ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THU THỦY
ĐỀ TÀI: ĐỜI SỐNG TINH THẦN GIA ĐÌNH NGƢỜI CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 602285
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Lan Hiền
Hà Nội-2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ THU THỦY ĐỀ TÀI: ĐỜI SỐNG TINH THẦN GIA ĐÌNH NGƢỜI CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
Tôi xin chân thành cảm ơn Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Trung tâm đào tạo bồi dƣỡng giảng viên lý luận chính trị- Đại học Quốc Gia Hà Nội,
Khoa Triết học- Đại học Khoa học xã hội và nhân văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại Trƣờng trung cấp
xây dựng Thanh Hóa đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua. Đặc biệt,
tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đỗ Lan Hiền đã trực tiếp hƣớng dẫn tận tình và
chu đáo trong quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhƣng chắc chắn luận văn này vẫn còn nhiều
thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng toàn thể
các bạn để luận văn này đƣợc hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2013
Tác giả Trần Thị Thu Thủy
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cl : Thƣ gửi tín hữu Côlôxê
Êp : Thƣ gửi tín hữu Êphêsô
Lc : Tin mừng Thánh Luca
Mc : Tin Mừng Thánh Máccô
Mt : Tin mừng thánh Matthêu
Hc : Sách Huấn ca
Am : Sách Amốt
2.1 Thực trạng đời sống tinh thần gia đình ngƣời Công giáo ở đồng bằng sông
Hồng hiện nay…………………………………………………………………… …38
2.1.1 Nhu cầu, hoạt động giao lưu và tiêu dùng tinh thần của gia đình người
Công giáo…………………………………………………………………………… 38
2.1.2 Một số hoạt động trong đời sống tinh thần của gia đình người Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng……………………………………………………………… 43
2.1.2.1 Hoạt động giáo dục trong gia đình Công giáo……………………… …44
2.1.2.2 Sinh hoạt văn hóa- nghệ thuật……………………………………… …51
2.1.2.3 Sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng………………………………………… 56
2.1.3 Những mặt tích cực và hạn chế trong đời sống tinh thần gia đình người
Công giáo ở đồng bằng sông Hồng hiện nay……………………………………… 68
2.2 Giải pháp để phát huy giá trị tinh thần của gia đình ngƣời Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng hiện nay…………………………………………………… 81
2.2.1 Phát triển đời sống tinh thần trên cơ sở phát triển đời sống vật chất và ổn
định chính trị-xã hội………………………………………………………………….81
2.2.2 Tăng cường công tác vận động đối với hàng ngũ giáo sĩ, chức việc Công
giáo……………………………………………………………………………………84
2.2.3 Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị tại vùng đồng bào Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng hiện nay………………………………………………… … 87
2.2.4 Cần thay đổi nhận thức trong việc đánh giá vai trò của Công giáo và Giáo
hội trong việc giáo dục và xây dựng mô hình gia đình Công giáo…………………93
KẾT LUẬN………………………………………………………………………97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
khoa học nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh khác nhau: Triết học, chủ nghĩa cộng sản
khoa học, văn hóa, mỹ học, dân tộc học, xã hội học…Chẳng hạn, nhƣ các bài viết:
“Bản chất, quy luật của đời sống tinh thần” của Đào Duy Thanh, Tạp chí triết học số 3,
tháng 6-1996; “Một số ý kiến xung quanh vấn đề tinh thần” của Ngọc Lân, Tạp chí
Triết học số 1, tháng 3-1990; “Vị trí, ý nghĩa của phạm trù đời sống tinh thần xã hội
trong chủ nghĩa duy vật lịch sử” của Phùng Đông, Tạp chí Triết học số 6, tháng 12-
1997; “Đời sống tinh thần của cá nhân-khái niệm và nguyên tắc nghiên cứu” của Vi
Quang Thọ, Nxb Khoa học xã hội-1998. Có những công trình nghiên cứu đời sống tinh
thần ở từng địa phƣơng nhƣ “Đời sống tinh thần ở Đắk lắk hiện nay-đặc điểm và
phương hướng phát triển” của Trần Khải Định, luận văn thạc sĩ khoa học triết học,
1998…Đặc biệt công trình: “Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh
thần của xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của Trần Khắc
Việt, luận án phó tiến sỹ khoa học triết học, 1993, trong đó đề cập khá đầy đủ các khái
niệm, tính quy luật của sự vận động và những giải pháp nhằm xây dựng đời sống tinh
thần ở nƣớc ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nƣớc, trong các sách báo, hội thảo khoa học,
khái niệm đời sống tinh thần bao hàm nghĩa đời sống văn hóa. Ngay trong nghị quyết
Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V (khóa VIII)
về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc” đã đề cập văn hóa theo nghĩa là toàn bộ lĩnh vực tinh thần của xã hội.
