Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Cao
đẳng Tài chính - Kế toán Quảng Ngãi
Đoàn Thị Duyên
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học; Mã số : 602285
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Long
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tìm hiểu về thư viện trường Đại học Hà Nội với quá trình triển khai ứng dụng
phần mềm Hệ quản trị thư viện tích hợp Libol. Khảo sát, phân tích thực trạng và kết quả
triển khai ứng dụng Libol 6.0 tại Thư viện trường Đại học Hà Nội. Đưa ra những nhận
xét, đánh giá và đề xuất những giải pháp khắc phục nhược điểm nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện trường Đại học Hà Nội.
Keywords. Khoa học thư viện; Hệ quản trị thư viện; Quản trị; Phần mềm thư viện
Content.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các
tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt
là toàn cầu hóa về kinh tế. Một mặt, tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân có năng lực
phát huy được tiềm năng của mình, đem lại lợi ích cho cá nhân và cho cả xã hội. Mặt
khác, toàn cầu hóa kinh tế cũng đem đến tác động tiêu cực trong phát triển ổn định, bền
vững nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Đó là việc đặt mục tiêu
kinh tế và lợi nhuận lên trên hết, làm giàu bất chính bằng bất cứ giá nào. Điều đó, góp
phần làm băng hoại nền đạo đức xã hội, làm cho quan hệ giữa người với người trở nên
Ngãi hiện nay” với mong muốn sẽ làm rõ hơn và nổi bật lên vấn đề về giáo dục đạo đức,
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên tài chính - kế toán góp phần vào sự phát triển ổn định,
bền vững của nền kinh tế nước nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ, vai trò, nội dung, thực trạng của công tác giáo dục đạo đức cho
sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần
nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng
Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên thì luận văn có nhiệm vụ làm rõ: Đạo đức và vai trò của
giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi; Thực trạng, nội dung đạo
đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi; Đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng
Ngãi.
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng:
Sinh viên đang học tập tại Trường CĐTCKT Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT Quảng Ngãi
hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
người, nhân loại bao giờ cũng cần đến đạo đức. Từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông
đến phương Tây, không lúc nào vắng bóng hay thiếu sự hiện diện của đạo đức. Khoa học
- kỹ thuật càng phát triển, xã hội càng tiến bộ nhân loại càng cần đến đạo đức. Do vậy,
“Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự
giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan
hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.”
1.1.2. Chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội góp phần quan trọng xây dựng mối quan hệ
giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội. Chức năng của đạo đức là giúp con người
nhận thức, giáo dục và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những yêu cầu xã
hội. Nhờ vậy con người tự giác tuân theo những quy tắc, chuẩn mực trong xã hội. Đạo
đức còn có vai trò to lớn giúp con người sáng tạo hạnh phúc và giữ gìn, bảo vệ cuộc sống
tốt đẹp của xã hội và phẩm giá con người. Những giá trị đạo đức cao cả có sức rung cảm
sâu sắc làm thức tỉnh những tình cảm cao đẹp và lâu bền trong tâm hồn con người. Đạo
đức xã hội chủ nghĩa chẳng những có ý nghĩa nâng cao lòng tin của con người vào cuộc
sống, nâng cao tính tích cực của họ, mà bản thân nó cũng là sự biểu hiện lòng tin của con
người và xã hội. Vì vậy trong quản lý xã hội cần có sự quan tâm đúng mức của chức
năng đạo đức: Chức năng giáo dục; Chức năng điều chỉnh hành vi; Chức năng nhận thức.
1.2. Giáo dục đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên
1.2.1. Giáo dục đạo đức
Theo C.Mác, giáo dục đạo đức, nghĩa rộng đó là sự hình thành đạo đức, không quy
giản chỉ về việc truyền đạt, dạy dỗ những nguyên tắc, những chuẩn mực xã hội, những
cách thức ứng xử giữa người và người theo những yêu cầu nhất định. C.Mác đặc biệt chú
ý đến việc tạo ra “hoàn cảnh có tính người”, “những điều kiện xứng đáng nhất, hợp với
bản chất người nhất”, coi đó là cơ sở, đồng thời là một phương diện hữu cơ của giáo dục
đạo đức, là điều kiện tối hậu quyết định sự phát triển đạo đức con người.
1.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức
Thứ nhất, giáo dục đạo đức có vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành nhân
cách của mỗi một con người cụ thể, bởi thông qua giáo dục đạo đức nó thể hiện tập trung
tính chất và phương hướng của “xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa.”
lại cho họ tiền đề sinh lý tất yếu để họ sinh hoạt và học tập độc lập, mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến phát triển tâm lý, khiến họ tăng cường cảm giác đã là người lớn, nên yêu
cầu độc lập tự chủ rất mạnh mẽ, tinh thần hăng hái, muốn biểu thị năng lực của mình.
