ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
VƯƠNG XUÂN HƯƠNG
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG CHĂM
SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
VƯƠNG XUÂN HƯƠNG
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG CHĂM
SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
các chính sách xã hội về y tế một mặt thúc đẩy sự phát triển của ngành, cải
thiện và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân. Mặt khác, thực hiện cơ chế thị
trường ngành y tế cũng gặp phải một số hạn chế nhất định. Trong thời kỳ bao
cấp nhân dân được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ miễn phí. Việc xoá bỏ
chế độ bao cấp cho y tế đã gạt một bộ phận dân cư ra khỏi sự chăm sóc sức
khoẻ nói chung dẫn đến trong xã hội có sự phân hoá trong lĩnh vực hưởng thụ
các dịch vụ chăm sóc y tế, đây là một vấn đề nhạy cảm mà cả xã hội đang
quan tâm.
Với tư cách là mục tiêu lâu dài trong chiến lược phát triển con người
của Đảng, việc thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân
là một quá trình phát triển lâu dài với những biểu hiện phong phú đa dạng. Vì
thế, đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu nghiêm túc và khoa học cả về lý
luận và thực tiễn. Từ đó tìm ra hướng giải quyết nhằm khắc phục những hạn
chế, đưa ra các giải pháp có tính khả thi góp phần thực hiện mục tiêu chung
của chủ nghĩa xã hội là tất cả cho con người và vì con người.
Do đó, chúng tôi chọn đề tài: "Thực hiện công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nƣớc ta hiện nay" làm đề tài luận văn thạc
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Công bằng xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chính
sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trong đó việc mở rộng mạng lưới y tế
chăm sóc sức khoẻ nhân dân là nội dung quan trọng của chính sách xã hội
hiện nay. Ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta từ lâu đã quan tâm đến
vấn đề này. Ngoài các quan điểm của Đảng được khẳng định trong các Văn
kiện, Nghị quyết đã có nhiều công trình, bài viết của nhiều nhà khoa học,
nhiều tác giả đề cập đến vấn đề công bằng xã hội ở những góc độ khác nhau .
Trong lĩnh vực y tế đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về
vấn đề công bằng xã hội như:
4. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính
sách xã hội và công bằng xã hội.
Căn cứ thực tiễn của luận văn là đường lối của Đảng và Nhà nước trong
chiến lược phát triển con người với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh”. Những vấn đề của thực tiễn xây dựng chủ
nghĩa xã hội và thực hiện chính sách xã hội trong quá trình đổi mới của đất
nước.
Phương pháp: Dưới góc độ khoa học triết học - xã hội luận văn sử dựng
tổng hợp phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, kết hợp phương pháp lô gíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sách kết hợp với việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng vào phân tích tổng kết thực
tiễn.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi của đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội trong
chăm sóc sức khoẻ nhân dân, không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề công bằng
xã hội nói chung.
Công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một phạm trù
khá rộng. Luận văn chỉ tập trung làm rõ một số nội dung của công bằng xã hội
trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở nước ta từ đổi mới đến nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thành công của luận văn góp phần làm sáng tỏ quan điểm chính sách
của Đảng và Nhà nước về công bằng xã hội nói chung và công bằng xã hội
trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở lí luận và thực tiễn cho các cơ
quan quản lí của ngành hoạch định các chính sách nhằm đảm bảo công bằng
“Công bằng xã hội’’ được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới và đưa ra
những quan niệm khác nhau.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa công bằng là “theo đúng lẽ phải không
thiên vị’’ [55, tr .277].
Trong từ điển triết học giản yếu cho rằng: Công bằng có vai trò quan
trọng trong ý thức quần chúng. Nội dung của công bằng không có tính chất
chung chung, bất di, bất dịch, phi thời gian - nó thay đổi theo lịch sử, phản
ánh kinh tế - xã hội nhất định và sự đánh giá về mặt đạo đức của từng giai cấp
theo quyền lợi của mình …[56, tr. 650].
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa:… Công bằng nêu ra sự tương
quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và hoạ, lợi và
hại giữa người với người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng vai trò của những
cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao
động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền lợi và nghĩa vụ.
