mình.
- Đối với người được bảo hiểm, hoạt động tái bảo hiểm gián tiếp đảm bảo cho họ có thể
nhận được quyền lợi đầy đủ khi có tổn thất xảy ra trong những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn.
- Đối với thị trường bảo hiểm, hoạt động tái bảo hiểm còn góp phần mở rộng và phát triển
thị trường bảo hiểm sang các nước khu vực và trên thế giới , làm cho thị trường bảo hiểm phát
đa là 10% giá CIF).
1.2.2. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là một trong những nội dung cơ bản ghi trong hợp đồng bảo hiểm. Người ta căn
cứ vào giá trị bảo hiểm để xác định số tiền bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm là số tiền đăng ký bảo
hiểm, được xác định tối đa bằng giá trị bảo hiểm của lô hàng xuất, nhập khẩu. Thông thường, số
tiền bảo hiểm bằng với giá trị bảo hiểm.
1.2.3. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền do người tham gia bảo hiểm nộp cho người bảo hiểm để hàng
hoá được bảo hiểm.
1.3. Giám định và bồi thường tổn thất
1.3.1. Giám định tổn thất
- Xác định mức độ và phân loại tổn thất cùng với các chi phí hạn chế tổn thất liên quan
(cứu vớt, chỉnh lý, tư sửa, đóng gói lại…)
- Xác định nguyên nhân tổn thất: Nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, tổng hợp rủi ro được
bảo hiểm.
1.3.2. Bồi thường tổn thất
Trên cơ sở thư khiếu nại và hồ sơ đòi bồi thường của người được bảo hiểm cùng với biên
bản giám định của bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ bồi thường tổn thất và các chi phí hợp lý gây
nên bởi rủi ro được bảo hiểm bao gồm: Giá trị thiệt hại thực tế của hàng hoá; Chi phí đóng góp
tổn thất chung; Chi phí cứu nạn; Chi phí hạn chế tổn thất; Chi phí giám định.
2. Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
2.1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
2.1.1. Đối tượng bảo hiểm:
Đối tượng bảo hiểm là xe cơ giới.
2.1.2. Phạm vi bảo hiểm:
Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm: rủi ro thông thường gắn liền với hoạt động của xe; rủi ro bất
thường dễ phát sinh; rủi ro khách quan có nguồn gốc tự nhiên, rủi ro khách quan có nguồn gốc
xã hội.
Các trường hợp loại trừ: những tổn thất không phải là hậu quả của những sự cố ngẫu nhiên,
khách quan, những tổn thất liên quan tới yếu tố chủ quan của chủ xe trong việc quản lý, bảo
Bảo hiểm thân tàu là dạng bảo hiểm tài sản, cho nên số tiền bảo hiểm được tính trên cơ sở
giá trị theo giá thị trường của đối tượng bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm bao gồm ba bộ phận chính:
giá trị của đối tượng bảo hiểm, cước phí chuyên chở hàng hoá, chi phí điều hành.
3.2.1. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là số tiền mà chủ tàu phải nộp cho công ty bảo hiểm trên cơ sở số tiền bảo
hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm.
3.3. Các điều kiện bảo hiểm thân tàu thuỷ
Hiện nay, các nước trên thế giới đang sử dụng 10 điều kiện bảo hiểm, trong đó 4 điều kiện
mà chủ tàu thường lựa chọn để tham gia bảo hiểm thân tàu là ILC, FPA, FOD, TLO.
Chương 5
BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
I. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
1. Định nghĩa bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm
dân sự.
2. Đặc trưng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có những đặc điểm riêng, khác với các loại hình bảo hiểm khác ở
đối tượng bảo hiểm, hình thức triển khai và giới hạn trách nhiệm.
II. NỘI DUNG MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
1. Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1.1. Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm
1.1.1. Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
1.1.2. Phạm vi bảo hiểm
- Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho những rủi ro bất ngờ không lường trước được gây ra tai
nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe, bao gồm những thiệt hại: thiệt hại về tính
mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ ba, về tài sản, hàng hoá của bên thứ ba, về tài sản làm
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc làm giảm thu nhập và các chi phí cần thiết và hợp lý để
thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại.
- Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các vụ tai nạn trong các
3. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
3.1. Đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu là bảo hiểm trách nhiệm bồi thường của chủ tàu cho người
thứ ba (tàu khác hoặc người khác) khi đưa tàu vào hoạt động gây thiệt hại cho người thứ ba.
3.2. Tai nạn đâm va và cách giải quyết
- Theo trách nhiệm chéo
- Theo trách nhiệm đơn.
Chương 6
BẢO HIỂM CON NGƯỜI
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM CON NGƯỜI
1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm con người
Bảo hiểm con người ra đời là hình thức bổ sung cho BHYT và BHXH nhằm đảm bảo ổn định
đời sống cho mọi thành viên trong xã hội trước những rủi ro tai nạn bất ngờ đối với thân thể, tính
mạng, sự giảm sút hoặc mất thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia.
2. Tác dụng của bảo hiểm con người
- Góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình, là chỗ dựa tinh thần cho người được
bảo hiểm.
- Góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ
gần gũi, gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Thông qua dịch vụ bảo hiểm con người, các nhà bảo hiểm thu được phí bảo hiểm tạo thành quỹ
bảo hiểm, tạo ra nguồn vốn đầu tư hữu ích, góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế.
- Bảo hiểm con người còn là một công công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt tạm
thời nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm
phát.
- Bảo hiểm con người còn góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội như tạo thêm việc làm cho
người lao động, tăng vốn đầu tư cho giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp, tiết kiệm, có kế
hoạch,…
3. Đặc trưng của bảo hiểm con người
Bảo hiểm con người có những đặc điểm khác với các loại hình bảo hiểm khác ở đối tượng bảo
hiểm, số tiền bảo hiểm, việc xác định số tiền bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm.
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền đều
đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm. Nếu
người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một
khoản tiền nào.
1.3.3. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp người được bảo hiểm tử
vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan xen nhau nên nó được áp dụng rộng rãi ở hầu
hết các nước trên thế giới.
2. Bảo hiểm con người phi nhân thọ
2.1. Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
Bảo hiểm tai nạn con người 24/24 là nghiệp vụ bảo hiểm mà ở đây nhà bảo hiểm sẽ chi trả số
tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hay người được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi người
được bảo hiểm bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm, đổi lại người được bảo hiểm hay người tham
gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm khi ký kết hợp đồng.
2.2. Bảo hiểm tai nạn hành khách
Là loại hình bảo hiểm được triển khai nhằm góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành
khách không may bị tai nạn cũng như gia đình họ, giúp chính quyền địa phương nơi xảy ra tai
nạn khắc phục hậu quả tai nạn kịp thời, nhanh chóng và góp phần ngăn ngừa, đề phòng tai nạn
giao thông.
2.3. Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật
Loại hình bảo hiểm này nhằm giúp mọi người khắc phục khó khăn khi không may họ bị ốm đau,
bệnh tật phải nằm viện điều trị hoặc phẫu thuật.
2.4. Bảo hiểm học sinh
Bảo hiểm học sinh là sự kết hợp giữa hai nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm ốm đau, bệnh
tật nhằm trợ giúp cho học sinh và gia đình các em một số tiền nhất định để nhanh chóng khắc
phục khó khăn, phục hồi sức khoẻ và sớm trở lại trường lớp khi không may các em gặp rủi ro, tai
nạn và tạo lập mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa nhà trường, gia đình và nhà bảo hiểm.