Thứ hai là giai đoạn biến đổi tâm lý của sinh viên, trên cơ sở của sự phát triển sinh
lý thì sự biến đổi về mặt tâm lý của sinh viên cũng diễn ra hết sức nhanh chóng, họ có
những nhận thức nhất định về xã hội và cuộc sống, họ đưa ra những nhận định rất “người
lớn” về cuộc sống xung quanh họ và các mối quan hệ khác bên ngoài xã hội thông qua: 5
Sự phát triển về trí năng; Sự phát triển về tình cảm; Sự tự ý thức về bản thân; Ý thức giới
tính phát triển.
1.2.3.2. Vai trò của giáo dục đạo đức cho sinh viên
Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai trò tạo dựng sự ổn định trật tự lâu dài của xã
hội. Bảo đảm tính chất và định hướng của nhà trường xã hội chủ nghĩa. Giáo dục đạo
đức cho sinh viên có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong giáo dục ở nhà trường bởi nó giữ
vai trò định hướng cuộc sống, duy trì được các giá trị đạo đức mà những thế hệ trước đã
tạo ra và lựa chọn các giá trị của thế hệ hôm nay. Giáo dục đạo đức cho sinh viên có vai
trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân.
Chương 2
THỰC TRẠNG, NỘI DUNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
HIỆN NAY
2.1. Vài nét về Quảng Ngãi và Trường Cao đẳng Tài chính - Kế toánQuảng Ngãi
hiện nay
2.1.1. Vài nét về Quảng Ngãi
Quảng Ngãi nằm ở miền Trung Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng và biển
cả chia làm các vùng miền riêng biệt. Vùng miền núi chiếm gần bằng 2/3 diện tích. Vùng
miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa nhiều cát, đất xấu. Quảng Ngãi trải dài từ
Được sự giúp đỡ của Thầy hướng dẫn và sự cho phép của Ban giám hiệu Trường
CĐTCKT vào tháng 10 năm 2011 tác giả luận văn đã tiến hành khảo sát 495 sinh viên
thuộc khoá học 12 và 13 tại trường với 98 câu hỏi tập trung vào 5 vấn đề cơ bản liên quan
trực tiếp đến đề tài của luận văn
2.2.1.1. Vấn đề về động cơ, thái độ học tập của sinh viên.
Động cơ đầu tiên để các em đăng ký tuyển sinh vào trường là “vì uy tín và chất lượng
đầu ra của trường” chiếm 61,14%; Động cơ thứ hai, đây là loại nghề “dễ kiếm ra tiền”
chiếm 36,01%; Động cơ thứ ba, đây là loại nghề “dễ xin được việc làm” chiếm 55,86%;
Động cơ thứ tư, “chọn theo nguyện vọng và nghề truyền thống của gia đình” chiếm
32,35%; Động cơ thứ năm, “chọn theo sở thích của bản thân” chiếm 65,54%
Tuy nhiên, động cơ và thái độ là hai kết quả không tương thích bởi khi vào Trường
sinh viên phải đối mặt với những cái “rất mới” kể cả về không gian, thời gian, con người,
nơi chốn và thậm chí là ngay cả tiếng mẹ đẻ cũng “mới”- do phát âm khác nhau… buộc
mỗi sinh viên phải tìm cách thích nghi; mới và xa lạ đối với các môn học, các khái niệm,
các phạm trù. Môi trường học tập mới là nơi “nhân tài hội tụ” trong khi một bộ phận
sinh viên vẫn còn tận hưởng cảm giác chiến thắng trong “cái ao sau nhà”; Không chịu
thay đổi cái cũ, nắm bắt phương pháp học tập của giáo dục đại học nên rơi vào tình trạng
bị động và thất bại trong một số môn học;… Vì thế, khi xác định vào học tại Trường
CĐTCKT thì yêu cầu thái độ học tập của sinh viên cũng phải có một sự thay đổi mới để
phù hợp và theo kịp với chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường. 7
2.2.1.2. Vấn đề quan niệm về nghề nghiệp
Tương đồng với “Động cơ và thái độ học tập” của sinh viên thì khi khảo sát đến
“Quan niệm về nghề nghiệp”, sinh viên Trường CĐTCKT cũng đã có một số quan niệm
ban đầu của mình về nghề nghiệp như sau:
Quan niệm “dễ kiếm ra tiền và dễ xin được việc làm” chiếm đại đa số 88,91%. Quan
niệm về nghề nghiệp của sinh viên thật đơn giản và cũng chính cái suy nghĩ quá ư là đơn
giản của các em trong việc chọn lựa nghề nghiệp nó cũng đã phản ánh phần nào đời sống
8
Một là, quan niệm của sinh viên về tình yêu, tình dục
Các quan niệm về đạo đức trong tình bạn, tình yêu và tình dục đối với họ - những thứ
thiêng liêng và bí ẩn của ngày xưa - giờ trở nên bình thường, thông dụng, phổ biến, hiển
nhiên. Chỉ hơn 7% sinh viên còn ngại, không dám tìm hiểu về “an toàn tình dục” vì sợ bị
người khác hiểu nhầm, một con số quá là khiêm tốn so với cái nền văn hóa đồ sộ, cổ kính
của Phương Đông vẫn còn đang ngự trị trên cả bề mặt lẫn chiều sâu của xã hội hiện đại.