Không có sự tương xứng trong quan hệ ấy là bất công… Ngoài ra công bằng
còn được hiểu là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách hợp lý
những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân xuất
phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Về
nguyên tắc chưa có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực
mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực của xã hội còn
chưa được giải quyết. Bởi vậy, mỗi một xã hội có sự đòi hỏi riêng về công
bằng xã hội . [54, tr. 580-581].
Từ điển bách khoa triết học, Mátxcơva (1983) định nghĩa: Công bằng là
phạm trù đạo đức - pháp quyền và chính trị - xã hội. Khái niệm công bằng bao
hàm yêu cầu về sự tương xứng giữa vai trò thực tiễn của những cá nhân
(nhóm xã hội) khác nhau với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những
quyền và nghĩa vụ của họ, giữa cống hiến và đãi ngộ, giữa lao động và sự trả
công, giữa phạm tội và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã
Theo từ điển tiếng Việt “nhu cầu” là đòi hỏi của cuộc sống, tự nhiên và
xã hội [57, tr. 968].
Theo từ điển triết học giản yếu: “Nhu cầu” là sự cần đến thứ gì đó tất
yếu một cách khách quan nhằm duy trì hoạt động sống và sự phát triển của cơ
thể, của cá nhân con người, nhóm xã hội và toàn bộ xã hội.
Nhu cầu xã hội mang tính lịch sử nó phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của con người vào điều
kiện tự nhiên và xã hội nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình. Việc xã hội thoả
mãn các nhu cầu của con người đến mức độ nào, nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào
trình độ phát triển của xã hội và trình độ tự giác của con người. Nhu cầu của
con người là vô hạn và mong muốn của tất cả mọi người là ngày càng được
thoả mãn một cách tốt nhất tất cả các nhu cầu của cuộc sống.
Bình đẳng là “ngang bằng nhau về địa vị và quyền lợi” [57, tr.95].
Là sự được đối sử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá…
không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản
nhất là bình đẳng trước pháp luật.
Bình đẳng với tính cách là khái niệm chính trị - xã hội đều có nghĩa là
sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một phương diện xã
hội nhất định. Đó có thể là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã
hội về quyền và các nghĩa vụ khác nhau của công dân, về địa vị xã hội, về
việc thoả mãn các nhu cầu sống …
Nghiên cứu về vấn đề bình đẳng xã hội các nhà nghiên cứu xã hội cho
rằng: bình đẳng là sự ngang nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội trong
việc hưởng thụ những của cải vật chất và tinh thần đã được xã hội tạo ra.
Bình đẳng xã hội đều là sự ngang bằng nhau giữa người với người trên
các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… khi con người được thoả
nãm như nhau về tất cả mọi mặt thì con người đạt tới sự bình đẳng.
Giữa nhu cầu và bình đẳng xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
những gì mà con người được hưởng thụ, còn cống hiến thì không thể lượng
hoá nó một cách chính xác được nhất là những cống hiến về trí tuệ, chúng ta
đều biết rằng lao động trí óc phức tạp hơn nhiều so với lao động giản đơn.
Nhưng lấy tiêu chí nào để so sánh được mức độ khác nhau giữa hai loại hình
lao động đó một cách chính xác để đánh giá mức độ hưởng thụ là công bằng
hay không công bằng. Đối với loại hình lao động trí óc cống hiến của họ có
thể trong hiện tại hiệu quả của nó chưa được ghi nhận nhưng trong tương lai
lại có một ý nghiã lớn.
Vì vậy, xác định thế nào là công bằng không chỉ là vấn đề lí luận mà
còn là vấn đề thực tiễn.
Trong quá trình vận động và phát triển con người luôn phải điều chỉnh
và giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ sao cho phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của xã hội. Trong một chừng mức nhất định
công bằng là sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ với điều kiện mọi
người đều có thể tham gia và phát huy mọi năng lực của mình vào các hoạt
động chung của xã hội giống nhau. Ở chủ nghĩa xã hội công bằng xã hội được
thực hiện theo nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo lao động” làm nhiều
hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng. Nhưng trong thực tế
nếu chúng ta hiểu nguyên tắc phân phối này một cách quá máy móc như vậy
thì sẽ không thấy được bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi một
lẽ, hiện nay có một số người vì những lý do khác nhau họ không có khả năng
lao động. Họ vẫn luôn nhận được sự đùm bọc của xã hội bằng nhiều cách để
họ ổn định cuộc sống. Đây là biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái và sự công
bằng. Đến chủ nghĩa cộng sản công bằng xã hội được thực hiện theo nguyên
tắc “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” đến đây lý tưởng cao cả về sự
bình đẳng của con người được thực hiện.
