VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH THUỶ
MỐI LIÊN HỆ GIỮA THỨ TỰ SINH VÀ MẤT
CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH THUỶ
MỐI LIÊN HỆ GIỮA THỨ TỰ SINH VÀ MẤT
CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 8.31.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ MẠNH LỢI
HÀ NỘI, năm 2019
Chương 1: Cơ sở lý luận về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam ....... 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài .................................. 9
1.2. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 12
1.3. Quan điểm của Đảng – Nhà nước về giảm thiểu mất cân bằng giới
tính khi sinh ....................................................................................................... 15
Chương 2: Tổng quan phương pháp luận nghiên cứu và một số hạn chế
của nghiên cứu ..................................................................................................... 17
2.1. Tình hình nghiên cứu của đề tài (ngoài nước và trong nước) ................... 17
2.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 32
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 33
2.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ........................................ 33
2.5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .................................................. 40
2.6. Cơ cấu luận văn ......................................................................................... 40
2.7. Cơ sở dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình (Dữ liệu VHLSS) ................ 42
2.8. Một số hạn chế của nghiên cứu ................................................................. 43
Chương 3: Mối liên hệ giữa thứ tự sinh và mất cân bằng giới tính khi
sinh 45
3.1. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinhở Việt Nam ........................... 45
3.2. Yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng đến mất cân bằng giới tính khi sinh ... 47
3.3. Thứ tự sinh và tỷ số giới tính khi sinh ...................................................... 49
3.4. Phân tích tổng hợp về thứ tự sinh, mất cân bằng giới tính khi sinh và
các yếu tố ảnh hưởng ........................................................................................ 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 72
3.1 Kết luận..................................................................................................... 72
3.2 Khuyến nghị .............................................................................................. 76
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 80
PHỤ LỤC: CÁC PHẦN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN TỪ BẢNG
HỎI ĐIỀU TRA MỨC SỐNG HỘ DÂN CƯ 2016Error! Bookmark not defined.
2
Bảng 1. Tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam và các vùng miền từ 2010 ....... 6
Bảng 2: Quy mô mẫu phỏng vấn sâu .............................................................. 37
Bảng 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến MCBGTKS ở con thứ hai....................... 69
Bảng 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến MCBGTKS ở con thứ ba ........................ 70
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐB
Đồng bằng
MCBGTKS
Mất cân bằng giới tính khi sinh
LCGT
Lựa chọn giới tính
GSO
Tổng cục thống kê
TSGTKS
Tỷ số giới tính khi sinh
số này đã tăng lên 111,6 vào năm 2007, và liên tục giữ ở mức cao cho đến nay.
TSGTKS có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng miền cũng như giữa các tỉnh,
thành trong cả nước. Đặc biệt, đồng bằng sông Hồng,là nơi có tình trạng
MCBGTKS luôn ở mức cao nhất trong nước với mức 120,7 bé trai trên 100 bé gái
vào năm 20151. Đề án Kiểm soát MCBGTKS giai đoạn 2016-2020 do Bộ Y tế ban
hành cũng đã chỉ rõ các tỉnh có tình trạng MCBGTKS cao trong thời gian qua ở khu
vực Đồng bằng sông Hồng như Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh.
