Quy luật mâu thuẫn, vận dụng vào phân tích công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 12

lời nói đầu
Quy luật mâu thuẫn là quy luật quan trọng nhất trong phép biện chứng duy
vật nó đợc coi là hạt nhân của phép biện chứng, nó vạch ra nguồn gốc bên trong
của sự vận động và phát triển, nó chỉ ra nguyên nhân của sự thay đổi cái này
thành cái khác, đồng thời nó tác động đến tất cả quy luật và phạm trù của phép
biện chứng.
Trong công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay có rất nhiều mâu thuẫn trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà
nớc, nhiều bài báo, cuộc họp đã bàn về vấn đề bức xúc này. Vì vậy trong quá
trình học tập và nghiên cứu về bộ môn Triết học - Mác, em đã quyết định chọn
đề tài: Quy luật mâu thuẫn, vận dụng vào phân tích công cuộc đổi mới ở nớc
ta hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo - thạc sĩ Lê Trọng Khanh đã hớng
dẫn, chỉ bảo và định hớng cho em đề cập đến vấn đề nghiên cứu một cách khoa
học và nghiêm túc.
1
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài Mục đích của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ,
cuốn hút tất cả các nớc ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống
xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hởng lớn tới nhịp độ phát
triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát
triển nhanh cho các nớc, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với
những nớc lạc hậu về kinh tế.
Trong cách mạnh XHCN, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm tòi,
xây dựng đờng lối, xác định đúng mục tiêu và phơng hớng XHCN. Nhng Đảng
đã phạm sai làm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội
trong cải tạo XHCN, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần. Có lúc đẩy
mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý
tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều chủ trơng sai trong việc cải cách giá cả,
tiền tệ, tiền lơng. Công tác t tởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm

Thực tiễn
- Mâu thuẫn kinh tế xã hội ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
+ Mâu thuẫn kinh tế vốn có của CNXH
+ Tính thống nhất và mâu thuẫn của các thành phần kinh tế
+ Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trờng và mục tiêu xây dựng con ngời
trong quá trình đi lên CNXH ở nớc ta.
+ Mâu thuẫn giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội
- Các chính sách và giải pháp
3
Nội dung
a. Cơ sở lý luận
i. QUY luật mâu thuẫn
Mâu thuẫn là hiện tợng khách quan và phổ biến. Phép biện chứng duy
vật khẳng định rằng , mọi sự vật và hiện tợng trong thế giới đều tồn tại mâu
thuẫn bên trong Mỗi sự vật và hiện tợng đều là một thể thống nhất của các mặt,
các thuộc tính, các khuynh hớng đối lập nhau. Những mặt này đối lập nhau nh-
ng lại liên hệ ràng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tợng khách quan mà còn là một hiện t-
ợng phổ biến. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật hiện tợng của giới
tự nhiên đời sống xã hội và t duy của con ngời. Không có một sự vật hiện tợng
nào lại không có mâu thuẫn và không có một giai đoạn nào trong sự phát triển
của mỗi sự vật hiện tợng lại không có mâu thuẫn. Mâu thuẫn này mất đi thì mâu
thuẫn khác lại hình thành.
Mâu thuẫn là một chỉnh thể , trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa
đấu tranh với nhau. Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập
không tách rời sự đấu tranh giữa chúng. Sự đấu trang giữa các mặt đối lập là một
quá trình phức tạp. Quá trình ấy có thể chia ra từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có
những đặc điểm riêng của nó. Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn thờng đợc biểu hiện
ở sự khác nhau của hai mặt. Trong quá trình phát triển cuă mâu thuẫn sự khác
nhau đó biến thành sự đối lập. Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với

