ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
TRẦN THỊ DUNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------***------
TRẦN THỊ DUNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 03 08
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. Ngô Thị Phượng
Hà Nội - 2015
1.1.1. Khái niệm nông thôn ............................................................................... 11
1.1.2. Đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng .......................................... 16
1.2. Phát triển bền vững và phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam ..... 25
1.2.1. Phát triển bền vững: Khái niệm và nội dung......................................... 25
1.2.2. Phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam ........................................... 34
Kết luận Chương 1 ........................................................................................ 41
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG THÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY.................... 43
2.1. Thành tựu trong phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông
Hồng hiện nay .............................................................................................. 43
2.1.1. Thành tựu trong phát triển bền vững về kinh tế nông thôn .......................... 43
2.1.2. Thành tựu trong phát triển bền vững về văn hoá - xã hội nông thôn ....... 54
2.1.3. Thành tựu trong phát triển bền vững về môi trường nông thôn ........... 62
2.2. Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển nông thôn ở đồng
bằng sông Hồng hiện nay .......................................................................... 68
1
2.2.1. Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn ....... 68
2.2.2. Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển văn hoá - xã hội nông
thôn ..................................................................................................................... 72
2.2.3. Những biểu hiện kém bền vững trong khai thác và sử dụng tài nguyên
thiên nhiên .......................................................................................................... 79
2.3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phát triển bền vững nông
thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay ..................................................... 92
2.3.1. Giải pháp về xây dựng hoàn thiện luật pháp, thực hiện chính sách có
hiệu quả đối với nông thôn đồng bằng sông Hồng ......................................... 92
2.3.2. Giải pháp về phát triển kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng ......... 94
2.3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng...................................................................... 97
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người dựa vào
tự nhiên để sinh tồn, đã và đang khai thác giới tự nhiên để đáp ứng nhu cầu
cho cuộc sống của mình. Đó là cả một quá trình khai thác, sử dụng tự nhiên
một cách thô sơ đến khai thác tài nguyên thiên nhiên triệt để. Nhưng sự phát
triển của xã hội và của con người ngày càng lớn, trình độ khoa học kỹ thuật
công nghệ ngày càng cao thì càng tỷ lệ thuận với sự khai thác tài nguyên thiên
nhiên một cách cạn kiệt, từ đó đã dẫn đến những hậu quả mà con người không
thể lường trước được. Loài người phải đối mặt với những vấn đề xã hội, vấn
đề về môi trường mà không một quốc gia nào có thể giải quyết được như: đói
nghèo, bệnh tật, ô nhiễm môi trường và nhất là biến đổi khí hậu. Mặc dù con
người đã có những biện pháp khai thác và tái sử dụng tài nguyên hợp lý hơn
nhưng hậu quả đã và đang để lại là rất lớn. Nhìn lại sự phát triển của mình,
con người nhận thấy rằng sự phát triển kinh tế chỉ dựa vào khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên, và mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế đã làm
cho sự phát triển kinh tế, sự phát triển xã hội và môi trường không như ý
muốn của chúng ta mà luôn chứa đựng những yếu tố tiềm ẩn, và đang trở thành
mối quan tâm hàng đầu như: khủng hoảng và suy thoái kinh tế, mặt xã hội của
đời sống con người không được đảm bảo, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và môi
trường ô nhiễm nặng hay đó chính là sự phát triển không bền vững.
Sự phát triển mạnh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho năng suất
lao động ngày càng cao, nền kinh tế thế giới phát triển nhưng lại luôn tiềm ẩn
những nguy cơ như khủng hoảng kinh tế, suy thoái kinh tế khu vực và toàn
cầu. Sản xuất cung vượt cầu nhưng nạn đói vẫn xảy ra ở nhiều nơi, một bộ
phận người ngày càng giàu lên nhưng bộ phận nghèo khổ vẫn không ngừng
gia tăng. Điều này cho thấy sự phát triển của con người còn chứa đựng nhiều
yếu tố bất hợp lý và không bền vững.