Về vấn đề đời sống tinh thần gia đình Công giáo có một vị trí đặc biệt quan trọng,
nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu (cả những ngƣời Công giáo và
ngƣời ngoài Công giáo). Có rất nhiều tác phẩm nhƣ:
Tác phẩm “Việt Nam giáo sử” của Phan Phát Huồn, quyển I (1533-1933), xuất bản
năm 1958, quyển II (1933-1960), xuất bản năm 1962. “Nghi lễ và lối sống Công giáo
trong văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Hồng Dƣơng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2001 . “Tìm hiểu nét đẹp thiên chúa giáo” của Hà Huy Tú, Nxb Văn hóa thông tin, Hà
Nội. Đồng bào Công giáo với chính sách kế hoạch gia đình, do Trần Cao Sơn (chủ
biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,1998
Đặc biệt là những công trình nghiên cứu về đạo Công giáo ở Việt Nam của các tác
ngƣời Công giáo ở đồng bằng sông Hồng hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng của luận văn: Thực trạng đời sống tinh thần gia đình ngƣời Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đời sống tinh thần gia đình ngƣời Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng hiện nay là một vấn đề rộng và phức tạp, nó biểu hiện ở nhiều
phƣơng diện khác nhau. Nhƣng trong phạm vi một luận văn thạc sỹ tôi chỉ tập trung đi
sâu vào lĩnh vực:
- Nhu cầu, hoạt động giao lƣu và tiêu dùng tinh thần của gia đình ngƣời Công giáo.
- Một số hoạt động trong đời sống tinh thần của ngƣời Công giáo (Giáo dục, sinh
hoạt nghệ thuật, sinh hoạt tôn giáo, tín ngƣỡng)
Luận văn thạc sĩ chỉ giới hạn đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu về đời sống tinh
thần gia đình ngƣời Công giáo ở đồng bằng sông Hồng hiện nay. Địa bàn khảo sát ở
các tỉnh, thành phố: Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận
Cơ sở lý luận:
- Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo.
- Kế thừa những thành tựu trong các công trình khoa học có liên quan.
Cơ sở thực tiễn:
-Luận văn dựa trên cơ sở những số liệu, đánh giá của các báo cáo tổng kết thực tiễn
và tình hình thực tế sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngƣỡng của đồng bào Công giáo ở
đồng bằng sông Hồng.
Phƣơng pháp nghiên cứu:
Ngoài phƣơng pháp chung là CNDVBC và CNDVLS, luận văn còn sử dụng
phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, phỏng vấn, thực địa.
6. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi tìm hiểu về
đời sống tinh thần gia đình ngƣời Công giáo ở đồng bằng sông Hồng hiện nay. Tìm
hiểu về nhu cầu, hoạt động giao lƣu và tiêu dùng tinh thần của gia đình ngƣời Công
có đi đến chân trời góc bể, cuối cùng con ngƣời cũng có thiên hƣớng quay trở về nơi
mình đã sinh ra, đó là gia đình. Khi nghiên cứu về gia đình ở những khía cạnh khác
nhau, mỗi cuộc nghiên cứu lại rút ra những khái niệm khác nhau về gia đình.