bằng nền kinh tế tự nhiên, cùng với sự lớn mạnh của lực lợng sản xuất ( biểu
hiện ở sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng phát triển
sâu sắc ). Xã hội loài ngời theo Lênin bớc vào mội cách tổ chức của kinh tế xã
hội mới , sản xuất hàng hoá. Do giáo đầu và do ngộ nhận các xã hội hoá trên
thực tế cùng với những nguyên nhân khác sau khi Lênin mất sản xuất hàng hoá
ở các nớc XHCN đã bị thủ tiêu và thay thế bằng một nền kinh tế phi hàng hoá đ-
ợc quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung tuyệt đối. Những khiếm khuyết
căn bản của phơng pháp tổ chức kinh tế phi hàng hoá là ở chỗ: nó triệt tiêu tinh
thần lao động sáng tạo, nó không trực tiếp tác động đến động lực cố hữu, thiết
thân của ngời lao động, là lợi ích vật chất.
ở nớc ta đã có một thời gian dài sai lầm này dẫn tới kinh tế trì trệ, phát
triển chậm chạp. Cơ chế quan liêu bao cấp chính là nhân tố hàng đầu làm biến
dạng CNXH chân chính, khoa học. Nó chính là mâu thuẫn cơ bản mà công cuộc
đổi mới cần xoá bỏ dần để tiến tới cơ chế dân chủ, bởi vì chính nó làm cho sở
hữu không dân chủ, không có con ngời, làm biến dạng các quan hệ kinh tế - xã
hội, chính trị, nhân văn. Nó là một trong những mâu thuẫn cơ bản khác nh sự
phát triển lạc hậu của lực lợng sản xuất mâu thuẫn ới yêu cầu hiện đại hoá, dân
5
chủ hoá đất nớc. Cơ chế quan liêu đã làm méo mó con ngời, triệt tiêu các động
lực nội tại của nó, tớc mất ý chí và tự do độc lập, nhu cầu tự thể hiện bản thân
của nó - một điều kiện tiên quyết của hạnh phúc cá nhân. Cơ chế quan liêu
muốn hay không muốn biến con ngời thành phơng tiện của bộ máy của kế
hoạch vạch ra một cách quan liêu thành các vai trò xã hội nh vai trò của ngời
chấp hành, chấp hành các mệnh lệnh quan liêu từ trên dội xuống. Cơ chế quan
liêu do ngộ nhận xã hội hoá trên thực tế là công hữu hoá tập thể hoá, vội vàng
xoá bỏ sở hữu cá nhân - t nhân mà nh Anghen nói : thiết chế sở hữu t nhân còn
lâu mới đóng hất vai trò lịch sử của nó . Nó biến các cá nhân thành những ngời
không có sở hữu , mà làm chủ sở hữu là làm chủ về mặt kinh tế, tức tôi phải làm
chủ cái gì đó do chính bàn tay khối óc của tôi làm nên. Thực tế đã đợc chứng
minh ở trong các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam , mọi ngời ỷ lại vào nhau ,

khủng hoảng , các ngành và các thành phần kinh tế ngày càng trì trệ và sự tăng
trởng kinh tế chậm . Những mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế ở nớc ta đòi hỏi
phải đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu tố hàng hoá phát
triển tính tất yếu khách quan của việc chuyển đổi này là do các nhân tố sau
Nền kinh tế tự cung tự cấp ban đầu thích ứng với cơ chế tập trung, nhng
chỉ có chuyển lên sản xuất hàng hoá nền kinh tế mới có thể tăng trởng đợc
Các yếu tố thị trờng tồn tại ở nớc ta tuy còn thấp nhng xu hớng tất yếu nó
sẽ phát triển đầy đủ và toàn diện theo quy luật của nó
Nền kinh tế chỉ huy tồn tại ở nớc ta đã huy động đợc một bộ phận nguồn
lực cho sự phát triển ban đầu, nhng mô hình này bị khép kín , kém hiệu quả nên
xu hớng chung các nền kinh tế chỉ huy ở các nớc XHCN (cũ) và ở nớc ta đều
chuyển sang kinh tế thị trờng là phù hợp với xu hớng chung của thời đại ngày
nay
Sự hoà nhập trong phân công lao đông quốc tế cùng với thành quả của
khoa học kỹ thuật về công nghệ, quản lý, về chất lợng và phát triển môi trờng
cũng yêu cầu nền kinh tế nớc ta theo cơ chế thị trờng là tất yếu
Thực tiễn đó cũng là cơ sở khoa học chứng minh cho sự tất yếu của sự
chuyển đổi nền kinh tế nớc ta theo cơ chế thị trờng là phù hợp với quy luật phát
triển chủ trơng của nhà nớc ta là chuyển đổi kinh tế theo cơ chế thị trờng, phát
triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
3. Thế nào là kinh tế thị trờng và kinh tế thị trờng biểu hiện nh thế
nào dới định hớng của XHCN
Kinh tế thị trờng là một kiểu kinh tế xã hội mà trong đó sản xuất và tái
sản xuất xã hội gắn chặt với thị trờng , tức là gắn chạt với quan hẹ hàng hoá, tiền
tệ với quan hệ cung cầu .... Trong nền kinh tế thị trờng ,nét biểu hiện có tính
chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ sản xuất hàng hoá Mọi hoạt động
của xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá , hay ít nhất cũng phải sử dụng
các quan hệ hàng hoá nh là một khâu trung gian. Cơ chế thị trờng - mội yếu tố
cấu thành của cơ chế dân chủ, xét theo nghĩa rộng là cơ chế trực tiếp tác động
đến sự hình thành con ngời mới ở nớc ta hiện nay. Cơ chế thị trờng, giả định một