4
lược” [17, tr. 98]. Trong đó, nội dung phát triển bền vững nông nghiệp,
nông thôn là một nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội ở Việt Nam.
Nước ta đang trên đường đổi mới và xây dựng đất nước với mục tiêu
năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp. Với xuất phát điểm là một nền
nông nghiệp lúa nước cho nên hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống ở
nông thôn. Nông thôn có một vai trò cực kỳ quan trọng, gắn liền với lịch sử
dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Lịch sử phát triển kinh tế xã hội
nước ta cho thấy sự phát triển, tiến bộ, phồn vinh của đất nước không thể bỏ
qua, tách rời sự phát triển của khu vực nông thôn. Vì vậy, phát triển nông
thôn giàu mạnh và bền vững luôn được Đảng và Nhà nước ta đặt ở vị trí trọng
tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Ngày nay, dưới tác động như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ, xu thế hội nhập quốc tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi
đôi với nó là quá trình đô thị hoá. Các vùng nông thôn hiện nay đang phải đối
mặt với việc sử dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, xã hội,
tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển, phồn thịnh ở nông thôn làm mất ổn định xã hội. Bởi ở nông thôn
tính bền vững về sinh thái và kinh tế cũng quan trọng như tính bền vững về xã
hội trong quá trình phát triển. Do đó, sự phát triển bền vững nông thôn có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay.
Đồng bằng sông Hồng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có điều kiện
thuận lợi để phát triển. Vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng sau 30 năm đổi
mới đã có một diện mạo phát triển hết sức mới mẻ. Đời sống người dân nông
thôn của vùng được nâng cao và cao hơn các vùng khác trong cả nước. Song
trong sự phát triển nông thôn đồng bằng sông Hồng còn nhiều biểu hiện phát
triển kém bền vững như chuyển đổi cơ cấu kinh tế kéo theo một bộ phận lao
động thiếu việc làm, cuộc sống không ổn định, phát triển kinh tế còn gây ô
7
chung về hệ thống và hệ thống nông nghiệp, các thành phần trong hệ thống phát
triển nông nghiệp bền vững và các phương pháp nghiên cứu phát triển bền vững.
- Cuốn “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”, của tác giả
Vũ Văn Nâm (2009), Nxb Thời đại. Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và thực
tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững. Thực trạng, phương hướng và các
giải pháp để phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở Việt Nam.
- Cuốn “Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng
đồng bằng Bắc Bộ trong qúa trình xây dựng, phát triển các khu dân cư”, của
tác giả Đỗ Đức Tuấn (2010), Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách nghiên cứu
lý luận chung về phát triển bền vững, phát triển bền vững nông thôn, khu
công nghiệp để đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn
vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Cuốn “Phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
trong điều kiện hiện nay”, của tác giả Ngô Thị Tuyết Mai (2011), Nxb Chính
trị quốc gia. Cuốn sách cung cấp nhiều nội dung liên quan đến phát triển bền
vững như: tổng quan về lý thuyết phát triển bền vững, những vấn đề lý luận
và thực tiễn, sự cần thiết phải phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu,
kinh nghiệm của một số nước trong khu vực cũng như đánh giá thực trạng
chung về phát triển hàng nông sản xuất khẩu của nước ta hiện nay và trên cơ
sở đó cuốn sách cũng đưa ra những dự báo và những quan điểm và giải pháp
nhằm phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu.
Ngoài ra còn có các bài báo, bài nghiên cứu trên Tạp chí Cộng sản, Tạp
chí Lý luận, … liên quan đến vấn đề tác giả đang nghiên cứu.
Những công trình trên đã nghiên cứu một cách cơ bản về phát triển bền
vững, phát triển bền vững nông thôn và đưa ra những bài học kinh nghiệm,
giải pháp góp phần phát triển bền vững nông thôn.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học như phương pháp logic lịch sử và phương pháp lịch sử - cụ thể. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng
phương pháp đa ngành, liên ngành như phân tích và tổng hợp tài liệu, xã hội học
và thống kê.