1Các
nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra sự khác biệt vùng miền về tỉ lệ giới tính khi sinh (Guilmoto, 2012).Mặt khác, trình
độ học vấn và điều kiện kinh tế-xã hội của người mẹ cũng có mối tương quan với TSGTKS. Báo cáo phân tích số liệu
điều tra về dân số và nhà ở 2014 của UNFPA cho thấy nhóm bà mẹ có trình độ học vấn và điều kiện kinh tế càng cao lại
càng có TSGTKS cao. Theo đó, TSGTKS tăng dần từ 107,4 ở nhóm phụ nữ không biết chữ và 107,1 ở nhóm có trình độ
tiểu học trở xuống, lên đến 111,4 ở nhóm có trình độ trung học, và cuối cùng là 113,9 ở nhóm các bà mẹ có trình độ cao
đẳng trở lên
5
Bảng 1. Tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam và các vùng miền từ 2010
đến 2016
Cả nước
ĐB sông Hồng
Trung du và miền núi
phía Bắc
Bắc Trung Bộ và Duyên
hải miền Trung
Tây Nguyên
105.5
112.2
115.2
108.2
105.9
104.3
108.8
98.4
111.9
114.1
114.2
108.0
108.9
104.2
114.2
117.3
103.1
108.3
114.9
6
TSGTKS của Việt Nam cao ngay từ lần sinh thứ nhất. Ở phần lớn các quốc gia
có TSGTKS cao, trong lần sinh thứ nhất TSGTKS nằm trong giới hạn bình thường
nhưng sẽ tăng nhanh vào những lần sinh sau: Ấn Độ có TSGTKS ở lần sinh thứ 2 là
120, ở lần sinh thứ 3 lên tới trên 130; Trung Quốc hiện đang áp dụng chính sách 1
con rưỡi nên TSGTKS ngay ở lần sinh thứ 2 đã lên tới trên 150. Ở Việt Nam,
TSGTKS đã cao ngay trong lần sinh đầu tiên: 110,2; lần sinh thứ hai: 109; lần sinh
thứ ba trở lên (chiếm 16% tổng số trẻ được sinh ra) là 115,5. Như vậy, ở Việt Nam
một số cặp vợ chồng đã thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh ngay trong lần
mang thai thứ nhất, điều này hiếm được ghi nhận ở các quốc gia khác.
TSGTKS rất cao ở lần sinh cuối cùng. Trước đây, muốn có con trai chỉ có cách
đẻ nhiều cho tới khi có con trai mới thôi do vậy TSGTKS ở lần sinh cuối cùng rất
cao. Trong nhân khẩu học người ta gọi đây là “quy luật dừng”, nói một cách khác
yếu tố giới tính đã quyết định việc dừng sinh đẻ hơn là số con đã có. Khi mức sinh
cao, với tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ)
khoảng 6 con, chỉ có khoảng 1,5% phụ nữ không có con trai. Chính vì thế, ở Việt
Nam giai đoạn 1988-1997, mặc dù TSGTKS ở lần sinh cuối cùng lên tới 134,2
nhưng TSGTKS nói chung cũng chỉ lên tới 107.
Từ đầu những năm 2000, do mức sinh giảm nhanh cùng với việc tiếp cận dễ dàng
các kỹ thuật chẩn đoán giới tính trước sinh, “quy luật dừng” ở Việt Nam cũng đã có
những sự thay đổi: Một mặt, một số cặp vợ chồng đã chủ động tìm kiếm các kỹ
thuật chẩn đoán giới tính trước sinh ngay từ lần sinh thứ nhất như đã nói ở trên; nếu
chưa được như mong muốn, họ sẽ tìm kiếm dịch vụ trong những lần có thai sau:
TSGTKS trong lần sinh thứ ba trở lên ở nhóm các bà mẹ chưa có con trai lên tới
130. Khu vực Đồng bằng sông Hồng (nơi có TSGTKS cao nhất cả nước), TSGTKS
đã tăng vọt từ mức 110 trong lần sinh thứ nhất và lần sinh thứ hai lên tới 152 trong
lần sinh thứ 3 trở lên.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận về mất cân bằng giới tính khi sinh ở
Việt Nam
1.1.
Một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài
1.1.1
Dân số và giới tính
Dân số là một tập hợp người (hay cộng đồng người) sinh sống trong một
quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một
thời điểm cụ thể (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010)
Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô và cơ cấu. Như
vậy khi nói đến dân số cũng tức là nói đến quy mô, chất lượng, sự phân bố và cơ
cấu, trong đó có cơ cấu dân số theo giới tính khi sinh và những thành tố tạo nên sụ
biến động của nó như sinh, chết, di dân (chuyển đến, chuyển đi)... Như vậy, có thể
nói dân số theo nghĩa rộng bao gồm lĩnh vực: Quy mô, cơ cấu (trong đó có cơ cấu
theo giới tính khi sinh), phân bổ, chất lượng dân số (Tổng cục DSKHHGĐ, 2010).
Giới tính: là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này
chủ yếu liên quan đến sinh đẻ và di truyền nòi giống, con người khi sinh ra đã có
những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ). Các đặc điểm nay không thể thay đổi
được trừ khi phẫu thuật chuyển ododir giới tính so với giới tính gốc của mình.(Tuy
nhiên việc này chưa hoàn toàn được chấp nhận ở Việt Nam về mặt luật pháp) (Tổng
cục DSKHHGĐ, 2010).
