QUANG DŨNG VÀ BÀI THƠ “ TÂY TIẾN”
I- HOÀN CẢNH RA ĐỜI – CHỦ ĐỀ - BỐ CỤC CỦA TÁC
PHẨM
Tây Tiến là một bài thơ của nhà thơ Quang Dũng, được in trong tập Mây đầu ô.
Bài thơ này đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam.
Nguyên nhân ra đời
Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối
hợp với quân độiLào chống quân đội của thực dân Pháp. Chiến sĩ trong đoàn quân này
phần đông là thanh niênHà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên (như nhà thơ
Quang Dũng). Chiến đấu khắp các địa bàn thuộc tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình,
miền tây Thanh Hóa, Sầm Nứa (Lào), trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng
thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội, nhưng “họ sống rất lạc quan và chiến đấu
dũng cảm”
[1]
. Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa binh
đoàn Tây Tiến chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nay
thuộc Hà Nội), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, mà sau này ông cho đổi tên là Tây Tiến.
Chủ đề & bố cục Sông Mã, đoạn chảy qua thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Bài thơ nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào về đồng đội thân yêu, những chiến sĩ
hào hoa, dũng cảm, giàu lòng yêu nước trong đoàn binh Tây Tiến đã chiến đấu và hy
sinh vì Tổ quốc.
Tác giả đã chia bài thơ làm 4 đoạn tương ứng với những hình ảnh và ý tưởng
chính:
1.Bức tranh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và mỹ lệ (tương ứng với đoạn 1
và 2, tức từ câu 1 cho đến câu 22).
Sách Tuyển chọn và giới thiệu môn Ngữ văn
[4]
:
Có vài câu thơ trước đây như: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh
màu lá và đặc biệt nhất ở câu: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm, thường bị phê phán
là miêu tả người lính với những nét không bình thường, xa lạ (lãng mạn tiểu tư
sản) thực ra, Quang Dũng muốn nói lên nỗi gian khổ (nhưng vẫn dữ oai hùm), bộc lộ
rõ bản chất của những thanh niên Hà Nội với phong cách tài hoa lãng mạn và những
điều ấy, không hề làm hạn chế hoặc giảm đi nhiệt tình của tuổi trẻ khi đi vào cuộc
sống chiến đấu lắm gian lao
Hay ở câu Rải rác biên cương mồ viễn xứ, Quang Dũng cũng không ngần ngại
nói đến cái chết ở nơi chiến trường, nhưng ngay sau đó là câu: "Chiến trường đi chẳng
tiếc ngày xanh", đã khẳng định một phương châm sống, một triết lý sống của tuổi trẻ.
Nói khác hơn, nhà thơ nói đến cái “dãi dầu”, cái bệnh, cái chết nhưng không
hề gây cảm giác bi lụy, tang thương
Về mặt nghệ thuật, nhà thơ Văn Giá, đã nêu mấy ý, đại để như sau:
Bài thơ được làm theo thể thất ngôn trường thiên vốn có gốc gác từ thơ
Đường. Thể thơ này ở dạng phổ biến nhất là giữ nhịp 4/3 hoặc 2/2/3 đi suốt toàn bài.
Nhà thơ Quang Dũng không có cải cách gì đáng kể ở cấu trúc nhịp điệu, nhưng về mặt
phối âm thanh, ông có những sáng tạo khá thành công. Điều này thể hiện rõ nhất ở các
câu thơ hoặc toàn thanh bằng, hoặc thanh bằng chủ đạo: Mường Lát hoa về trong đêm
hơi, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, Nhạc về Viên
Chăn xây hồn thơ, Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Ở một khổ thơ có những tính từ có tính tạo hình như khúc khuỷu, thăm
thẳm, heo hút, nghĩa là khổ thơ đang vẽ ra cái thế hiểm trở của đèo dốc, của đường
rừng, bỗng đột ngột chuyển sang cảm giác nhẹ nhõm, đưa người đọc vào một hình
dung đẹp: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Những câu thơ tài hoa trong bài, mà câu
thơ trên chỉ là một ví dụ, không phải là kết quả do gọt đẽo mà là sản phẩm hoàn toàn
tự nhiên của cảm xúc, của nỗi nhớ mãnh liệt
Trong Tây Tiến có một chữ “về” rất đáng chú ý: hoa về, nhạc về, về
diễn bằng một tâm hồn lãng mạn và âm điệu cổ điển . Qua hai câu thơ mở đầu của bài
“ Tây Tiến “ ta nắm bắt được hồn thơ Quang Dũng :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Âm điệu của câu thơ thất ngôn bát cú như từ thời Lí Bạch . Tình cảm thì dào
dạt như các nhà thơ lãng mạn thời Thơ mới . Có điều là trong dòng thơ hoài niệm ấy
đã xuất hiện một cái tên lịch sử . Tây Tiến ! Mà đã nói đến Tây Tiến là phải nói đến
sông Mã , con sông hùng vĩ đã chứng kiến những vui buồn của cuộc đời người chiến
binh , là phải nói đến rừng núi với những chặng đường hành quân cheo leo bên núi
cao , bên vực thẳm , đi trong sương mù , trong hương hoa . Nỗi nhớ dâng trào như nỗi
nhớ của các nhà thơ lãng mạn. Đây là câu thơ của Xuân Diệu :
“Tương tư nâng lòng lên chơi vơi “
Còn đây là câu thơ của Quang Dũng :
“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi “
Có điều là một đằng thì nhớ người yêu , một đằng thì nhớ những kỉ niệm kháng
chiến .