hệ chủ thợ, không có quan hệ giữa t bản và ngời làm thuê. Trong kinh tế, lấy sở
hữu xã hội làm chủ thể, quá trình lu thông trên thị trờng chủ yếu là quan hệ mua
bán và quan hệ tín dụng giữa các cộng đồng ngời lao động . Quan hệ về lợi ích
giữa nhà nớc, tập thể và cá nhân trong kinh tế thị trờng của CNXH là do chế độ
sở hữu công cộng quyết định nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là dân giàu nớc
mạnh , xã hội công bằng văn minh theo định hớng XHCN . Trong kinh tế thị tr-
ờng của CNXH, giữa các chủ thể kinh tế khác nhau ( ngời sản xuất, ngời kinh
doanh, ngời mua , ngời bán .. ) có lợi ích khác nhau. Đó là sự khác nhau giữa lợi
ích cá thể , cục bộ , lợi ích trớc mắt , lợi ích ngắn hạn . Đứng về lợi ích lâu dài
và lợi ích tổng thể các chủ thể kinh tế khác nhau đó đều có lợi ích chung nh
nhau. Sự khác nhau về lợi ích riêng và sự giống nhau về lợi ích chung đó tạo nên
một mối quan hệ mới, quan hệ hợp tác, cùng có lợi giữa các chủ thể kinh tế, dựa
trên nền tảng của sở hữu XHCN. Nhờ đó kinh tế thị trờng của CNXH giảm bớt
sự đối kháng vì xung đột về lợi ích .
Việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN ở nớc ta trong giai đoạn
vừa qua với sự tăng trởng của kinh tế đã chứng minh đờng lối đúng đắn của
8
Đảng cộng sản. Trong những năm tới, vấn đề đặt ra là làm sao duy trì và phát
triển mạnh hơn nữa về kinh tế, đảm bảo hớng đi đúng theo XHCN của nhân dân
ta.
4. Vì sao phải thừa nhận các thành phần kinh tế hiện có
Giai đoạn hiện nay nớc ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên CNXH, với sự
tồn tại của 5 thành phần kinh tế cơ bản, tơng ứng với nó là hai hình thức sở hữu
khác nhau. Việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong một giai đoạn phát triển
kinh tế của xã hội là tất yếu khách quan của kinh tế quá độ. Trong bất cứ hình
thái kinh tế xã hội nào cũng có phơng thức sản xuất giữ vị trí chi phối. Ngoài ra
còn có phơng thức sản xuất tàn d của xã hội trớc và phơng thức sản xuất mầm
mống cuả xã hội tơng lai. Các phơng thức sản xuất này ở vào địa vị lệ thuộc, bị
tri phối bởi phơng thức sản xuất thống trị. Trong một hình thái kinh tế xã hội có