Giới tính khác với khái niệm giới, đó là những đặc điểm tính cách, cách ứng
xử, vai trò và trách nhiệm của nam và nữ mà xã hội quy định. Các đặc điểm này
24/10/2014).
Với cạnh tiếp cận như vậy, cơ cấu dân số là sự phân chia tổng thể dân số
thành các nhóm, các bộ phận theo một chiều hoặc nhiều tiêu thức (đặc trưng nào đó
của dân số). Hai đặc trưng cơ bản trong dân số là đặc trưng theo tuổi và giới tính.
Đó chính là những đặc trưng sinh học thông thường đối với mỗi con người; có ý
nghĩa quan trọng trong dân số, thể hiện các đặc tính tự nhiên của dân số đó. Cơ cấu
tuổi và giới tính chiếm vị trí đặc biệt quan trong phân loại cơ cấu dân số.
Bên cạnh đó, giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng
trong các mối liên hệ xã hội và kinh tế.
10
Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân số nữ
thì ta có cơ cấu dân số theo giới tính. Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia
này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh
thái của cộng đồng trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế mật thiết. Tìm hiểu về
cơ cấu dân số theo giới tính chính là tìm hiểu sự phân bổ giữa số lượng nam giới và
phụ nữ trong một tập hợp người. Nếu phân bố này cân bằng (số nam và số nữ hay tỷ
lệ nam nữ là cân bằng nhau), những vấn đề về cơ cấu hôn nhân gia đình như nam
giới không lấy được vợ do thiếu hụt phụ nữ hay phụ nữ không lấy được chồng do
thiếu nam giới hoặc những vấn đề xã hội như mua bán phụ nữ và trẻ em sẽ được
giảm thiểu.
Cơ cấu giới tính khi sinh: chúng ta có thể xem xét cơ cấu dân số chung của
một địa phương (xã/phường/thị trấn; huyện/quận; tỉnh/thành phố; quốc gia) hoặc cơ
cấu giới tính cho dân số ở từng độ tuổi khác nhau. Đối với nhóm trẻ mới sinh ra (01 tuổi) hàng năm trong dân số của một địa phương, phân chia tổng số trẻ này thành
hai bộ phận: các bé trai sinh ra sống và các bé gái sinh ra sống thì có được co cấu
giới tính trẻ em hay nói gọn là cơ cấu giới tính khi sinh [33, tr.27].
1.1.3
theo mong muốn đã xác định trước để sinh ra một đứa trẻ mang giới tính nam hoặc
nữ theo mong đợi của gia đình. Hiện nay ở Việt Nam, lựa chọn giới tính tập trung
chủ yếu là tìm cách để có thể mang thai bé trai và loại bỏ thai nhi gái ở qui mô rộng
đã gây MCBGTKS giữa nam và nữ (UNFPA).
1.2.
Cơ sở lý luận
Trong đề tài này tác giả sử dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là
thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và
nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Thuyết này gắn với các đại diện tiêu biểu bao gồm:
James Coleman,
Alfred Marschal, Gorger Homans, Jonh Elster, Max Weber,
George Simmel, George Homans, Peter Blau. Một số nhà triết học đã cho rằng bản
chất của con người là vị kỉ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lãng tránh nỗi
khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản
của động co kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành
động.
Luận điểm gốc:
Thuyết sự lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành
động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một
cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Tức là trước khi
12
quyết định một hành động nào đó con người luôn đặt lên bàn cân để đo đong đếm
giữa chi phí và lợi nhuận mang lại. Nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận
thực hiện dựa trên sự tính toán, trên tính duy lý công cụ.
Sâu hơn nữa lý thuyết lựa chọn duy lý dẫn đến một sự tranh luận mang tính
triết lý mà xã hội không có khả năng giải quyết. Con người ta là một cá nhân ích kỷ
chỉ biết tính toán để tìm lợi ích hay con người là một con người xã hội, một con
người văn hoá.
