ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐOÀN THỊ DUYÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐOÀN THỊ DUYÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
60 22 85
Tài chính - Kế toán hiện nay .................................................................. 39
2.2.1. Quan niệm về đạo đức của sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán .... 39
2.2.2 Tình hình giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính
- Kế toán ................................................................................................ 67
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN QUẢNG NGÃI HIỆN NAY ................................................77
3.1. Nâng cao hiệu quả công tác, phương pháp giảng dạy các môn khoa học MácLênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh ............................................................... 77
3.2. Thiết kế, xây dựng nội dung chương trình đảm bảo các yếu tố của giáo dục
đạo đức .................................................................................................. 80
2
3.2.1. Xây dựng nội dung giáo dục đạo đức phù hợp, bảo đảm sự kết hợp
giữa giáo dục đạo đức truyền thống với giáo dục đạo đức chuyên
môn nghiệp vụ, quản lý doanh nghiệp .................................................... 80
3.2.2. Gắn chặt hơn nữa việc giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức trong
công tác hướng dẫn sinh viên thực tập, thực tế ....................................... 84
3.3. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, “trường học thân thiện,
học sinh tích cực” .................................................................................. 86
3.3.1. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh .................................... 86
3.3.2. Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” .............................. 94
3.4. Đổi mới công tác quản lý giáo dục đạo đức ....................................................... 99
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 105
PHỤ LỤC
.......................................................................................................... 109
khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường là lý do để tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức
cho sinh viên trường Cao đẳ ng Tài chính Kế - toán Quảng Ngãi hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể thấy rằng vấn đề về giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức
cho sinh viên nói riêng từ rất lâu đã có sự quan tâm sâu sắc và chặt chẽ của các nhà
nghiên cứu, các học giả, của Đảng, Nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội, tổ
4
chức nghề nghiệp... thông qua các công trình nghiên cứu và công bố dưới những
góc soi chiếu giá trị khác nhau về con người, nhân cách con người, về đạo đức, lối
sống, lý tưởng, niềm tin... đã có một số các tác phẩm chung nhất sau đây nghiên cứu
về vấn đề này:
Trần Văn Giàu (1980),“Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Thành Duy (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Hậu Kiêm (1997), “Đạo đức
học”, Nxb Giáo dục; Phạm Minh Hạc (2002), “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa
của thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; GS. La Quốc Kiệt (2003), “Tu
dưỡng đạo đức tư tưởng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vladimir Soloviev,
Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004), “Triết học đạo đức”, Nxb Văn hóa thông
tin, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Long, PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên, 2004)
“Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Phan Thanh
Long (chủ biên, 2006), “Lý luận giáo dục”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
Một số tác giả, tác phẩm với nhiều đề tài khác nhau nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề giáo dục đạo đức như:
Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang (1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt
Nam hiện nay, Đề tài KX 07-02, T1, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (2001), Nhân cách và giáo
dục văn hoá nhân cách, Tạp chí Triết học T1; Nguyễn Trọng Chuẩn (2001) Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trọng lĩnh
viên Ngân hàng hiện nay.
“Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên và vận
dụng vào điều kiện hiện nay” (Nguyễn Thu Trang, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2008)
phân tích nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên
thông qua các bài nói, bài viết, việc làm và tấm gương đạo đức của Người. Trình
bày sự vận dụng và phát triển quan điểm của Người về giáo dục đạo đức cho thanh
niên ở nước ta hiện nay xuất phát từ thực tiễn tình hình giáo dục trong nước và thế
giới. Đề xuất một số giải pháp: tăng cường công tác giáo dục đạo đức cho thanh
niên; giáo dục đạo đức cho thanh niên theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kết
hợp chặt chẽ giữa gia đình với nhà trường và xã hội; tăng cường vai trò của các tổ
chức đoàn thể xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho thanh niên ở nước ta hiện nay.