và điều hành đất nớc, xây dựng kinh tế có kế hoạch. Biện pháp đó phản ánh yêu
cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất, xoá bỏ quan hệ sản xuất TBCN, xây dựng quan hệ
XHCN mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
Trong thời kỳ quá đọ ngoài biện pháp quốc hữu hoá, các thành phần kinh tế
còn đợc ra đời bằng cách cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế khác, đặc
biệt là thành phần sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân lao động. Việc nhà nớc
chuyên chình vô sản đầu t xây dựng những xí nghiệp quốc doanh mới về công,
nông, thơng nghiệp, ngân hàng, vận tải ...cũng là biện pháp cực kỳ quan trọng
nhằm mở rông và củng cố các thành phần kinh tế XHCN.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng công sản Việt Nam xác định ở nớc ta có các
thành phần kinh tế sau
Thành phần kinh tế nhà nớc: là những đơn vị, tổ chức trực tiếp sản xuất,
kinh doanh hoặc phục cụ sản xuất kinh doanh mà toàn bộ quyền lực thuộc sở
hữu nhà nớc, hoặc phần của toàn nhà nớc chiếm tỷ lệ khống chế .
Thành phần kinh tế hợp tác: kinh tế hợp tác là sự liên kết kinh tế tự nguyện
của các chủ thể kinh tế với hình thức đa dạng, linh hoạt phù hợp với nhu cầu khả
năng và lợi ích của các bên tham gia, có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới pháp
nhân. Hình thức quan trọng của kinh tế hợp tác là hợp tác xã, kinh tế hợp tác xã
là những hình thức liên kết kinh tế có pháp nhân, tuân thủ có nguyên tắc, có tổ
chức chặt chẽ và điều lệ hoạt động rõ ràng.
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc: kinh tế t bản nhà nớc là sản phẩm của sự
can thiệp của nhà nớc vào hoạt động của các tổ chức đơn vị kinh tế t bản trong
và ngoài nớc, nhằm sử dụng, khai thác, phát huy thế mạnh của mỗi bên tham
gia, đặt dới sự kiểm soát giúp đỡ của nhà nớc.
Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh
doanh dựa vào vốn là sức lao động của bản thân là chính. Đó là kinh tế cá thể,
tiểu chủ của nông dân, thợ thủ công, những ngời buôn bán, dịch vụ cá thể. Thế
mạnh của thành phần kinh tế cá thể là phát huy nhanh, có hiệu quả tiền vốn, sức
10

điển nữa . Nhng những biểu hiện mới đó cũng chỉ có thể coi là những thay đổi
11
cục bộ thứ cấp về chất của CNTB chứ không phải CNTB đã thay đổi bản chất.
CNTB vẫn là CNTB, mục tiêu cao nhất của CNTB vẫn là lợi nhuận tối đa và nó
vẫn đang còn sức sống và sức hấp dẫn đối với những quốc gia, dân tộc cha có
định hớng phát triển rõ ràng, nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Thế giới luôn luôn là một chỉnh thể đang trên hành trình đi tới một sự
thống nhất mới về chất. Do đó thế giới ngày nay đang ở trong một trạng thái vừa
có sự lệ thuộc, nơng tựa vào nhau, hợp tác với nhau để cùng tồn tại, phát triển,
vừa có sự đấu tranh, cạnh tranh quyết kiệt với nhau để đi tới một sự thống nhất,
một chỉnh thể dới hình thức và phơng pháp phong phú, đa dạng.
Thế giới đang chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ trên cả hai phơng diện mà xét về hệ quả của nó là mặt thiện và mặt
ác. Do đó không thể chỉ nhấn mạnh một chiều là mặt thiện và tính nhân loại của
những thành tựu do cách mạng khao học công nghệ đem lại với tính cách là:
của chung của loài ngời. Không nên xem nhẹ cái điều khoa học công nghệ và
làm thế nào để sử dụng những thành tựu ấy chỉ cho việc thiện. Trong điều kiện
cụ thể phát triển theo định hớng XHCN của nớc ta hiện nay, tác động của cách
mạng khoa học công nghệ vào quá trình đó có cả hai mặt thiện và ác, chúng ta
phải tính đến một cách đầy đủ cả hai mặt đó trong sự chuyển giao, tiếp nhận
thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ và sự hội nhập vào nền kinh tế thế
giới để nhận rõ mâu thuẫn kinh tế cơ bản và những mâu thuẫn kinh tế - xã hội
khác đang tác động, chi phối quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta theo định h-
ớng XHCN
Tính chất của xã hội ta hiện nay là đang quá độ từ một nớc tiểu nông kém
phát triển, tiến lên theo định hớng XHCN. Do đó, trong thực tế chúng ta đang
phải làm những việc theo quá trình lịch sử - tự nhiên thì cách mạng xã hội do
giai cấp t sản lãnh đạo trớc kia phải làm là chủ yếu. Nhng ở nớ ta giai cấp t sản
dân tộc nhỏ yếu, bất lực cha làm đợc, nay chúng ta phải làm. Chúng ta làm
những công việc ấy theo phơng hớng chiến lợc phát triển nền kinh tế hàng hoá