Hai là quan niệm về cách sống và xu hướng phát triển
Sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba là những người đang bước vào giai đoạn phát
triển một cách toàn diện. Đây là giai đoạn mà sinh viên biểu hiện một cách rõ nét nhất
quan điểm, tư tưởng và chính kiến của bản thân đối với các vấn đề về nhận thức cũng
như là về cuộc sống quanh họ: Tư tưởng về nghề nghiệp dần ổn định; Mục tiêu phấn đấu
ngày càng rõ ràng; Suy nghĩ về cuộc đời sâu sắc hơn; Ý thức về trách nhiệm của bản thân
đối với gia đình và xã hội.
2.2.1.4. Vấn đề quan niệm về thầy cô, bạn bè
Thầy cô và bạn bè là hai mối quan hệ ràng buộc tự nhiên giữa người với người trong
môi trường học đường, giữa những người cung cấp kiến thức và những người nhận kiến
thức, giữa những người tiếp nhận kiến thức ấy với nhau họ dạy và học, hỏi han, trao đổi
và khảo nghiệm với nhau về tất cả những gì vướng vào cuộc sống của họ… tất cả những
điều ấy để lại trong lòng lớp lớp học trò và thầy cô những kỷ niệm, những kỷ niệm không
thể nào quên để mai này trên đường đời, gặp nhau, nhắc lại và cười…!
87,37% sinh viên cho rằng khi đứng trên bục giảng thầy cô là những người thật uyên
bác về kiến thức, bài giảng sinh động, sôi nổi và gần gũi với sinh viên. 12,63% còn lại do
nhiều yếu tố kể cả khách quan và chủ quan từ phía người dạy lẫn người học có thể là do
một số thầy cô quá nghiêm khắc hoặc do một số sinh viên quá lười hoặc không may hôm
đó “quên” học bài, hoặc vì thời tiết, hoặc vì chuyện gia đình…mà bị thầy cô quở phạt nên
không có thiện cảm mấy khi đánh giá về thầy cô của mình.
54,10% giảng viên đứng lớp ngoài việc giảng bài, cung cấp cho sinh viên lượng tri
thức cần và đủ cho môn học mình đảm nhận giảng dạy thì các thầy, các cô cũng đã thể
hiện sự quan tâm đến cuộc sống và sinh hoạt của sinh viên thông qua những lời hỏi thăm,
Thứ nhất, giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức nghề nghiệp là việc áp dụng các nguyên tắc về hành vi ứng xử trong khi
hành nghề. Giống như tư cách đạo đức của một công ty, hành động đạo đức của một nghề
nghiệp là tập hợp tất cả các hành động của các cá nhân trong nghề đó. Là thành viên của
nghề kế toán, các kế toán viên có trách nhiệm không chỉ đối với chủ và khách hàng mà
còn đối với xã hội là phải duy trì các tiêu chuẩn đạo đức cao quý nhất.
Sự tiến bộ của xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải
tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cơ bản. Những người hành nghề đều dựa vào đặc thù và
những nguyên tắc chuẩn mực cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến nghề nghiệp để làm
nền tảng xây dựng đạo đức nhằm đảm bảo cho nghề nghiệp và sản phẩm của ngành nghề
được xã hội trọng dụng, tôn vinh.