Có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu các giá trị đạo đức và giáo dục đạo đức
cho sinh viên, cho thế hệ trẻ cách mạng của nước ta ngày hôm nay và mai sau
6
không bao giờ là đủ. Vậy nên, thông qua hàng loạt các bài viết, bài nói, công trình
nghiên cứu về đạo đức, các giá trị đạo đức, giáo dục đạo đức như tác giả đã đề cập ở
trên nhưng chưa đề tài nào nghiên cứu, nhấn mạnh về vấn đề “giáo dục đạo đức
cho sinh viên Tài chính - Kế toán”. Vậy nên, tôi đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn
của mình là: “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳ ng Tài chính Kế
toán Quảng Ngãi hiện nay” với mong muốn sẽ làm rõ hơn và nổi bật lên vấn đề về
giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên góp phần vào sự phát triển ổn định, bền
vững của nền kinh tế nước nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ, vai trò, nội dung, thực trạng của công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi, từ đó đề xuất
6. Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò, nội dung, tầm quan trọng của giáo
dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiện
nay.
- Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán
hiện nay.
- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu để giáo dục đạo đức cho sinh viên
ở các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên.
Chương 2: Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường
Cao đẳng Tài chính - Kế toán hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh
viên Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi hiện nay
8
Chƣơng 1
ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
1.1. Đạo đức và chức năng của đạo đức
1.1.1. Đạo đức
Theo nghiên cứu của một số các tác giả như: Trần Hậu Kiêm (1997) “Đạo đức
học”, Nxb Giáo dục, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Long, PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt
(chủ biên), “Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội,
2004; Vladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004) “Triết học đạo
phát từ sự vô minh. Một người có hành động không đúng bởi vì, và chỉ vì, anh ta
không biết cái gì là đúng đắn. Không có một người tỉnh táo và lành mạnh nào lại
chủ tâm làm tổn hại bản thân mình. Nếu anh ta thực sự làm một điều như vậy, đơn
giản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động, hoàn toàn không
phải do cố ý. Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành vi tội lỗi luôn
mang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác; mặt khác đức hạnh không chỉ là
tri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với hạnh phúc. Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũng
chính là hành vi mang đến những điều tốt đẹp cho người thực hiện nó. Hạnh phúc
kết thành quả từ đó.
Theo Aristote (384-322 tr.CN), con người được sinh ra, không chỉ sống để
tồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp - tuân thủ những nguyên tắc do lý trí của
chính mình tạo ra, tuân theo bản chất tối thượng của mình. Hành vi cá nhân cần
được kiểm soát bởi các nguyên tắc đạo đức, sự tiết độ và né tránh mọi hình thức thái
quá hay bất cập. Điều này đòi hỏi anh ta phải xác định hành vi đúng đắn cho từng
tình huống cụ thể. Đó không phải là một công việc dễ dàng, bởi lẽ mực thước và
đức độ có nghĩa là làm đúng việc, liên hệ đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúng
mức, đúng cách và phục vụ cho mục đích đúng đắn, đối tượng của đạo đức là “lĩnh
vực hoạt động của con người, với tư cách là một hành vi xuất phát từ một quyết
định”. Theo bản năng, con người đi tìm “cái lợi ích tối cao” của riêng mình và điều
đó thể hiện sự thành đạt của anh ta. Đó là hạnh phúc, (thuyết duy hạnh phúc), mục
đích tối thượng của hoạt động của con người, nó không chỉ đơn thuần là khoái lạc,
danh dự hay giàu sang, mà cũng không phải là cái gì tuyệt đối bởi vì của cải của con
người là ở sự hoà hợp hoạt động của tâm hồn với đạo đức. Trong số các đức tính do
Aristote đề nghị, sự thận trọng có tính chất quyết định để đảm bảo cho hành động
có đạo đức: ...không thể làm người lương thiện theo đúng nghĩa, nếu không có đức
10
tính thận trọng, và cũng không thể là người thận trọng nếu không có đạo đức luân
Ngay từ trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, ý thức đạo đức của những người
mông muội trong các khu rừng và các hang động đã đặt ra yêu cầu là con người
phải thiết lập được mối quan hệ với nhau, phải hợp tác với nhau trong công việc săn
bắt, hái lượm… hàng ngày. Từ đó đã làm nảy sinh khát vọng tự nguyện, tự giác,
bình đẳng, công bằng trong xã hội và đây chính là những biểu hiện đầu tiên của giá
trị, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong hình thức phát triển của nó.