Công bằng xã hội mang tính khách quan nó xuất phát từ nhu cầu phát
triển của xã hội, có công bằng xã hội thì mới kích thích được người lao động
ngày càng nhiều có thể thoả nãm một cách tốt nhất cho con người, lúc đó
khẩu hiệu “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” được thực hiện, nhưng
Mác vẫn nhắc nhủ chúng ta rằng: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức
cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế
đó quyết định” [30, tr. 36].
Trong tác phẩm “Chống Đuy Rinh” Ăngghen cũng khẳng định:
“Những thành quả, những giá trị lớn hơn do lao động phức tạp sản xuất ra
cũng thuộc về xã hội. Bản thân người công nhân không có quyền đòi hỏi một
khoản phụ thêm nào cả. Từ đó cái khẩu hiệu ưa thích về quyền của người
công nhân được hưởng thụ lao động đầy đủ dù thế nào chăng nữa, không phải
bao giờ cũng không có nhược điểm” [31,tr .283] .
Giải thích quan điểm của Mác - Ăngghen, V.I .Lênin đã khẳng định
trong chủ nghĩa xã hội tư liệu sản xuất không còn là của riêng cá nhân nữa mà
thuộc về xã hội, số lượng lao động của người công nhân được chia làm hai
phần: Một phần sẽ dùng vào quỹ chung của xã hội và phần còn lại người công
nhân sẽ được lĩnh, tuỳ theo mức độ cống hiến cho xã hội. Lênin nhấn mạnh
hai nguyên tắc phân phối sản phẩm:
Thứ nhất: Người không làm thì không ăn.
Thứ hai: Số lượng lao động ngang bằng nhau thì hưởng số sản phẩm
ngang bằng nhau [ 40. tr. 409].
Như vậy, cả Mác - Ăngghen và Lênin đều khẳng định công bằng xã hội
phải được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động. Đây là nguyên
tắc thể hiện sự phân phối công bằng dưới chủ nghĩa xã hội. Nguyên tắc này
chưa tạo ra sự bình đẳng hoàn toàn, vì vẫn dùng lao động làm thước đo để
phân phối sản phẩm cho mọi người mà trong thực tế không phải bất cứ người
lao động nào cũng có khả năng lao động như nhau. Công bằng xã hội là mục
tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội nhưng không phải có chủ nghĩa xã hội
là đã có công bằng xã hội. Thời kỳ đầu của chủ nghĩa xã hội vẫn có những
“Không có tình trạng người giỏi người kém, việc khó, việc dễ cũng
công điểm như nhau” [58, tr.143].
Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọng cần phải
nhớ:
Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng .
Không sợ nghèo chỉ sợ lòng dân không yên [34, tr.176].
Theo Hồ Chí Minh, phân phối là một khâu cực kỳ quan trọng để thực
hiện công bằng xã hội. Đảm bảo công bằng trong phân phối sẽ có tác dụng
kích thích người lao động, thúc đẩy tính tích cực và sự sáng tạo của họ trong
lao động, đảm bảo công bằng trong phân phối phải tránh phân phối bình quân.
Nếu chúng ta làm không tốt vấn đề này sẽ tạo ra sự bất công trong xã hội, tạo
điều kiện cho những kẻ lười biếng, những kẻ có chức có quyền đục khoét của
nhà nước. sống trên mồ hôi, nước mắt của nhân dân.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng là quan điểm của Đảng ta trong suốt
quá trình cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam coi con người là
trung tâm của sự nghiệp cách mạng. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng
đã tạo tiền đề về lý luận và thực tiễn cho việc hình thành quan điểm về công
bằng xã hội . Đại hội Đảng lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh nêu rõ: Công
bằng xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội.