C.Mác đã đánh giá: “…hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con ngƣời
bắt đầu tạo ra những ngƣời khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa vợ và chồng, cha
mẹ và con cái, đó là gia đình” [9, tr.36].
Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “cơ sở văn hóa Việt Nam” lại cho rằng:
“những ngƣời cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở
là gia đình” [64, tr.89].
Liên hiệp quốc định nghĩa về gia đình nhƣ sau: “Gia đình là đơn vị cơ bản của xã
hội và là môi trƣờng tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất
là trẻ em”.
Theo “Từ điển tâm lý” của Nguyễn Khắc Viện: “Gia đình bao gồm bố mẹ, con và
có hoặc không có một số ngƣời nữa ở chung một nhà”.
Theo “Từ điển triết học” thì “gia đình là đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), hình
thành tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân, dựa trên hôn nhân và các quan hệ
huyết thống, tức là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em
và những ngƣời thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung” [75, tr.204].
Hình thức gia đình phổ biến trên thế giới hiện nay là gia đình một vợ một chồng.
Để có gia đình hiện đại nhƣ vậy gia đình cũng đã trải qua nhiều hình thức. Đồng thời
với việc thay đổi hình thức gia đình là việc phát triển tích cực của mối quan hệ trong
gia đình, các thành viên gắn bó với nhau hơn. Cha mẹ có trách nhiệm hơn với con cái
và ngƣợc lại con cái cũng quan tâm săn sóc, hiếu lễ hơn với cha mẹ. Nhìn một cách
bao quát và tổng thể thì quan hệ trong gia đình ngày càng đƣợc củng cố và phát triển,
kế thừa những nét đẹp của truyền thống và thêm vào những yếu tố của thời đại cho phù
hợp với cuộc sống mới.
Khái niệm gia đình theo giáo lý Công giáo
Theo quan niệm trong Kinh thánh, gia đình đƣợc tiến triển từ gia đình cặp đôi
Ađam và Êva, đây là gia đình khởi thủy của nhân loại. Sau đó đến gia đình gia tộc
Chúa Kitô đó là Ca-in và Ê-ban cùng dòng dõi gia phả, gia tộc A đam, từ ông Sết, E-
Thứ nhất, đề cao tính cố kết cộng đồng.
Tính cộng đồng của gia đình ngƣời Việt là sản phẩm của lịch sử và có quan hệ mật
thiết với tính cộng đồng của xã hội Việt Nam. Từ xƣa xã hội Việt Nam đã mang đậm
tính cộng đồng do phát triển từ những cộng đồng canh tác nhỏ và định cƣ tại một địa
bàn nhất định, tức là làng. Ngƣời trong làng phải thƣờng xuyên đoàn kết với nhau làm
các công việc đắp đê, giữ đê, chống lụt, chống hạn vì “ lụt thì lút cả làng”. Bên cạnh
đó, công việc trồng lúa nƣớc cũng đòi hỏi tính cộng đồng cao. Bởi trồng lúa nƣớc thì
phải tháo nƣớc, tát nƣớc. Trƣớc khi nƣớc vào ruộng nhà này phải qua ruộng nhà khác,
cho nên những ngƣời cùng làng có mối quan hệ gắn bó với nhau.
Tính cộng đồng đã đƣợc tô đậm thêm do ảnh hƣởng của Nho giáo. Nho giáo tác
động đến gia đình không chỉ bằng những nội dung nhƣ đạo hiếu mà xuyên suốt một
tinh thần chủ đạo là tính cộng đồng. Theo Nho giáo, con ngƣời không thể sống tách rời
nhau mà có muôn ngàn mối quan hệ gắn bó với nhau trong những cộng đồng nhất định.