Trong Lời tựa viết cho Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị, C.Mác đã
viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội,
chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn
tại của họ; trái lại, sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.15].
Mỗi hệ thống đạo đức ấy phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp xã hội tương
ứng. Từ đó, Ăngghen (1820-1895) khẳng định: “Con người, dù tự giác hay không
tự giác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực
tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế trong
đó người ta sản xuất và trao đổi” [34, tr.136].
Trong Chống Đuyrinh, cùng với việc phê phán quan niệm của Đuyrinh về
những chân lý đạo đức vĩnh cửu, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, về thực chất và
xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan niệm đạo đức chẳng qua chỉ
là sản phẩm của các chế độ kinh tế, các thời đại kinh tế. Ph.Ăngghen viết: “Từ dân
tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về
Thiện -Ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [34,
tr.135]. “Người da đỏ châu Mỹ xem việc lột da đầu người thật nhiều là công trạng,
anh ta quan niệm việc làm này là lương thiện và anh hùng không chỉ hôm nay, mà
mãi mãi, không chỉ cho một mình anh ta, mà còn cho mọi con người tử tế... Người
Gottentot nổi tiếng tuyên bố rằng thiện - đó là khi anh ta đánh cắp được thật nhiều
bò của người khác, còn ác - khi người khác đánh cắp bò của anh ta, thì dĩ nhiên anh
ta không xem cái nguyên tắc đạo đức ấy là của riêng mình, mà cho rằng đối với mọi
người đánh cắp được thật nhiều của cải của người khác là thiện, còn để mất của
các hành vi đạo đức của mình. Sau nữa nó còn được phán xử bởi chính lương tâm
con người về những động cơ, mục đích thầm kín của bản thân mình. Trên cơ sở đó
mà nó nhận thức được những giá trị đạo đức chân thực và định hướng được hoạt
động của mình phù hợp với lợi ích của xã hội và người khác.
13
Đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh chính là toàn bộ những chuẩn
mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và
với cộng đồng. Dựa vào những chuẩn mực đó người ta đánh giá hành vi của mỗi
người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái được làm và cái không được làm
trong đời sống...
Vậy là, đạo đức không phải là một hiện tượng siêu nhiên, thần bí, không phải
là một lực lượng áp đặt từ bên ngoài vào xã hội, đạo đức không phải là sản phẩm
chủ quan của con người mà sự ra đời và phát triển của đời sống đạo đức là do nhu
cầu cuộc sống của con người, của xã hội đặt ra. Đạo đức là sự phản ánh những quan
hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế. Vì vậy đạo đức học không
chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hình thái tư tưởng tinh thần của đạo đức, mà còn chú
ý nghiên cứu nội dung khách quan của nó là những quan hệ đạo đức hiện thực.
Trong đời sống đạo đức, những giá trị đạo đức được sáng tạo ra không chỉ tồn tại
trong ý thức, mà điều quan trọng là phải được thể hiện trong đời sống hiện thực ở
tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Với tư cách là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm để điều chỉnh
hành vi con người, nhân loại bao giờ cũng cần đến đạo đức. Từ cổ đại đến hiện đại,
từ phương Đông đến phương Tây, không lúc nào vắng bóng hay thiếu sự hiện diện
của đạo đức. Khoa học - kỹ thuật càng phát triển, xã hội càng tiến bộ... nhân loại
càng cần đến đạo đức. Do vậy, “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc,
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã
hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá
của nhân dân trong cuộc đấu tranh vĩ đại và lâu dài của dân tộc. Những tấm gương ấy
có sức thuyết phục và cổ vũ con người học tập, tu dưỡng để xứng đáng hơn nữa và
đáp ứng những nhu cầu của sự tiến bộ xã hội. Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân
Việt Nam đã nêu một tấm gương sáng chói về đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức
là cái gốc của cán bộ, đảng viên. Thực hiện lời dạy của người, nhiều cán bộ, chiến sĩ
đã lao động, chiến đấu quên mình, sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của nhân dân, vì
độc lập tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp của con người.