Công bằng xã hội trước hết là công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ, không thể
có quyền lợi nếu như không có nghĩa vụ và ngược lại. Công bằng phải dựa
trên cơ sở kết hợp hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, giữa cái chung
và cái riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ. Công bằng không chỉ có ý nghĩa
kinh tế mà còn bao hàm cả những giá trị văn hoá, tinh thần. Nhà nước tạo
điều kiện cho mọi thành viên xã hội đều được hưởng thụ các giá trị vật chất
và tinh thần, bảo vệ sức khoẻ để họ có cơ may thành đạt trong cuộc sống. Với
sách xã hội đều hàm chứa nội dung và ý nghĩa kinh tế. Dựa trên kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế để phân phối sản phẩm xã hội. Vấn đề cần chú ý ở
đây là nền kinh tế nhiều thành phần thì điều đương nhiên sẽ tồn tại nhiều hình
thức phân phối khác nhau như: Phân phối dựa trên mức đóng góp của các
nguồn lực vào quá trình sản xuất và kinh doanh, phân phối thông qua phúc lợi
xã hội và các chính sách bảo hộ quyền lợi của người lao động. Quan điểm
của nhà nước ta hiện nay trong phát triển kinh tế là khuyến khích tất cả mọi
thành phần kinh tế phát triển theo qui định của pháp luật và làm giàu hợp
pháp.
Thực tế cho thấy phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường, có những tác động nhất định đến công bằng xã hội:
- Làm cho xã hội ngày càng có sự phân hoá sâu sắc, tạo ra sự chênh
lệch giữa các vùng, giữa nông thôn với thành thị, giữa miền núi với đồng
bằng, giữa các tầng lớp dân cư nơi có điều kiện phát triển thì có thu nhập có
việc làm đời sống nhân dân được đảm bảo. Ngược lại, nơi không có điều kiện
phát triển thì làm ăn khó khăn mức thu nhập của người dân thấp dẫn đến sự
phân hoá giàu nghèo trong xã hội đó là sự bất công.
- Trong cơ chế thị trường sự cạch tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra
khốc liệt, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận nên các chủ doanh nghiệp không từ
bất cứ thủ đoạn nào kể cả vi phạm pháp luật như: Buôn lậu, trốn thuế, làm
hàng giả… để có được lợi nhuận cao mà chưa bị chừng phạt một cách nghiêm
khắc. Đó là sự không công bằng trong làm ăn.
Theo quan diểm của Đảng ta hiện nay, công bằng phải được xem xét
một cách toàn diện trong các lĩnh vực: Kinh tế; chính trị; xã hội trong đó công
bằng trong lĩnh vực kinh tế giữ vai trò quan trọng.
Công bằng trong kinh tế, trước hết là phải tạo điều kiện cho mọi thành
viên trong xã hội phát triển khả năng của mình, đảm bảo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, kinh tế tư nhân
mà tất cả mọi người lao động đều mong muốn. Như vậy, công bằng xã hội
phù hợp với nhu cầu bên trong của từng người cho nên nó kích thích được
tính năng động, sáng tạo thúc đẩy người lao động đem hết khả năng và nhiệt
tình sức lực, trí tuệ để tạo ra ngày càng nhiều của cải cho xã hội.
Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhu cầu đảm
bảo công bằng xã hội càng cấp bách hơn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Những quan điểm của Đảng về công bằng xã hội sẽ là cơ sở lý luận
giúp chúng ta xây dựng các chính sách xã hội, giải quyết tốt vấn đề công bằng
xã hội trong thực tiễn, đó sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội và là điều kiện đảm bảo cho chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội.
1.2. Công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân
1.2.1. Vị trí của công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Chăm sóc sức khoẻ nhân dân được Nhà nước ta đặc biệt coi trọng vì
sức khoẻ là vốn quý nhất, với mỗi con người tiền bạc, danh vọng, của cải, địa
vị… so với sức khỏe chỉ xếp hàng thứ yếu. Làm sao có hạnh phúc khi bị ốm
đau, bệnh tật. Với những ai ở hoàn cảnh ấy không ít người sẵn sàng đổi nhiều
thứ để lấy sức khoẻ. Già trẻ, trai gái dù làm công việc gì, ở đâu, hoạt động ở
lĩnh vực nào cũng đều cần đến sức khoẻ. Hồ chí Minh rất quan tâm đến sức
khoẻ của mọi người, Người cho rằng: dân cường thì nước thịnh. Một chân lý
có ý nghĩa vô cùng to lớn, mang tính chiến lược có sức trường tồn, một quốc
gia “cường” một cách toàn diện ắt sẽ bảo vệ một cách vững chắc và xây dựng
nhanh chóng một đất nước thịnh vượng, sánh vai với năm châu bốn biển.