Các cộng đồng từ nhỏ đến lớn là gia đình-nƣớc (quốc gia) và thiên hạ. Gia đình là chỗ
đứng phải giữ vững mọi quan hệ giữa ngƣời và ngƣời. Trong quan hệ giữa cá nhân-đất
nƣớc và thiên hạ không bao giờ thoát ly khỏi gia đình. Đó là đặc điểm rất cơ bản. Theo
Nho giáo, đau khổ nhất là những ngƣời không thuộc một cộng đồng gia đình nào,
không có nhà để gắn mình vào. Đó là bốn loại ngƣời:
Quan: Đàn ông lớn tuổi không có vợ hoặc góa vợ.
Quả: Đàn bà lớn tuổi không có chồng hoặc góa chồng.
Cô: Trẻ con mồ côi cha mẹ.
Độc : Ngƣời già không con.
Tính cộng đồng còn thể hiện ở địa vị thống trị của gia đình đối với các thành viên.
Cá nhân không thể tồn tại nhƣ một thực thể độc lập, không có quyền tự do cá nhân mà
mọi mặt của đời sống đều gắn chặt với gia đình, phải hoàn toàn phục vụ gia đình. Tính
cộng đồng trong gia đình chống lại, kìm hãm những mong muốn riêng tƣ, coi mục tiêu
sống của cá nhân là duy trì sự tồn tại, êm ấm, hài hòa của gia đình. Chủ trƣơng hòa tan
tất cả những gì của riêng cá nhân vào gia đình. Cá nhân giao tiếp với xã hội thông qua
gia đình, xã hội kiểm soát hành vi của cá nhân cũng thông qua gia đình. Khi tiếp xúc
với một đứa trẻ ngƣời ta không quan tâm đứa trẻ đó là ai mà hỏi xem nó là con nhà ai.
Tính cội nguồn trong gia đình Công giáo biểu hiện ở đạo hiếu và nhớ ơn tổ tiên. Ở
đặc điểm này có sự tƣơng đồng và khác biệt rất rõ nét giữa gia đình Công giáo và gia
đình truyền thống của ngƣời Việt.
Trong gia đình truyền thống quan niệm đạo hiếu là điều hết sức thiêng liêng. Đạo
hiếu bao trùm mọi đức tính, là gốc rễ của điều nhân, làm nền tảng cho mọi mối quan hệ
cả trong gia đình lẫn quốc gia. Chính vì thế, xã hội nhập cuộc để trừng trị tội bất hiếu.
Bất hiếu là phạm một trong mƣời tội ác lớn (thập ác) và bị xử nặng nhất, thậm chí phải
xử tử. Luật Hồng Đức thiết định rằng con cháu đánh ông bà thì phải lƣu đày, thậm chí
xử giảo (điều 475).
Theo Khổng giáo con cháu phải ghi lòng tạc dạ công ơn của cha mẹ, hết lòng, hết
sức báo hiếu, đền đáp cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống phải nuôi dƣỡng, tôn kính và vâng
lời cha mẹ, con cái không đƣợc nhận xét, đánh gia hành vi của cha mẹ mà phải mặc
nhiên thừa nhận cha mẹ đúng. Ngƣời con có hiếu còn phải sinh đƣợc con trai để nối
dõi cho gia đình, dòng họ. Chỉ có những ngƣời con hiếu thảo thì sau này mới xây dựng
gia đình riêng tốt đẹp, mới biết cƣ xử có nhân với đời. Xuất phát từ tầm quan trọng của
đạo hiếu mà các gia đình luôn chú trọng giáo dục đạo hiếu cho con cái.