Chức năng điều chỉnh hành vi: Sự tự điều chỉnh theo chuẩn mực đạo đức
biểu hiện thành những khái niệm về nhân phẩm, danh dự, đúng sai, thiện ác... là các
yêu cầu của xã hội cho hành vi của mỗi cá nhân mà nếu không tuân theo có thể sẽ bị
xã hội lên án hoặc bị lương tâm cắn rứt. Chuẩn mực đạo đức xã hội như một mệnh
lệnh bản thân định hướng cho hoạt động của con người luôn biết hướng tới điều
15
“thiện” tránh điều “ác”. Chuẩn mực đạo đức là phương thức tự điều chỉnh ưu việt và
đặc thù của xã hội loài người giúp con người có khả năng tự hoàn thiện và phát triển
ngày một văn minh, tiến bộ hơn.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức cần có một hệ thống quy tắc,
chuẩn mực trong đời sống thực tiễn xã hội. Thông qua đời sống của xã hội hiện
thực, bằng cách này hay cách khác sự kết hợp nhu cầu về lợi ích giữa cá nhân và tập
thể với lợi ích toàn xã hội làm cho xã hội phát triển bền vững hơn sẽ nâng giá trị
mang đậm tính nhân bản, tính người của con người, của cá nhân, tập thể tham gia
vào hoạt động xã hội của cộng đồng người và xã hội loài người. Do đó sự tự điều
chỉnh có vai trò hết sức quan trọng để mỗi cá nhân trong khi thỏa mãn những nhu
cầu đạo đức và lợi ích chính đáng của mình thì cũng lưu tâm, băn khoăn, và tìm
cách giải quyết một cách hài hoà nhất với lợi ích của xã hội mà không phải tìm cách
lách luật và “lách lương tâm”.
Muốn có được sự điều chỉnh hợp lý, mỗi con người không phải chỉ biết dừng
của thần thánh, tôi hoảng sợ sự phấn kích và sự lộ hiện cái bản chất tự nhiên hạ
đẳng của tôi: Tôi xấu hổ tức là tôi tồn tại, không chỉ tồn tại bằng vật chất, còn cả
bằng tinh thần nữa, - tôi xấu hổ tính con vật của mình, tức là tôi còn tồn tại như là
con người” [47, tr.32].
Bằng hành động của chính mình và thử thách bản chất của mình, con người
đạt đến sự tự ý thức về sự tồn tại và về hành vi đạo đức của mình, khai phá ra những
giá trị đạo đức mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của xã hội đương thời. Những
quan điểm đạo đức sai lầm không giúp con người nhận thức đúng sự phát triển xã
hội. Điều đó làm cho hành động mắc sai lầm, không đạt được điều mà chủ thể mong
muốn. Cho nên, những quan điểm đạo đức như vậy đưa lại nỗi thất vọng, không tin
tưởng vào cuộc sống và làm giảm sút ý chí cũng như khả năng nhận thức hoạt động
của con người.
Trong các chức năng nêu trên thì chức năng giáo dục giữ vai trò hết sức quan
trọng. Nhờ có chức năng này mà con người đã tự giác điều chỉnh hành vi của mình
làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm được quan hệ lợi ích
giữa cá nhân và cộng đồng, giúp cho con người nhận thức và hành động theo cái
chân, thiện, mỹ, đẩy lùi cái ác, thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội… Tuy
nhiên hiệu lực của sự tác động trở lại đó lại phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau: Ý
thức đạo đức đó là tiến bộ hoặc lạc hậu: Nếu tiến bộ nó sẽ có tác dụng thúc đẩy sự
17
phát triển của xã hội. Ngược lại nếu ý thức đạo đức lạc hậu, bảo thủ thì sẽ kìm hãm,
cản trở sự phát triển của xã hội; mức độ thâm nhập của ý thức đạo đức đó trong quần
chúng nhân dân; phụ thuộc vào khả năng, năng lực của giai cấp cầm quyền.
1.2. Giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên
1.2.1. Giáo dục đạo đức
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục đến
đối tượng giáo dục nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển nhân cách riêng của mỗi đối
phẩm chất tư tưởng đạo đức mà nhà giáo dục mong muốn. Thầy giáo khi yêu cầu
học sinh, sinh viên của mình thực hiện một nhiệm vụ giáo dục theo đúng chỉ dẫn
của thầy chính là thực hiện những yêu cầu, quy định của xã hội. Con người dưới
ảnh hưởng của nhà trường, gia đình và xã hội, thông qua hoạt động tích cực của chủ
thể sẽ tiếp thu tư tưởng chính trị, quy phạm đạo đức xã hội rồi chuyển hóa thành đặc
trưng cá tính ổn định của bản thân.