Ngược lại, một đất nước thịnh vượng sẽ tạo điều kiện cho mỗi người cường
tráng toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ.
Chân lý dân cường thì nước thịnh được Hồ Chí Minh nêu lên chỉ sau
mấy tháng khi đất nước Việt Nam được khai sinh. Trong bài: sức khoẻ và thể
dục Người chỉ ra rằng giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời
1.2.2. Nội dung công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân
Chăm sóc sức khoẻ nhân dân theo định hướng công bằng là một quan
điểm của Đảng ta, một tư tưởng lớn xuyên suốt quá trình xây dựng và phát
triển nền Y tế Việt Nam, nhất là từ khi công cuộc đổi mới được thực hiện.
Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người
còn ở mức thấp so với các nước trung bình trong khu vực và trên thế giới.
Ngân sách dành cho y tế còn ở mức rất khiêm tốn năm: 1997 là 5.2
USD/người/ năm, 2001 là 6 USD/người/năm [6, tr. 45].
Mặc dù vậy, Nhà nước ta vẫn quyết tâm phấn đấu thực hiện sự công
bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Nội dung của tư tưởng này được
xuất phát từ quan điểm con người là vốn quý nhất, “nguồn tài nguyên” đặc
biệt phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong con người sức
khoẻ là yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy mọi người không phân biệt giàu nghèo
đều phải được chăm sóc sức khoẻ, không để tình trạng người bị bệnh tật vì
nghèo mà không được cứu chữa. Tư tưởng này cũng khẳng định đường lối
chính sách của Đảng có sự ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho người có công, cho
người nghèo, dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa. Nhưng có một vấn đề
chúng ta phải chú ý là khi nói tới công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không
có nghĩa là mọi người đều được chăm sóc như nhau. Sự chăm sóc này trước
hết phải được xuất phát từ nhu cầu, vào tình trạng của bệnh tật và phù hợp
với điều kiện kinh tế của đất nước, của từng địa phương.
Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho toàn dân là một trong những vấn đề
được Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong tình hình hiện nay. Tại Hội nghị lần
thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII ) khi xem xét công tác
bảo vệ sức khoẻ, Đảng ta xác định: “ Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con
người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ tổ
quốc, vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm sức khỏe”
[17 ].
càng sâu sắc giữa các vùng, các tầng lớp. Những người giàu có ưu thế ngày
càng giàu thêm, ngược lại người nghèo có nhiều nguy cơ bất lợi và bị nghèo
đi. Quá trình này nếu tiếp tục diễn ra trong thời gian dài sẽ gây ra sự chệnh
lệnh giàu - nghèo với khoảng cách càng ngày càng xa, dẫn tới sự phân chia xã
hội thành tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo có mức sống khác nhau quá xa đó
là một sự bất công. Đổi mới kinh tế, đổi mới y tế đã huy động được nhiều
nguồn khác nhau trong xã hội cho công tác y tế với hình thức ngày càng đa
dạng như: viện phí, bảo hiểm y tế, y tế tư nhân… các hình thức này đã nâng
cao tính năng động của ngành y tế nhưng mặt khác đã làm ảnh hưởng xấu đến
công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, người nghèo do điều kiện và hoàn cảnh
sống khó khăn nên thường xuyên gặp phải rủi ro, bệnh tật đến với họ nhiều
hơn do thiếu thốn về vật chất, mặt khác ở họ còn có những hạn chế nhất định
về nhận thức và các kiến thức khoa học cho nên khả năng phòng chống các
loại bệnh tật kém. Người nghèo ít có khả năng tiếp xúc với các dịch vụ y tế và
như vậy trong một chừng mức nào đó họ ít được chăm sóc hơn.
Chúng ta bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội khi mà
nền kinh tế của chúng ta còn rất lạc hậu, hậu quả của chién tranh chưa được
phục hồi, lạm phát đã làm cho cơ sở vật chất của chúng ta gặp nhiều khó
khăn. Đối với ngành y tế nhiều bệnh viện bị xuống cấp một cách nghiêm
trọng, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh vừa thiếu vừa lạc