Cách tiếp cận chu trình cuộc sống (life course perspective, Elder 1987) có
cách nhìn rộng hơn về cuộc sống con người. Theo quan điểm này, hành vi cá nhân
bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như sinh học, xã hội, kinh tế, văn hoá và
nhân khẩu. Cuộc sống của một cá nhân có liên hệ chặt chẽ với những người xung
quanh mà cá nhân đó tiếp xúc. Như vậy, những biến động trong cuộc sống của cha
mẹ, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp đều có thể tác động đến cuộc sống cá nhân và làm
thay đổi quyết định giới tính con mong muốn. (Elder, năm 1987) [6, tr26-28].
Tiếp cận giá trị con cái
“Giá trị con cái” là xu hướng mang tính phổ biến và đa văn hoá. Theo đó,
việc sinh sản chịu tác động của yếu tố tâm lý vì coi giá trị của đứa trẻ là biến số
trung gian hoà giải trung tâm ở cấp độ cá nhân (Hofmann, 1973). Một số tác giả
khác như Kohlman (2000) coi giá trị con cái theo giá trị dài hạn và giá trị ngắn hạn,
theo hai góc độ cá nhân và xã hội. Về mặt cá nhân lợi ích ngắn hạn của con cái là
lợi ích lao động. Lợi ích dài hạn của con cái là bảo hiểm, an sinh cho cha mẹ già. Về
mặt xã hội, lợi ích ngắn hạn của con cái là lợi ích đạt được, khi cha mẹ bước vào
một vai trò mới. Lợi ích dài hạn là cảm xúc vì trẻ em làm tối đa hoá các giá trị xã
hội của cha mẹ chúng qua các hoạt động giao tiếp xã hội, tăng cường tính bền chặt
của quan hệ vợ chồng, gia đình, dòng họ.
Ở một số quốc gia châu Á chịu ảnh hưởng của Nho giáo và văn minh nông
nghiệp, như Việt Nam, con cái ngoài giá trị về kinh tế, lao động, bảo hiểm thì quan
điệm trọng nam khinh nữ, chế độ gia trưởng khẳng định vai trò lớn của nam giới
14
MCBGTKS ở Việt Nam. Sơ đồ dưới đây tóm lược các chính sách và quy định pháp
luật quan trọng của nhà nước nhằm kiểm soát tình trạng MCBGTKS ở Việt Nam.
15
16
Chương 2: Tổng quan phương pháp luận nghiên cứu và một số
hạn chế của nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu của đề tài (ngoài nước và trong nước)
Liên quan đến vấn đề về Thứ tự sinh và MCBGTKS, chủ đề về MCBGTKS
đã được rất nhiều các nghiên cứu trước cả trong nước và ngoài nước tiến hành thực
hiện. Đặc biệt là nguyên nhân của MCBGTKS, có rất nhiều nghiên cứu phân tích
yếu tố văn hoá của người Việt Nam là việc duy trì dòng dõi gia đình, thờ cúng tổ
tiên và chăm sóc cha mẹ già được coi là một truyền thống văn hoá tốt đẹp của người
Việt nhằm duy trì sự gắn kết xã hội. Tuy nhiên chính yếu tố truyền thống này đề cao
vai trò của con trai, chính là tư tưởng con trai nối dõi tông đường và có trác nhiệm
thờ cúng tổ tiên. Do đó việc có ít nhất một con trai là cần thiết trong mỗi gia đình
Việt Nam. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS ở nước
ta.3
Nhiều nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề này cũng đề cập đến các hệ luỵ,
ảnh hưởng sâu xa của của việc MCBGTKS đến cấu trúc dân số Việt Nam ở những
năm sau này. Các hệ luỵ đó bao gồm việc dư thừa một bộ phận nam giới trong
khoảng thời gian 30 năm sau. Có một bộ phận nam giới sẽ khó kết hôn hoặc kết hôn
muộn. Một số tệ nạn xã hội diễn ra liên quan đến buôn bán phụ nữ và mại dâm.