Những kỉ niệm về Tây Tiến , về kháng chiến cứ đậm dần lên trong sự hài hoà
giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực của thơ Quang Dũng . Những địa danh miền sơn
cước như Sài Khao , Mường Lát gợi bao cảm xúc mới lạ. Những “ sương “ , “ hoa “
từng hiện diện với thi nhân , với tình yêu thì nay hiện diện với đoàn quân , gian khổ
mệt mỏi đấy nhưng không thiếu những giây phút lãng mạn . Thủ pháp đối lập được
Quang Dũng triệt để sử dụng . “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi “ gian khổ biết
bao! “ Mường Lát hoa về trong đêm hơi “ thi vị biết bao ! Tưởng chừng như thiên
nhiên ban thưởng cho người lính một chút hương hoa để có sức mạnh mà vượt qua
đèo dốc .
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Những thanh trắc ( dốc , khúc , khuỷu , thẳm ) tức ngược miêu tả được thế núi
hiểm trở . Và hay nhất là miêu tả chiều sâu thăm thẳm để tả chiều cao của “ dốc lên
khúc khuỷu “ .Cao đến nỗi người lính có cảm giác mình ngự trên mây “ heo hút cồn
cảnh thì lại dậy lên ý lạ . Chữ “ em “ thì có gì là mới , vậy mà thay vào đó bất cứ chữ
nào khác thì câu thơ cũng mất hết linh hồn . Nói kiểu Pautôpxki là Quang Dũng đã trả
lại cho chữ “ em “ cái trinh bạch ban đầu . Hương nếp hay là hương em đã làm bâng
khuâng cả núi rừng , bâng khuâng cả lòng người ?
Nhà thơ nhớ lại một đêm liên hoan lạ lùng giữa rừng biên cương :
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ “
Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng lại được dịp miêu tả những nét lạ : y phục
lạ ( xiêm áo ) , nhạc cụ lạ ( khèn ) , âm điệu lạ ( man điệu ) , dáng vẻ lạ ( nàng e ấp ) .
Tình quân dân nơi rừng núi xa xôi càng thêm sức mạnh cho người lính Tây Tiến .
Cùng với dòng hồi tưởng đó , tác giả nhớ lại hình ảnh người lính Tây Tiến ,
những hình ảnh độc đáo không thể nào phai nhoà :
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm “
“ Đoàn binh không mọc tóc “ quả là kì dị ! Thời đó , đoàn quân Tây Tiến hoạt
động trong rừng núi phía Tây , bệnh sốt rét hoành hành . Tóc rụng đến nỗi không mọc
lên được . Da xanh bủng như màu lá rừng . Tác giả miêu tả bằng cách đối lập giữa cái
bên ngoài và cái bên trong . Bên ngoài người lính thì da xanh bủng ốm yếu , nhưng
tinh thần thì vững vàng . Khí phách của người lính Tây Tiến chẳng những lấn át cả
bệnh tật ốm yếu mà còn “ dữ oai hùm “ làm khiếp sợ kẻ thù . Tinh thần của người lính
Tây Tiến thật là mãnh liệt . Mãnh liệt cả trong “ mộng “ , mãnh liệt cả trong “ mơ “ .