quy thành lao động trìu tợng thì đó là vì còn cha thể trực tiếp đo đợc lao động
bằng số lợng thời gian bỏ vào việc sản xuất ra của cải. Sự tồn tại cảu hai hình
thức toàn dân và tập thể gắn bó với nhau bởi những mối liên hệ hàng hoá sự tiếp
tục tồn tại của sự khác nhau về bản chất giữa lao động chân tay và lao động trí
óc làm cho ngời ta chỉ có thể đo đợc số lao lợng động bỏ ra dùng giá trị và dùng
các hình thức của giá trị làm trung gian. Do đó mà có tính hai mặt của hàng hoá
sản xuất ra trong xã hội XHCN. Nhng vì mâu thuẫn giữa lao động t nhân và lao
động xã hội hiện nay đã bị thủ tiêu dới CNXH, cho nên không còn đối lập giữa
giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá cũng nh của lao động cụ thể và lao động
trừu tợng, chỉ còn tồn tại một sự khác nhau thờng hay là một sự khác nhau về
bản chất mà thôi. Chúng ta đều thấy rằng cái trớc kia là một sự đối lập hay hơn
nữa là sự đối lập địch đối thì nay trở thành một sự khác nhau thờng trong quá
trình thủ tiêu các mâu thuẫn. Tuy nhiên sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá
trị có thể trở nên gay gắt một cách dễ dàng trong nền kinh tế XHCN, nhng đó là
do công tác không tốt của một vài xí nghiệp, do không hoàn thành kế hoạch, do
13
những sai lầm về kế hoạch hoá ... chứ không phải do những khuynh hớng và quy
luật tất yếu của sản xuất hàng hoá dới CNXH.
Dới chế độ XHCN, sức lao động không còn là hàng hoá nữa. Ngời công
nhân không còn phải lao động để tạo ra giá trị thặng d nữa, vì mục đích của sản
xuất XHCN là thoả mãn những nhu cầu của bản thân những ngời lao động. Sự
phát triển của sản xuất XHCN không tuân theo quy luật của cạnh tranh và của
tình trạng sản xuất vô chính phủ mà tuân theo quy luật phát triểncó kế hoạch của
nền kinh tế quốc dân. Cho nên không có lý do khách quan nào để cho sự khác
nhau giữa lao động cụ thể và lao động trừu tợng, giữa giá trị sử dụng và giá trị
của hàng hoá biến thành sự đối lập, sự xung đột nh dới chế độ TBCN. Nh vậy thì
tính hai mặt của hàng hoá và cả của lao động dới CNXH không còn là biểu hiện
của những mâu thuẫn của nền sản xuất hàng hoá trớc kia, của nền sản xuất hàng
hoá giản đơn hay TBCN, mà của một nền sản xuất hàng hoá thuộc một loại đặc
biệt phục vụ cho xây dựng CNCS


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status