1.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức
Thứ nhất, giáo dục đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành
nhân cách của mỗi một con người cụ thể, bởi thông qua giáo dục đạo đức nó thể
hiện tập trung tính chất và phương hướng của “xây dựng văn minh tinh thần xã hội
chủ nghĩa” [28, tr.12]. Vì về cơ bản xây dựng văn minh tinh thần là để nâng cao tố
chất của con người, mà trong đó tố chất của con người như: sức khoẻ, tâm lý, tố
chất khoa học, văn hoá, tố chất đạo đức tư tưởng thì tố chất đạo đức tư tưởng có tác
dụng chỉ đạo. Tố chất đạo đức tư tưởng bao gồm: thế giới quan, nhân sinh quan, giá
trị quan, khuynh hướng chính trị, lý tưởng, đạo đức, tình cảm... nó như linh hồn của
con người, nó lãnh đạo tất cả mọi hành động, quyết định mục đích và khuynh
hướng hành động của con người. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mở
cửa nhiệm vụ cao cả của giáo dục đạo đức đó là giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ
nghĩa tập thể, ý thức đạo đức cộng đồng, đạo đức nghề nghiệp, mỹ đức gia đình...
giúp con người có được những lý tưởng chung nhất về các giá trị trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản.
Thứ hai, giáo dục đạo đức có vai trò góp phần chuyển các quan niệm đạo
đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình
độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người từ trình độ nhận thức thông thường
lên trình độ nhận thức khoa học. Để đạt trình độ cao, trình độ ý thức lý luận, đòi hỏi
19
20
các trường Đại học và Cao Đẳng trong phạm vi cả nước, có sự phát triển hoàn
chỉnh về mặt sinh lý, và sự thành thục mang tính tương đối về mặt tâm lý.
Sinh viên ngày nay là những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước
đổi mới, phần lớn họ ra đời vào những năm cuối và đầu của thập kỷ 80 - 90 của thế
kỷ XX mà chúng ta quen gọi họ là thế hệ 8X, 9X. Phần đông họ có tuổi đời từ 18 đến
25 tuổi, môi trường làm việc của họ là tại các trường Đại học, Cao đẳng trong cả
nước. Đây là khoảng thời gian mà họ sẽ đứng trước nhiều bài học quan trọng về cuộc
đời, như là tích luỹ tri thức chuyên nghiệp, khai phát tiềm năng trí lực, nuôi dưỡng
phẩm chất cá tính, trau dồi đạo đức tư tưởng...; là đối tượng nhạy cảm nhất trước
những biến đổi vô cùng nhanh chóng của bản thân và môi trường sống quanh mình.
Trƣớc hết là giai đoạn biến đổi sinh lý của sinh viên: Đây là giai đoạn
phát triển đỉnh cao của quá trình sinh trưởng và phát triển của con người nói chung,
giai đoạn này rơi vào khoảng từ 17 đến 20 tuổi. Đây là giai đoạn hình dạng cơ thể,
cơ bắp, xương cốt đều biến đổi nhanh chóng. Xét từ góc độ phát triển sinh lý, thì
đây chính là giai đoạn phát triển mang tính ổn định của quá trình sinh trưởng từ
hình dạng cơ thể đến các hệ thống các cơ quan nội tạng và cơ năng. Vì thế sự phát
triển sinh lý của sinh viên không chỉ đem lại cho họ tiền đề sinh lý tất yếu để họ
sinh hoạt và học tập độc lập, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tâm lý,
khiến họ tăng cường cảm giác đã là người lớn, nên yêu cầu độc lập tự chủ rất mạnh
mẽ, tinh thần hăng hái, muốn biểu thị năng lực của mình. Ý thức giới tính được họ
coi trọng, sự phát triển sinh lý cũng đặt cơ sở cho sự phát triển lành mạnh của quá
trình tồn tại của con người và xã hội loài người và đây cũng chính là điểm nhấn để
mỗi cá nhân hình thành cái tôi, cái bản ngã, cái riêng có của mình để khẳng định
mình trong xã hội và hình thành nên cái nhân sinh quan của mình đối với xã hội và
thời cuộc.