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Hình ảnh “ mắt trừng “ thể hiện ý chí quyết tâm của người lính Tây Tiến trong
nhiệm vụ bảo vệ biên cương , nghĩa vụ quốc tế của mình . Trên kia ta đã từng gặp
hình ảnh “ mộng “ ấy: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ“ . Nhưng tình cảm , tâm
người con của Thủ đô ở biên cương cũng có tinh thần “ hiệp sĩ “ đó . Có lẽ gọi những
chàng trai “ chẳng tiếc đời xanh “ này là “ hiệp sĩ “ cách mạng , như những người lính
trong “ Đồng chí “ của Chính Hữu , trong “ Nhớ “ của Hồng Nguyên . Sự hi sinh của
họ thật là cảm động :
“Áo bào thay chiếu anh về đất “
Người lính Tây Tiến thời đó hết sức thiếu thốn . Theo Trần Lê Văn thì đồng
bào thấy các chiến sĩ Tây Tiến rét đã cho chiếc áo khoác thay cho “ áo bào “ . Khi chết
, đồng đội dùng chiếu bó lại để chôn vì không có quan tài . Câu thơ đó có một từ rất
xứng với sự hi sinh của người lính là từ “ đất “. “Anh về đất “ là về với non sông đất
nước , về với sự trường tồn , vĩnh hằng. Âm nhạc của thiên nhiên , non nước tấu lên
đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng :
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành “
Cái chết của những người lính Tây Tiến nơi biên cương chẳng những làm xúc
động sâu xa những chiến sĩ đồng đội mà còn động cả lòng trời đất . “ Sông Mã gầm
lên “ đau đớn , tiếc thương . Khúc nhạc bi tráng hợp với sự hi sinh cao quý của những
“ hiệp sĩ “ Tây Tiến .
Quang Dũng đi kháng chiến , đến đoàn quân Tây Tiến với tư cách là một trí
thức có tâm hồn nghệ sĩ . Khi đặt bút làm thơ thì đã có ông Lí ông Đỗ ngự trong lòng .
Âm nhạc đầy cám dỗ của nhà thơ Việt Nam hiện đâi như Tản Đà ( nhà thơ cùng quê
hương với ông ) , Thế Lữ , Xuân Diệu cũng đã dội vang trong lòng ông . Các nhà thơ
cổ kim đã bồi đắp trong hồn thơ kháng chiến mới mẻ của ông . Bằng nghệ thuật điêu
luyện , Quang Dũng đã khắc hoạ chân dung người lính Tây Tiến , hình hài thì kì dị ,
độc đáo , chân dung tinh thần thì cao quý . Xuc cảm của nhà thơ được nuôi dưỡng
bằng âm nhạc vừa cổ kính vừa hiện đại .
Những trái tim “ hiệp sĩ “ Tây Tiến nằm lại rải rác ở biên cương chắc sẽ cảm
thấy êm ái khi nghe thơ Quang Dũng . Bằng hội hoạ và âm nhạc , tượng đài của lòng
dũng cảm đã được dựng lên trong thơ “ Tây Tiến “ – vĩnh hằng.
IV- Phân tích vẻ đẹp của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
YÊU CẦU
Nội dung : Nêu được cách nhìn và cách miêu tả độc đáo của nhà thơ về vẻ đẹp
làm cho hơi thơ cứ vọng dài thăm thẳm không dứt hòa với bước đường của người
chiến sĩ tình nguyện ra đi cho mùa xuân đất nước :
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
Gợi ý làm bài
I. Đặt vấn đề :
- Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được
Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một
thời gian.
- Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính
Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có
cả học sinh, sinh viên.
- Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã
khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm
đẫm tinh thần bi tráng.
II. Giải quyết vấn đề :
1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến :
Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp
lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp
đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong
phú của người đọc.
- Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất
hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền
hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và
duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh
những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh
chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang
trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông
Mã :
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật
trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng
sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm
hùng.
- Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm
tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu
chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.
III. Kết thúc vấn đề :
- Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút
Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây
Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì
lịch sử một đi không trở lại.
- Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính.
Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng
hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của
mình.
Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tây Tiến cuả Quang Dũng là cảm hứng về nỗi
nhớ. Hãy phân tích 8 câu đầu để làm rõ nhận định trên?