Các chính sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề vấn đề liên quan đến bình
đẳng giới và MCBGTKS tương đối đầy đủ. DoĐảng và Nhà nước đã sớm nhận thấy
tầm quan trọng của cơ cấu dân số và hệ lụy của MCBGTKS. Mặc dù chính sách là
đầy đủ tuy nhiên về cơ chế thực hiện các chính sách thì còn hạn chế do vậy vẫn cần
để khắc phục sự MCBGTKS, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một loạt các biện
pháp chính sách dưới biểu ngữ “Hãy chăm sóc cho các cô gái”. Nghiên cứu cũng
cho thấy MCBGTKS là do sự thiếu hụt về văn hoá và kinh tế của các khu vực nông
thôn chứ không phải là do nhận thức được giá trị của trẻ em gái. Nên chăng cần
đảm bảo rằng tất cả các gia đình nông thôn đều được hưởng các phúc lợi xã hội cơ
bản. Việc kiểm soát MCBGTKS đã cho phép chính phủ tiến hành phản ứng chính
sách chăm sóc, giáo dục nâng cao nhân thức và các khoản trợ cấp vật chất đối với
trẻ em gái và cũng khuyến nghị sử dụng các biện pháp trừng phạt đối với những
hành vi lựa chọn giới tính khi sinh.Kết luận của nghiên cứu này tập trung vào sự so
sánh điều kiện kinh tế và nhận thức của hộ gia đình nông thôn so với hộ gia đình
khu vực khác. Tuy nhiên nếu liệu trình độ học vấn hay điều kiện kinh tế có thực sự
làm ảnh hưởng đến việc MCBGTKS hay không? Liệu có phải các hộ gia đình có
kinh tế cao hơn họ có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế liên quan đến lựa chọn
giới tính thai nhi tốt hơn? Thêm vào đó các khuyến nghị tập trung nhiều vào việc
khích lệ hay trừng phạt mà chưa chú ý nhiều đến yếu tố nâng cao nhận thức. Đây là
yếu tố bền vững góp phần vào việc bình đẳng giới và giảm thiểu MCBGTKS.
18
3.
Tỷ số giới tính khi sinh của Hàn Quốc: Các xu hướng thay đổi và sự
khác biệt theo vùng, tác giả Kim, Doo-Sub (2004). Kết quả của nghiên cứu bàn về
việc: tỷ số giới tính cao bất thường ở một số khu vực nhất định khiến người ta đưa
ra giả thuyết rằng sự khác biệt về tỷ số giới tính theo vùng có liên quan tới việc xác
địnhgiới tính trước khi sinh và nạo phá thai lựa chọn giới tính. Kết quả của một
cuộc điều tra thực hiện năm 1991 cho thấy hơn 30 phần trăm phụ nữ Hàn Quốc ủng
hộ hành vi lựa chọn sinh con trai đặc biệt là ở các vùng nông thôn, và có 66 ca nạo
phá thai trên 100 trẻ đẻ sống, gần 40 phần trăm tổng số ca có thai của phụ nữ đã kết
giới tính không sử dụng các biện pháp y học, nạo phá thai lựa chọn giới tính và giết
trẻ sơ sinh mà còn chú ý đến rất nhiều khía cạnh khác liên quan như củng cố hệ
thống an sinh xã hội, nâng cao nhận thức cho nam giới và mẹ chồng, cung cấp các
dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ sức khỏe sinh sản bền vững và “trọn
gói”, đồng thời phổ biến hình thức hôn nhân “ở rể”. Dù đã có những nỗ lực mang
tính chiến lược như vậy nhưng tình hình thực tế hiện nay vẫn còn cách xa mức
mong muốn; tỷ lệ giới tính trẻ em của Trung Quốc vẫn là vấn đề khó khăn và phức
tạp và vẫn còn rất nhiều điểm hạn chế trong những cố gắng kiểm soát tỷ lệ
TSGTKS. Các lý do dẫn đến thực tế này là việc liên tục thiếu vắng tính nhạy cảm
giới và sự mơ hồ trong cả nội dung cũng như trong việc thực thi luật pháp và các
chính sách, ví dụ: vì việc nạo phá thai lựa chọn giới tính thường diễn ra bí mật nên
khó có thể thu thập bằng chứng và vì việc này chưa được coi là phạm tội nên khó có
thể áp dụng các chế tài xử phạt những người có liên quan.
