Đề tài: Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin và việc áp
dụng t duy biện chứng duy vật vào cách nghĩ, cách làm ở nớc ta hiện nay.
1
1. Quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung
và phép biện chứng
Kể từ Mác và ănghen, một giai đoạn lịch sử mới trong quá trình lịch sử
phát triển của phép biện chứng đã bắt đầu. Đó là giai đoạn tổng kết toàn bộ
sự phát triển trớc đây của phép biện chứng, thời kỳ hình thành hình thức triệt
để khoa học và cao nhất của phép biện chứng phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật đã xuất hiện với t cách một bộ phận cấu thành
và không tách rời của toàn bộ triết học mácxít. Nói một cách khác, khi ra
đời, phép biện chứng duy vật có mối liên hệ mật thiết với quá trình hình
thành toàn bộ học thuyết mácxít.
Phép biện chứng của Mác và ănghen đã tiếp thu dới hình thức cải toạ
và lý giải có phê phán tất cả những gì quý giá và vĩ đại mà toàn bộ sự phát
triển của triết học tạo ra. Không thể hiểu đợc phép biện chứng đó nếu không
tính đến những thành tựu mà các nhà triết học Hy lạp cổ đại, những nhà
biện chứng bẩm sinh đã đạt đợc. Con đờng dẫn đến phép biện chứng đã đợc
mở ra trong thời Cận Đại thông qua các t tởng biện chứng chứa đựng trong
triết học của Đềcáctơ, Xpinôda, Rútxô,và của một số nhà t tởng khác của
Pháp ở thế kỷ XVIII. Cuối cùng là thông qua những quan niệm biện chứng
của các nhà triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Về
thực chất, phép biện chứng dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên
và của các khoa học khác, mà đợc triết học tổng hợp qua các phạm trù và các
khái niệm của phép biện chứng. Hoặc nh Lênin đã nói thì phép biện chứng
duy vật có thể và cần phải đợc quan niệm là sự tổng kết và kết luận của toàn
bộ lịch sử phát triển của t duy con ngời và thực tiễn xã hội của loài ngời.
3
T duy biện chứng duy vật là một loại hình t duy phát triển ở trình độ cao
nhất của loài ngời, nó luôn hàm chứa nội dung hiện thực, phản ánh đúng bản
chất vận động, phát triển và mâu thuẫn của thế giới khách quan vốn nh nó
có. Nhờ đó, t duy biện chứng duy vật không những cso tính khoa học
cách mạng mà luôn tạo ra sản phẩm kép giải quyết đợc các vấn đề do thực
tiễn đặt ra cũng nh tạo ra đợc các tri thức mới. Hiện nay ở nớc ta có không ít
chủ thể của xã hội rơi vào khuynh hớng t duy dẫn tới nhận thức sai lầm các
quy luật khách quan chi phối sự biến đổi của đời sống xã hội. Những khuynh
hớng nhận thức sai lầm này sẽ đợc biểu hiện ra ngoài thông qua các hành
động thực tế của con ngời và sẽ làm cản trở sự phát triển, do đó chúng đợc
coi là những căn bệnh. Vì vậy việc xem xét ảnh hởng mà phép biện chứng
duy vật có thể khắc phục đối với các căn bệnh đó là hết sức quan trọng.
Trớc hết chúng ta cần tìm hiểu một số đặc trng cơ bản của t duy biện
chứng duy vật:
T duy biện chứng duy vật là một loại hình t duy phát triển ở trình độ
cao nhất so với các loại hình t duy khác trong lịch sử. Trên cơ sở kế
thừa và phát triển những hạt nhân hợp lý của các loại hình t duy có
trong lịch sử nh t duy biện chứng tự phát, t duy biện chứng duy tâm,
t duy siêu hình, t duy kinh nghiệm, t duy biện chứng duy vật đợc
hình thành, không thể tách nó ra khỏi các hình thức t duy nói trên.