9
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách khái quát nhất về thành tựu và những biểu
hiện phát triển kém bền vững trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, môi
trường ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 02 chương và 5 tiết.
10
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÔNG THÔN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm nông thôn và đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng
1.1.1. Khái niệm nông thôn
Trong tiến trình phát triển của mình, các quốc gia trên thế giới đều
phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn.
Khi nghiên cứu về nông thôn và thành thị các nhà xã hội học đã đưa ra một số
tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như: thành phần xã
hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân
cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng
của mối liên hệ xã hội. Trong lý thuyết của xã hội học nông thôn - đô thị,
cùng tồn tại, cùng hỗ trợ nhau phát triển.
Ở Việt Nam do đặc thù đất chật, người đông; theo Nghị định số
42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về “Việc phân loại đô thị”, quy
định nước ta có 6 loại đô thị như sau:
- “Đô thị loại đặc biệt: Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở
lên; mật độ dân số khu vực nội thành thành từ 15.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ
lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại I: Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô
thị từ 1 triệu người trở lên; đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị
từ 500 nghìn người trở lên; mật độ dân số bình quân khu vực nội thành đô thị
trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên, đô thị trực thuộc tỉnh từ
10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong khu vực nội
thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại II: Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 300 nghìn người trở
lên, trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô
thị đạt trên 800 nghìn người trở lên; mật độ dân số khu vực nội thành đô thị
12
thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung
ương từ 10.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội
thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động.
- Đô thị loại III: Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên;
mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng
số lao động.
- Đô thị loại IV: Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên;
mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên; tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng
số lao động.
Theo tác giả nông thôn hiện nay là địa bàn cư trú, sinh sống của dân cư
gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, nhưng nông dân vẫn chiếm đa số và
chủ yếu làm nghề nông.
Một số đặc điểm nông thôn Việt Nam hiện nay
Nông thôn Việt Nam thể hiện tính đa dạng về tự nhiên và môi trường
sinh thái bởi nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên. Do vậy, hoạt động sản xuất mỗi vùng lại có
những cách thức, đặc trưng riêng tạo nên bản sắc văn hoá cho mỗi vùng miền.
Cư dân sinh sống ở nông thôn có mối quan hệ dòng họ, họ tộc và gia
đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc, gia đình và làng
xã. Các gia đình trong một dòng họ sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi,
khăng khít lâu đời, cùng với những người ngoài dòng họ chung sống, góp sức
phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình
làng nghĩa xóm lâu bền. Cung cách ứng xử xã hội ở nông thôn thường nặng
về tục lệ hơn là pháp lý. Nông thôn có một lối sống đặc thù là lối sống cộng
đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động sản
14
xuất nông nghiệp. Hiện nay, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản
văn hóa của quốc gia như phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội,
sản xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa,
các danh lam thắng cảnh. Cùng với sự phát triển xã hội, nông thôn cũng ngày
càng đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội, đa dạng về trình độ tổ chức, quản
lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển.
Ở nông thôn, cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông do vậy đây
là địa bàn sản xuất chủ yếu của các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và các
ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp. Trong các làng xã
truyền thống hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là
nếp sinh hoạt cộng đồng có tính chất cổ truyền, gồm những đặc trưng như:
cộng đồng về kinh tế; cộng đồng về sinh hoạt văn hoá; cộng đồng về ngôn
ngữ, phong tục, tập quán. Trên cơ sở đó với một cách rất tự nhiên cư dân
nông thôn đã tạo thành tinh thần đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại
xâm, phòng chống thiên tai, lũ lụt. Cũng từ đó hình thành không gian sinh
hoạt văn hoá; kinh tế; phong tục, tập quán. Điều này được thể hiện rất rõ nét
trong các mặt đời sống của cư dân đồng bằng sông Hồng.