Thứ hai, giai đoạn biến đổi tâm lý của sinh viên, trên cơ sở của sự phát
triển sinh lý thì sự biến đổi về mặt tâm lý của sinh viên cũng diễn ra hết sức nhanh
mình và chống lại các áp lực
Bạn luôn tự tin vào bản thân
Bạn thường đánh vật với những cảm giác thất
vọng và tự ti
Bạn không quá quan tâm tới Bạn quan tâm quá mức tới những gì người khác
việc được nhiều người biết đến nghĩ về bạn
Bạn nhìn đời lạc quan
Bạn tỏ ra ngạo mạn để che giấu sự bất an của mình
Bạn sống có mục đích
Bạn tự huỷ hoại bản thân mình bằng ma tuý,
phim khiêu dâm, sự phá phách hay tham gia
các băng nhóm xấu
Bạn hạnh phúc với thành công Bạn dễ ghen tức, nhất là khi ai đó thân cận với
của người khác
bạn có được thành công
22
+ Sự tự ý thức về bản thân, là sinh viên, nên phần lớn họ phải sống xa gia
đình (vì các trường Đại học và Cao đẳng thường tập trung tại các tỉnh và thành phố
lớn) và bắt đầu cuộc sống tự lập, ban đầu là kí túc xá với cuộc sống tập thể, đây là
nơi mà cái tôi và cái ta cần phải “lượng nhau mà sống”, tức là ngoài những cái của
mình họ còn phải biết dung nạp những cái khác biệt với mình của người khác để
của đất nước, của dân tộc đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình cải cách của đất nước
có hiệu quả hơn; là thành viên của tổ chức WTO nên môi trường kinh doanh của
chúng ta ngày càng được cải thiện.
Những thách thức: So với các nước trong khu vực và trên thế giới về trình
độ phát triển nước ta đang có khoảng cách tụt hậu khá xa vì vậy còn phải chịu nhiều
thiệt thòi trong quá trình cạnh tranh trên thị trường; cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt
hơn, với nhiều đối thủ hơn. Sự cạnh tranh ở đây thể hiện ở chất lượng sản phẩm, ở
chính sách quản lý, chiến lược phát huy nội lực và thu hút đầu tư nước ngoài, những
điều kiện này ở nước ta còn yếu và kém; sự hội nhập sâu rộng dẫn đến sự phụ thuộc
vào nhau giữa các nước tăng lên. Sự biến động của nền kinh tế các nước tác động
mạnh đến nước ta. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải có năng lực dự báo, phân tích tình
hình và có phản ứng chính xác để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tác động từ
bên ngoài.
Đứng trước tình hình đó, với vị trí, vai trò là người chủ hiện tại và tương lai
của nước nhà, sinh viên Việt Nam là lực lượng sung mãn về thể lực, giàu khát vọng,
hoài bão, có nhu cầu, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa học
công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới, năng động sáng tạo, chủ động
học hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại. Vì vậy, cùng với sự phát triển của
đất nước, thái độ và ý thức chính trị của sinh viên đã có những chuyển biến tích cực,
sinh viên ngày càng quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với những vấn đề của quê
hương, đất nước, những vấn đề trong khu vực và trên thế giới. Ý thức lập nghiệp
của sinh viên cũng cao hơn, tinh thần xung phong, tình nguyện, ý thức chia sẻ, tinh
thần tương thân, tương ái đã được khơi dậy với một chất lượng mới, sinh viên đã
chủ động và tự tin hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Những quan niệm về tốt, xấu, công bằng, bình đẳng... cũng đang có sự dịch
chuyển nhất định. Những dịch chuyển này đã giải phóng về mặt tư tưởng, quan
niệm trước những giá trị đạo đức lỗi thời, hướng sinh viên đến sự chuẩn bị cho
những hành động có tính hiệu quả sau này khi gia nhập vào thị trường nhân lực.
Những quy tắc ứng xử của sinh viên vì thế cũng biến đổi, các nguyên tắc thiết thực,