Thứ hai, giáo dục lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng cộng sản
lãnh đạo. 10
Giáo dục lòng yêu nước và sự trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng giúp
sinh viên có nhận thức đúng và từ đó có những hành động thiết thực trong lao động, trong
học tập và trong cống hiến. Bởi “thanh niên có những đặc điểm của tuổi trẻ mà các lứa
tuổi khác không có. Đó là lớp người đang lớn lên về thể chất, đang phát triển về trí tuệ,
rất giàu tinh thần xung phong, hăng hái, ham tiến bộ, thiết tha với lý tưởng tốt đẹp của
Đảng và không sợ khó khăn, nguy hiểm, sẵn sàng hi sinh phấn đấu vì lý tưởng đó. Với
những đức tính ấy, Đảng tin tưởng rằng thanh niên sẽ kiên quyết phấn đấu đến cùng dưới
lá cờ của Đảng”.
2.2.2.2. Hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường CĐTCKT
Thứ nhất, giáo dục đạo đức qua các môn học. Thực trạng giáo dục đạo đức cho
sinh viên của Trường CĐTCKT hiện nay theo kết quả khảo sát của tác giả có thể nêu ra
được một số vấn đề có tính chất nổi cộm như sau: Sinh viên không mấy mặn mà nếu
không muốn nói theo khuynh hướng tiêu cực đó là các em “ghét” học các môn: Những
nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH KẾ
TOÁN QUẢNG NGÃI HIỆN NAY
3.1. Nâng cao hiệu quả công tác, phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy học tập các môn học: Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng
cộng sản Việt Nam… đặt ra yêu cầu rất nặng nề cho những người làm công tác giảng dạy
các môn học này, nó đòi hỏi, một mặt phải có kiến thức sâu, rộng ở nhiều lĩnh vực, mặt
khác, phải có khả năng truyền tải hệ thống thông tin đến cho người học một cách thiện
cảm nhất, khoa học nhất, tạo dựng niềm tin cho người học để đào tạo nên một thế hệ tiếp
nối truyền thống bằng “lửa” đã v9à đang cháy trong tim, bằng tình yêu đối với chế độ và
con người đang xây dựng chế độ - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa.
Song hiện thực của cuộc sống, của cơ chế thị trường, của toàn cầu hóa, của sự suy đồi,
băng hoại về đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên… đã đặt lên
vai những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục về chế độ, về lý tưởng về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ngày càng khó khăn hơn, khó thuyết
phục hơn. Đòi hỏi những người làm công tác giảng dạy phải có nghệ thuật truyền đạt,
khả năng sư phạm phù hợp cho từng đối tượng bởi, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác-
Lênin và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa phải tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo cấp học, mà áp
dụng cho thích hợp, nhưng cấp học nào cũng phải coi việc giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin
và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là cơ sở của việc giáo dục tư tưởng và chính trị. Chính vì
thế, yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học này
không chỉ là một yêu cầu bắt buộc mà trên hết nó phải là một nghệ thuật đỉnh cao trong
công tác tuyên truyền. 12
học thì hành không trôi chảy”. Do vậy, công tác hướng dẫn sinh viên thực tập, thực tế là
một trong những môi trường thuận lợi để thực hiện hành vi giáo dục đạo đức cho sinh
viên một cách hiệu quả nhất. Bởi, trong thực tập, sinh viên được các Thầy cô giáo không
chỉ hướng dẫn tận tình về chuyên môn mà còn, hoặc nêu ra các tình huống giả định hoặc
dựa trên một số tình huống cụ thể yêu cầu sinh viên phải giải quyết vấn đề nhằm vừa bảo 13
đảm được lợi ích của chủ thể kinh tế vừa bảo đảm được chuẩn mực đạo đức chuyên môn,
đạo đức nghề nghiệp và trên hết là không vi phạm pháp luật.
3.3. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, trường học thân thiện -
học sinh tích cực.
3.3.1. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh
Thực trạng các loại tệ nạn xã hội hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũng như
trong phạm vi cả nước cho chúng ta thấy nổi lên vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trong đạo
đức lối sống của một bộ phận thanh niên, sinh viên đó là các đối tượng phạm tội đang
ngày một trẻ hóa, động cơ và tính chất vụ án mỗi ngày một nghiêm trọng hơn mà các lý
do chủ yếu xoay quanh về “TIỀN” nhằm thỏa mãn các nhu cầu “bức bách” của hung thủ
như: Cần tiền để chơi game, cần tiền để mua sắm, cần tiền để hút chích, cần tiền để đánh
bạc, cần tiền để uống rượu…cũng có không ít các trường hợp sinh viên , thanh niên phạm
tội là do sự lạm dụng quyền lực của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý… Riêng đối với
Trường CĐTCKT mặc dù chưa có trường hợp phạm tội nghiêm trọng nào nhưng nhiều
hình thức xử lý kỷ luật đã được ban hành với lý do sinh viên nghỉ học dài ngày không lý
do, sinh viên uống rượu, đánh lộn… Do vậy cách giải quyết vấn đề trên để đạt được hiệu
quả giáo dục cao nhất đó là tạo môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh bằng cách:
Thứ nhất, Phát động các phong trào văn hoá xã hội do Đoàn Thanh niên và Hội sinh
viên tổ chức rộng rãi trong Nhà trường.