1.1.2. Đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng
1.1.2.1. Đặc điểm tự nhiên
Đồng bằng sông Hồng có lịch sử lâu đời trong công cuộc dựng nước và
giữ nước, là cội nguồn văn hoá lúa nước của dân cư người Việt, có vị trí góp
phần đảm bảo an ninh lương thực và nông sản xuất khẩu, đứng thứ 2 trong cả
nước. Nghề trồng lúa nước truyền thống, trồng rau, hoa, quả, cây cảnh, chế
biến nông, thuỷ hải sản thu hút trên 70% dân số của vùng.
Vùng có lịch sử, truyền thống cách mạng, văn hoá lâu đời, nơi cội
nguồn của dân tộc, có vị trí chiến lược về phát triển đất nước và hợp tác quốc
tế của Việt Nam, có đường hàng hải quốc tế. Đồng bằng sông Hồng là vùng
có tiềm năng to lớn để phát triển mạnh và toàn diện kinh tế, văn hoá, xã hội,
giao lưu quốc tế và khu vực. Đồng bằng sông Hồng vừa có đồng bằng châu
16
thổ hình thành vựa lúa lớn thứ hai của nước ta vừa có vùng đất trung du địa
hình cao dọc theo phần lớn tuyến đường 18, 21.
Đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh, thành phố là: Bắc Ninh, Hà
Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái
Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc. Đây là trung tâm kinh tế năng động và là một đầu
tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cả nước. Do đó, khu vực nông thôn ở
đồng bằng sông Hồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.
Vùng có lịch sử phát triển và bề dày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá
bằng sông Hồng chỉ chiếm 4,7% diện tích đang sử dụng của cả nước nhưng
lại có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong các vùng của cả nước là
1.199,2 nghìn ha. Đất đai của vùng thích hợp với việc thâm canh lúa nước,
trồng hoa màu và các công công nghiệp ngắn ngày như: đay, đậu tương, mía.
Khả năng mở rộng diện tích của vùng vẫn còn nhưng không nhiều
(khoảng 137 nghìn ha) do vùng đã được khai phá từ lâu đời, và hiện nay do
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Quá trình mở rộng diện tích của vùng gắn
với việc chinh phục biển thông qua sự bồi tụ và khai phá biển vì hàng năm
vùng biển từ Đồ Sơn, Hải Phòng đến Kim Sơn, Ninh Bình thường xuyên quai
đê lấn biển theo phương thức lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển. Một
phần diện tích ven biển của vùng bị xâm nhập mặn vào mùa khô, nước mặn từ
biển xâm nhập sâu vào đất liền ảnh hưởng lớn đến nước sông và các hoạt
động sản xuất nuôi trồng thuỷ hải sản vùng ven biển.
Sông ngòi:
Đồng bằng sông Hồng nằm trong hệ thống sông Hồng và sông Thái
Bình. Sông Hồng có lưu lượng nước bình quân hàng năm rất lớn tới 2.640m3/s
(tại cửa sông), với tổng lượng nước chảy qua tới 83.5 tỷ m3/s, tuy nhiên lưu
lượng nước phân bố không đều. Về mùa khô lưu lượng nước giảm chỉ còn
khoảng 700m3/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000m3/s.
Sông Thái Bình lưu lượng nước hàng năm đạt 53 tỷ m3/s.
18
Hệ thống sông ngòi của vùng tương đối phát triển. Nhưng về mùa mưa
lưu lượng dòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sông
khi nước lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiện tượng dồn ứ nước trên sông. Về
mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), dòng nước trên sông chỉ còn 2030% lượng nước cả năm gây ra hiện tượng thiếu nước. Bởi vậy, để ổn định
việc phát triển sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp thì phải xây dựng hệ
thống thủy nông đảm bảo chủ động tưới tiêu và phải xây dựng hệ thống đê
điều chống lũ và ngăn mặn.