GỢI Ý LÀM BÀI
Quang Dũng là một trong những nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu cuả thời kì kháng
chiến chống Pháp.Ông đặc biệt thành công khi viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư
sản hào hoa, phong nhã. Một trong những bài thơ nổi tiếng viết về người lính là bài
thơ Tây Tiến. Cảm hứng chủ đạo trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đó là nỗi
Câu thơ thứ 2 với điệp từ "nhớ" được lặp lại 2 lần đã diễn tả nỗi nhớ quay quắt,
cồn cào đang uà vào tâm trí Quang Dũng. tính từ "chơi vơi" kết hợp với từ "nhớ" đã
khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết cuả nhà thơ và nỗi nhớ đó như 1 cơn thác
lũ tràn vào tâm trí nhà thơ đã đẩy ông vào trạng thái bồng bềnh, hư ảo. 2 câu đầu với
cách dùng từ chọn lọc, gợi hình gợi cảm đã mở cưả cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt
trong tâm hồn nhà thơ
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời"
Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha
Luông Đó là địa bàn hoạt động cuả binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và
dừng chân trên bước đường hành quân gian khổ, mệt nhọc. Nói đến Tây Bắc, là nói
đến vùng đất có điạ hình hiểm trở, khí hậy khắc nghiệt. Có những đêm dài hành quân
người lính Tây Tiến vất vả đi trong đêm dày đặc sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau.
“Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần ko “mỏi”. Bởi ý chí quyết tâm ra đi vì tổ quốc đã
làm cho những trí thức Hà thành yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn. Quang
Dũng đã rất tài tình khi đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự khắc nghiệt
cuả núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng miêu tả về “sương”, Chế
Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”
Có lẽ thiên nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã trở thành 1 kí ức
khó phai trong lòng nhà thơ. Thiên nhiên tuy có đẹp nhưng cũng rất hiểm trở. Có
những lúc người lính Tây Tiến phải vất vả để trèo lên đỉnh chạm đến mây trời. Quang
Dũng đã khéo léo sử dụng từ “thăm thẳm” mà ko dùng từ “chót vót” bởi nói “chót
vót” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu cuả nó nhưng “thăm thẳm” thì
khó có ai có thể hình dung được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất
vào nền văn học Việt Nam hình ảnh những người lính trí thức yêu nước vô danh. Bài
thơ xứng đáng được xem là kiệt tác cuả Quang Dũng khi viết về người lính trí thức
tiểu tư sản hào hoa, phong nhã.
TÂY TIẾN tượng đài bất tử về người lính vô danh
GỢI Ý
Hình ảnh những người lính TÂY TIẾN qua nét vẽ của Quang Dũng đã hiện lên
trong bài thơ cũng thật khác thường .Khác thường ở sự giankhổ cùng cực , ăn đói,
mặc rét, bệnh tật , sốt rét đến xanh da trụi tóc, khác thường ở chỗ tác giả cố ý không
miêu tả một gương mặt chiến sĩ riêng biệt với tên tuổi cụ thể nào , ông đã dồn đúc các
phẩm chất tốt đẹp của những tráng sĩ Tây Tiến thành gương mặt chung của cả đoàn
quân , dùng lối vẽ phiếm chỉ để khái quát nên chân dung tiêu biểu rất oai hùng của
người chiến sĩ vô danh , dám xả thân vì nghĩa lớn ,đã khiến cho kẻ thù kinh hoàng
khiếp sợ.
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm
Trừng mắt gửi mộng qua biên giới
Khác thường ở chỗ những người lính dũng mãnh ấy tâm hồn cũng thật dụi hiền
và lãng mạng:
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Nghĩ cho cùng , giữa chiến trường miền Tây vô cùng khốc liệt ấy, nếu người
lính không biết mơ mộng , thi vị hoá cuộc sống vì một mục đích cao xa hơn thì họ sẽ
chết chìm trong hiện thực khắc nghiệt ấytrước khi ngã ngục vì viên đạn của kẻ thù .
Chất men lãng mạng -mơ mộng nồng say ấy chính là phẩm chất giúp con người có
sức mạnh vượt lên trên hoàn cảnh đê chiến thắng . Nhờ thế, mặc dù tác giả mô tả rất
đậm sự gian khổ khốc liệt của chiến trường , của đời lính chinh chiến nơi miền Tây
hoang vu mà bài thơ không đợm chút sắc màu u ám , bi quan nào khiến con người run
sợ nản lòng.
Nét đặcsắc của ngòi bút Qang Dũng trong Tây Tiến còn ở chỗ ông viết về
chiến tranh nhưng không có 1 chữ nào về trận đánh , về tiếng súng , về máu đổ hay về
kẻ thù , bài thơ chỉ đơn giản nói về những người chiến sũ tình nguyện Việt Nam trên