Đạo hiếu không chỉ thể hiện với ông bà, cha mẹ khi còn sống mà cả khi ông bà,
cha mẹ mất đi. Đạo hiếu đƣợc thể hiện ở chỗ con cháu phải thờ phụng tổ tiên. Chính vì
thế, mục đích lớn nhất của hôn nhân là sinh con để nối dõi tông đƣờng, gìn giữ trên bàn
thờ tổ tiên. Do đó, việc có con trai rất đƣợc coi trọng vì Khổng giáo coi việc có con trai
nhƣ một chuẩn mực đạo đức “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” không có con trai là
điều bất hiếu. Nối dõi tông đƣờng quan trọng nhƣ vậy vì do tín ngƣỡng của ngƣời Á-
Đông khác hẳn với ngƣời phƣơng Tây. Theo quan niệm của ngƣời Á-Đông, chết chƣa
phải là hết mà cha mẹ, ông bà tổ tiên chết nhƣng quan hệ với con cháu theo hình thức
khác. Sự lệ thuộc cha mẹ với con cái vẫn tiếp tục sau khi cha mẹ qua đời. Cái chết
không giải phóng đƣợc ngƣời con trai khỏi trách nhiệm với cha mẹ mà chỉ thay đổi
hình thức trách nhiệm của ông ta. Khi cha mẹ còn sống, họ đƣợc phụng dƣỡng và kính
trọng, khi chết họ đƣợc cung phụng và thờ cúng. Trong quan niệm của ngƣời Việt, mỗi
khi gia đình có điều vui, điều buồn đều thống báo với tổ tiên.
Theo nhà sử học Đào Duy Anh: “Sự thờ phụng tổ tiên vốn xƣa ngƣời Việt vẫn có
với ông bà cha mẹ khi họ qua đời. Trƣớc Công đồng Vatican II, ngƣời Công giáo
không đƣợc phép thờ cúng tổ tiên, điều đó không có nghĩa là ngƣời Công giáo nói
chung và ngƣời Công giáo ở đồng bằng sông Hồng nói riêng không nhớ tới tổ tiên của
mình mà họ thực hiện những nghi thức khác để tƣởng nhớ tổ tiên nhƣ: cầu nguyện cho
ông bà cha mẹ, xin Thánh lễ ở nhà thờ vào ngày giỗ. Do đó, việc có con trai trong gia
đình Công giáo ở đồng bằng sông Hồng không quá nặng nề so với gia đình truyền
thống. Hơn nữa, con trai hay con gái đều bình đẳng trƣớc Thiên Chúa. Nhƣ vậy các gia
đình Công giáo ở đồng bằng sông Hồng vẫn giữ đƣợc chữ hiếu theo truyền thống mà
vẫn hài hòa trong việc giữ giới răn. Một điểm khác biệt rất căn bản trong gia đình
truyền thống và gia đình Công giáo là: Nếu ở gia đình truyền thống, có con trai có tầm
quan trọng đặc biệt đối với việc nối dõi tông đƣờng do đó ngƣời vợ phải sinh nở cho
đến khi có con trai, nếu không ngƣời chồng sẽ lấy vợ lẽ. Do đó, cơ cấu gia đình truyền
thống, ngƣời đàn ông có thể đa thê nhƣng trong gia đình Công giáo do bí tích Hôn phối
của ngƣời Công giáo có tính chất đơn nhất (một vợ, một chồng) và bất khả phân ly nên
khi ngƣời phụ nữ không sinh đƣợc con trai thì ngƣời đàn ông họ cũng không lấy thêm
vợ lẽ. Cơ cấu trong gia đình Công giáo chỉ một vợ, một chồng. Bởi con trai hay con gái
đều bình đẳng trƣớc Thiên Chúa. Đây là điểm tiến bộ hơn so với gia đình truyền thống
và phù hợp với luật hôn nhân và gia đình của nƣớc ta hiện nay.
Gia đình Công giáo nói chung và gia đình Công giáo ở đồng bằng sông Hồng nói
riêng ảnh hƣởng sâu đậm bởi thế giới quan Kitô giáo, điều này tạo ra sự khác biệt giữa
gia đình Công giáo và gia đình không Công giáo. Ở một khía cạnh nhất định, do thế
giới quan Kitô giáo quy định nên gia đình Công giáo có một số điểm khắc phục đƣợc
những hạn chế của gia đình truyền thống.