5. Giới tính thiên về con trai trong năm 2000, Tổng điều tra dân số Hoa Kỳ,
tác giả Almond, Douglas; Edlund, Lena năm 2008. Nghiên cứu thực hiện với các hộ
gia đình mà cả cha và mẹ là người Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn độ. Kết quả chính
của nghiên cứu thể hiện qua các điểm sau: tỷ số giới tính thiên về nam giới trong
các cộng đồng dân số này trùng lặp với những mô hình đã quan sát được ở các quốc
gia Châu Á tương ứng trong đó có thể thấy rõ sự thiên lệch về con trai ở những lần
sinh cao hơn, đặc biệt là từ đứa con thứ ba trở lên với tỷ số là 1,51 so với 1. Sự
thiên lệch ở các lần sinh cao hơn này đúng đối với người mẹ ở bất kỳ quốc tịch nào
và mặc dù vẫn còn thiếu nhiều yếu tố để có thể giải thích được sự thiên lệch về con
trai ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc ví dụ như chính sách có một con của Trung
20
quốc, giá trị món của hồi môn cao ở Ấn Độ, phong tục sống cùng gia đình chồng
sau khi kết hôn cả ở ba quốc gia này, hay phong tục dựa vào con cái hỗ trợ lúc về
già. Do sự thiên lệch về sinh con trai là một hiện tượng mới xảy ra gần đây nên sự
mất cân bằng thiên về con trai được hiểu là bằng chứng cho việc lựa chọn giới tính
kết quả chính của nghiên cứu như sau:
(i) Sự mất cân bằng TSGTKS chủ yếu là do nạo phá thai lựa chọn giới tính.
(ii) Thực hành lựa chọn giới tính phổ biến hơn trong các gia đình đô thị, có
học vấn cao và khá.
(iii) Sự sống sót của các bé gái bị đe dọa trong tương quan với thứ tự sinh và
đặc biệt là trong các gia đình mới chỉ có một con gái.
(iv) Tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở đô thị cao hơn ở nông thôn
Các nguyên nhân của MCBGTKS tại Ấn độ gồm có: (i) Sự tăng cường tâm
lý ưa thích con trai nhưng, như giả định trước đây, không tăng phúc lợi và phát triển
kinh tế xã hội dẫn đến việc mất đi ý nghĩa văn hóa; (ii) Sự phối hợp giữa chuẩn mực
sinh thấp và tâm lý ưa thích con trai; (iii) Giá trị kinh tế của con trai không thay đổi
so với con gái; (iv) Hủ tục hồi môn và các chi phí khác của việc có con gái.
8.
Nghiên cứu về Giới, Nam tính và sự ưa thích con trai ở Nepan và Việt
Nam, các tác giả: Priya Nanda, Abshihek Gautam, Ravi Verma (Trung tâm Quốc tế
Nghiên cứu về Phụ nữ); Khuất Thu Hồng, Trần Giang Linh (Viện Nghiên cứu phát
triển Xã hội); Mahesh Puri Jyotsna Tamang, Prabhat Lamichhane (Trung tâm
Nghiên cứu Môi trường, Sức khoẻ và Dân Số) (2012). Dữ liệu nghiên cứu cho thấy
ở cả hai quốc gia, nam giới đều có tư tưởng ưa thích con trai. Hầu hết nam giới ở cả
hai quốc gia đều ủng hộ các mệnh đề về ưa thích con trai, cụ thể là các mệnh đề liên
quan tới giá trị trực tiếp của việc có con trai. Cả hai quốc gia đều có tỷ lệ cao những
nam giới nhất trí với mệnh đề rằng con trai đóng vai trò quan trọng trong việc nối
dõi tông đường và để hỗ trợ chăm sóc khi họ về già. Điều ngạc nhiên là rất ít nam
giới tán thành với việc pháthai nếu mang thai bé gái, hay cho con gái đi làm con
nuôi, hoặc từ bỏ vợ khi vợ họ không sinh được con trai. Ở cả hai quốc gia, trình độ
học vấn và loại hình nghề nghiệp của nam giới có liên quan mật thiết tới thái độ ưa
thích con trai. Ngoài ra, có mối liên hệ rõ rệt giữa sự ưa thích con trai của nam giới
22
cần được tham gia vào các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng
giới, MCBGTKS. Đây chính là đối tượng người chồng- người tham gia quyết định
số con, việc lựa chọn giới tính trước khi sinh trong mỗi hộ gia đình. Nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở hai tỉnh Hải Dương và Bến Tre hơn nữa tập chung nhiều vào
23