Tuy nhiên, xét về trình độ phản ánh thì t duy biện chứng duy vật
khác hẳn về chất so với các loại hình t duy trên, vì nó phản ánh trung
thực và chính xác hiện thực khách quan. Chỉ có những chủ thể nào
mà t duy dựa trên nền tẳng vững chắc của chủ nghĩa duy vật và
nhuần nhuyễn phơng pháp t duy biện chứng duy vật thì t duy của họ
mới đạt tới tầm cao nhất. Vì vậy, t duy biện chứng duy vật là công
cụ chỉ đạo hoạt động cải tạo hiện thực có hiệu quả nhatá so với các
khách quan, theo nghĩa nội dung phản ánh của nó phù hợp với hiện
thực khách quan. Cơ sở của sự xem xét sự vật, hiện tợng trong thế
5
giới khách quan phải dựa trên cơ sở tôn trọng các qui luật khách
quan chi phối sự vận động, phát triển của chúng. Hay nói cách khác,
sự vật hiện tợng của thế giới khách quan nh thế nào thì t duy biện
chứng duy vật phải phản ánh đúng nh thế. Có nh vậy , con ngời mới
nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tợng đó và ra đợc các quyết
định chính xác, các giải pháp hợp lý để giải quyết công viẹc đạt hiệu
quả cao. Đặc trng này cho thấy t duy duy vật biện chứng khác hẳn về
chất so với các hình thức t duy khác. Việc vi phạm hoặc phá vỡ
nguyên tắc này trong t duy dẫn đến sai lầm trong xem xét, nhận thức
thế giới khách quan, rơi vào căn bệnh duy tâm và bệnh chủ quan duy
ý chí, từ đó chủ thể xã hội sẽ phạm sai lầm trong hoạt động cải tạo
thực tiễn. Bài học thứ hai trong Đại hội Đảng lần thứ VI đã nói lên
điều này.
T duy biện chứng duy vật là t duy khoa học, cách mạng có tính phê
phán và chiến đấu cao. Không lùi bớc và thoả hiệp trớc bất kỳ một
sai lầm nào của chủ nghĩa duy tâm chủ nghĩa tôn giáo và chủ
nghĩa duy vật siêu hình. Chính Mác và ănghen đã khẳng định đây là
hình thức t duy không chịu khuất phục trớc một cái gì cả. Vì vậy
nó cũng là phơng tiện chủ yếu để khắc phục và ngăn ngừa các
khuynh hớng t duy dẫn tới nhận thức sai lầm các quy luật khách
quan chi phối sự biến đổi của đời sống xã hội. Một số căn bệnh biểu
hiện của chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa tôn giáo và chủ nghĩa duy vật
siêu hình đang còn tồn tại ở nớc ta hiện nay mà rất cần công cụ t duy
biện chứng duy vật để khắc phục và sửa chữa.
Căn bệnh chủ quan duy ý chí
nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nớc mà trớc mắt cũng nh lâu
dài, hậu quả của nó khó có thể lờng trớc đợc.
7
Có thể sau khi chủ trơng, đờng lối bị thất bại do bệnh chủ quan gây nên,
những ngời hoạch định chúng sớm nhận ra sai lầm, do đó chúng có thể đợc
khắc phục, sửa chữa cho phù hợp với quy luật khách quan và yêu cầu của
thực tiễn. Nhng cũng có thể xảy ra các tình trạng sau đây :
Không nhận thức đợc nguồn gốc sai lầm về mặt t duy, nhận thức
Nhận thức đợc nguồn gốc sai lầm đó nhng lại chậm đợc sửa chữa
khắc phục.
Trong trờng hợp thứ hai, ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận
thức, trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục, sửa chữa,
sai lầm, theo chúng tôi, còn có nguyên nhân chủ quan khác. Đó là, do tính
bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm,
sai lầm chủ quan, tìm cách thuyết minh cho sự sáng tạo hợp quy luật hoặc
tìm cách đổ lỗi cho ngời khác, hoặc cho nguyên nhân khách quan, Trong
tình hình đó, thay cho việc tìm cách khắc phục sai lầm thì có thể là thái độ
thờ ơ, chờ đợi sự may rủi, và do đó, sai lầm, càng trở nên nghiêm trọng.
Nh vậy, nguyên nhân lẫn trong hậu quả. Bệnh chủ quan duy ý chí còn
dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính, hình thức chủ nghĩa bệnh gia trởng độc
đoán chuyên quyền, ban phát đặc ân, tệ sùng bái cá nhân, tham ô, lãng phí
coi thờng ngời lao động,
ở Việt Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc đây, chúng ta
cũng đã mắc phải căn bệnh này. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ, chúng ta đã
chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có, vì thế mà sinh ra
những ảo tởng về tốc độ cải tạo, phát triển kinh tế và do đó, dẫn đến việc đề
ra những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất.
Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc đổi mới, chúng ta đã không
9
Thứ nhất, những kinh nghiệm của bản thân họ chỉ mang tính chất cục
bộ chứ không phải là cái phổ biến và càng không phải là tri thức kinh
nghiệm phổ biến theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
Thứ hai, những kinh nghiệm này họ vay mợn của ngời khác, hoặc của
quá khứ cha hẳn đã là những kinh nghiệm đợc bảo tồn và phát triển theo
quan điểm chọn lọc. Hơn nữa, những tri thức kinh nghiệm đó mới chỉ là sự
khái quát từ một thực tiễn, một hoàn cảnh cục bộ riệng biệt, và trong nhiều
trờng hợp chúng chỉ mới phản ánh đợc cái bề ngoài ngẫu nhiên nhng trong
thực tế cụ thể, sự việc đã diễn ra một cách khác mà chúng ta đã không thể
nắm bắt đợc.
Thứ ba, sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể
chứng minh đợc đầy đủ tính tất yếu.
Con ngời Việt Nam vốn đang đậm nét t duy kinh nghiệm. Vì vậy mặc
dù đã đợc trang bị chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy
vật, nhng ở một số nhà quản lý của chúng ta ít nhiều vẫn mắc bệnh kinh
nghiệm chủ nghĩa. Với căn bệnh này, trong hoạt động thực tiễn, họ đã rơi
vào tình trạng mò mẫm tuỳ tiện, không nhất quán trong việc thi hành các chủ
trơng, chính sách của Nhà nớc làm ảnh hởng đến tiến trình phát triển kinh tế
xã hội, và bản thân họ cũng trở nên bảo thủ, lạc hậu và trì trệ bởi phơng pháp
hành động cũ kỹ.
Để khắc phục tình trạng này, phải thấy đợc mối quan hệ qua lại và sự
thống nhất biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận. Phải bám sát thực tiễn,
khái quát thực tiễn, khái quát lý luận, xây dựng đợc chiến lợc phát triển đúng
đắn, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử.
Bệnh giáo điều
Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong quá trình t duy của chủ thể
của đất nớc.
11
Để căn bản khắc phục căn bệnh này, chúng ta cần nắm vững và vận
dụng sáng tạo t duy biện chứng duy vật, phải triệt để phân tích mọi vấn đề
trong tính lịch sử - cụ thể của nó. Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp,
tránh rập khuôn, máy móc, tránh tuyệt đối hóa các tri thức đã có.
Những căn bệnh trên đây thờng gắn bó chặt chẽ với nhau. Chúng là một
trong những nguyên nhân đa nớc ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm
trọng về kinh tế, xã hội những năm 80. Với tinh thần cách mạng khoa học,
Đảng và Nhà nớc ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi
mới t duy lý luận đợc xem là cơ sở. Từ đó đến nay, chúng ta đã có những bớc
tiến quan trọng trong việc khắc phục các khuynh hớng t duy sai lầm, vận
dụng một cách khoa học t duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết
những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Tuy nhiên vốn là những căn bệnh đã tồn tại khá lâu dài và những cơ sở
nảy sinh ra chúng cha hoàn toàn mất đi, nên chúng cha hoàn toàn bị loại trừ,
ở mức độ nào đó, những căn bệnh này vẫn còn ảnh hởng tiêu cực đến công
cuộc đổi mới của chúng ta.
Việc ngăn ngừa, khắc phục các căn bệnh nói trên về thực chất phải là
quá trình xoá bỏ những nguồn gốc đã sinh ra chúng. Điều đó có nghĩa là phải
xoá bỏ tình trạng yếu kém về t duy lý luận, phát triển t duy lý luận lên trình
độ cao. Muốn vậy, trớc hết, phải nắm vững phơng pháp luận biện chứng duy
vật, và thông qua đó, không ngừng nâng cao trình độ lý luận, năng lực vận
dụng lý luận vào thực tiễn. Vì chỉ có t duy biện chứng duy vật mới đem lại
cho con ngời nhận thức đúng đắn và khả năng cải tạo hiện thực có hiệu quả,
cũng nh giúp xã hội tiến về phía trớc.
12