1.1.3 Vai trò của gia đình Công giáo trong đời sống Giáo hội
Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với con ngƣời, với xã hội cũng nhƣ đối với
Giáo hội. Giáo hoàng Gioan Phao lô II khẳng định “tƣơng lai của thế giới và Giáo hội
đi qua các gia đình” [31, tr.3]. Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận định nhƣ vậy vì :
Đối với con ngƣời, gia đình là cái nôi trong đó họ sịnh ra và lớn lên. Gia đình là
mái ấm, là trƣờng học đầu tiên.
Đối với xã hội, gia đình cũng chính là tế bào đầu tiên, là nền tảng của xã hội, gia
tin. Từ gia đình Kitô hữu góp phần tạo ra cộng đồng xã hội. Các thành viên trong gia
đình tham gia vào các công việc của xã hội nhƣ làm từ thiện. Nhƣ vậy, chính gia đình
Kitô hữu đã là một cộng đồng phục vụ con ngƣời và xã hội.
Thứ hai, gia đình Kitô hữu là trung tâm loan báo Tin Mừng
Tin Mừng ở đây chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ. Giáo hội Công giáo đã
đón nhận Tin Mừng là Chúa Giêsu Kitô, con một Thiên Chúa mà Chúa Cha gửi đến để
mặc khải Thiên Chúa Tình Yêu và chỉ đƣờng vạch lối cho con ngƣời đƣợc ơn cứu độ.
Khi đón nhận Tin Mừng, Giáo hội không giữ riêng cho mình mà có trách nhiệm loan
báo cho mọi ngƣời.
Gia đình Kitô hữu là trung tâm loan báo Tin Mừng: Gia đình là trung tâm truyền
giáo đầu tiên cho con ngƣời và là trung tâm loan báo Tin Mừng cho nhân loại. Điều
này thể hiện ở chỗ: Bản thân gia đình Kitô hữu là nơi thể hiện sinh động Tin Mừng.
Các bậc cha mẹ luôn chăm lo đời sống cầu nguyện, các giờ thờ phƣợng, tham dự Bí
tích, tĩnh tâm học hỏi và suy niệm lời Chúa. Các thành viên trong gia đình luôn cố gắng
chu toàn bổn phận của mình. Cha mẹ luôn lo việc loan báo Tin Mừng cho các con cái
thông qua việc giáo dục đức tin. Chính vì thế đời sống gia đình Kitô hữu có sức lan tỏa
đến gia đình khác. Các thành viên trong gia đình loan báo Tin Mừng đến những ngƣời
cùng môi trƣờng sinh sống, học tập, làm việc của mình.
Thứ ba, gia đình là trường học đời sống Ki tô hữu, là chiếc nôi văn hóa đức tin
Trong Tông huấn đời sống gia đình, Giáo hoàng Gioan Phao lô II viết “Sứ mạng
của gia đình đòi hỏi cha mẹ Ki tô hữu giới thiệu cho con cái tất cả những gì cần thiết
cho nhân cách để con cái từng bƣớc trƣởng thành theo quan điểm Kitô giáo và Hội
Thánh” [30, tr.23]. Chính gia đình đóng vai trò dẫn con ngƣời vào đời sống Kitô hữu.
Trong gia đình, tất cả mọi thành viên là ngƣời đón nhận và loan báo Tin mừng. Một
trong những lĩnh vực không ai có thể thay thế đƣợc gia đình đó là việc giáo dục đức
tin. Công việc này giúp gia đình phát triển nhƣ là “Hội thánh tại gia”. Gia đình chính là
trƣờng học đức tin đầu tiên, trong đó cha mẹ là thầy cô giáo đầu tiên và cũng là mẫu
ngƣời đời thƣờng của con cái. Cha mẹ giáo dục và nêu gƣơng cho con không chỉ về
mặt đạo đức mà còn nêu gƣơng cả đức tin. Ngay từ khi con bập bẹ biết nói, bên cạnh
việc dạy trẻ bi bô tiếng “ông bà, ba mẹ” thì cha mẹ cũng dạy con bi bô nói “Chúa