Dương) và Ninh Bình phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây
dựng. Tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương phục vụ cho
sản xuất các sản phẩm sành sứ.
Tài nguyên rừng, biển và đa dạng sinh học:
Tài nguyên rừng của vùng khá phong phú, bao gồm cả rừng phòng hộ,
rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Một số khu vực tự nhiên rất có giá trị kinh tế
sinh thái, đa dạng sinh học cao như: Vườn quốc gia Ba Vì, khu rừng Chùa
Hương (Hà Nội); Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng); Vườn quốc gia Tam
Đảo (Vĩnh Phúc); vùng núi Chí Linh (Hải Dương), quần thể danh thắng Tràng
An (Ninh Bình); Vườn quốc gia Xuân Thuỷ (Nam Định); Vườn quốc gia Bái
Tử Long (Quảng Ninh).
Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển rộng lớn với bờ biển kéo dài
từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Kim Sơn (Ninh Bình), bờ biển có bãi triều
rộng và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thủy hải sản, nuôi rong câu. Vùng có
nguồn lợi thuỷ sản phong phú có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp chế
biến thuỷ hải sản. Việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên và đa dạng
sinh học trong vùng là điều kiện quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững
toàn vùng.
Ngoài khơi biển thuộc Vịnh Bắc Bộ, con nước theo chế độ nhật triều
mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống. Chính yếu tố thuỷ triều
này tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử
20
cũng như sinh hoạt cộng đồng của dân cư trong khu vực tạo nên văn minh lúa
nước khu vực, vừa có cái chung, vừa có cái riêng độc đáo của mình.
Với những lợi thế như vậy, đồng bằng sông Hồng có tiềm năng lớn về du
lịch, phía Đông vùng giáp Vịnh Bắc Bộ tổng chiều dài bờ biển là 400km, có tài
nguyên du lịch biển đa dạng và đặc sắc như vịnh Hạ Long, Cát Bà; chùa Hương,
quần thể danh thắng Tràng An…tạo ra khả năng phát triển du lịch sinh thái và
Đồng bằng sông Hồng có một kho báu văn hoá dân gian truyền từ đời
nọ sang đời kia. Đó là kho tàng di sản văn hoá phi vật thể đa dạng và phong
phú, là nguồn ca dao, tục ngữ, huyền thoại, là những lễ hội truyền thống lâu
đời đặc sắc, là cái nôi của ca nhạc dân gian, trò diễn. Các thể loại sân khấu
dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét: bao gồm hát chèo,
hát chầu văn, hát ca trù, quan họ, múa rối…
Đối với cư dân nông thôn sinh sống tại đồng bằng sông Hồng, tín
ngưỡng là một nhân tố văn hoá không thể thiếu trong đời sống tinh thần.
Trong đời sống văn hoá của cư dân trong vùng cho ta thấy được tính đa dạng,
phong phú trong đời sống tín ngưỡng của người dân và chứa nhiều nội dung
như: tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng làng; tín ngưỡng thờ ông tổ nghề; tín ngưỡng thờ tứ pháp; tín
ngưỡng thờ mẫu.
Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo ra cơ sở cho
định cư lâu dài, vừa tạo ra thứ lương thực cần thiết hàng ngày của người dân ở
đây. Cư dân ở nông thôn đồng bằng sông Hồng là cư dân sống với nghề trồng
luá nước và làm nông nghiệp một cách thuần tuý. Người dân đắp đê, lấn biển,
trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển. Nhưng người nông thôn trong
vùng không có việc đánh cá được tổ chức một cách quy mô lớn, không có
những đội tàu thuyền lớn, nghề khai thác hải sản không mấy phát triển. Các
làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm nông nghiệp, có đánh cá và làm
muối. Đồng bằng sông Hồng là một châu thổ có nhiều sông ngòi, mương
22