Thứ hai, nêu gương người tốt, việc tốt.
Thứ ba, thực hiện nghiêm khắc các chế tài nếu sinh viên vi phạm quy chế.
3.3.2. Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực
viên còn bỡ ngỡ bước vào trường ở tất cả các khâu: ăn, ở, đi lại, lớp học, phòng học, lịch
học, lịch làm việc, thời gian lên lớp, giảng viên phụ trách lớp, Văn phòng đoàn, Hội sinh
viên , phòng đào tạo, phòng công tác học sinh - sinh viên…; Tổ chức và quản lý lớp học
vừa theo lớp sinh hoạt vừa theo lớp học phần, trong đó việc tổ chức và quản lý theo các
lớp học phần là khá phức tạp do số lượng các lớp học phần rất nhiều nhưng chỉ tồn tại
trong một học kỳ. Vì vậy cần phải bố trí các cán bộ quản lý lớp học phần có đầy đủ sự
nhiệt tình, năng động, trẻ trung, mẫn cán, tâm huyết vào vai trò vừa là giáo viên chủ
nhiệm vừa là giáo viên cố vấn học tập, vừa là người giám sát chuyên môn để đánh giá
nhiệm vụ học tập của sinh viên; Đoàn Thanh niên - Hội sinh viên cần coi việc tổ chức và
quản lý học tập của sinh viên làm nhiệm vụ chính cho các hoạt động của mình, chứ
không chỉ là hoạt động vui chơi, giải trí; Quan tâm sâu sát đến công tác tuyên truyền bởi
nó có sức mạnh cực kỳ to lớn, thông qua tuyên truyền nó tác động đến sự thay đổi của cái
“khó dời - bản tính” của sinh viên.
KẾT LUẬN
Đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên trong xã hội hiện thực của thời đại ngày
nay là một yêu cầu hết sức cấp bách đối với Việt Nam. Vì đất nước ta là một đất nước đã
và đang được xây dựng, phát triển trên cơ sở của học thuyết Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh và cũng trên cơ sở ấy, Đảng Cộng sản cũng như nhân dân Việt Nam không có
lý do gì để cho những thói hư, tật xấu chiễm lĩnh và ngự trị trên con đường mà lớp lớp
cha ông của chúng ta đã xây nên bằng máu và nước mắt. 15
Do vậy, khi mà một bộ phận trong chúng ta sống bằng mánh khóe và thủ đoạn thì đó
là lúc cán cân đạo lý phải được chìa ra để lặp lại cái trật tự vốn có của cuộc sống. Đối
tượng được quan tâm hàng đầu là thanh niên và sinh viên bởi đây là lực lượng “kế thừa
quá khứ, mở ra tương lai”, nhiệm vụ của chúng ta là phải giáo dục và đào tạo họ kế thừa
những tinh hoa, cao quý, tốt đẹp nhất của quá khứ và theo đó, những điều tốt đẹp, nhân
hậu, đạo đức, tinh túy và giá trị ấy (cả về giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) sẽ xây dựng
16
11. Sean Covey (2009), Bảy thói quen của bạn trẻ thành đạt, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh.
12. Vũ Trọng Dung (2004), “Tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức người cán bộ
quản lý”, Tạp chí Triết học, (5).
13. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1957), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), CD-ROM Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), CD-ROM Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1-25, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2009), CD-ROM Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26-54,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
23. Võ Nguyên Giáp (1994), Những chặng đường lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
24. TS Nguyễn Phú Giang (2009), Kế toán quốc tế, Nxb. Tài chính, Hà Nội.
25. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
46. PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, Nxb.
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
47. Vladimir Soloviev, Karol Vojtyla, Albert Schweitzer (2004), Triết học đạo đức,
Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
48. TS Nguyễn Phúc Sinh (Chủ biên, 2010), Kiểm toán Đại cương, Nxb. Giao thông
Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh.
49. Dương Nguyên Thuận, Đinh Thùy Anh (Biên dịch, 2005), Doanh nghiệp và đạo
đức, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
50.
51.
52.
53.
54. 18
55.
56.
57.