Lời nói đầu
Ngày nay trong bối cảnh lịch sử của thế giới đang có nhiều diễn biến phức
tạp và đặc biệt là yêu cầu đổi mới toàn diện của Nhà nớc ta, nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo
đinh hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến toàn bộ
đời sống xã hội, tạo nên những chuyển dịch lớn trong cơ cấu lao động xã hội, cơ
cấu giai cấp công nhân nói chung và hoạt động Công đoàn nói riêng. Vì thế mà
đòi hỏi công tác vận động công nhân của Đảng và tổ chức Công đoàn phải có
những chuyển biến mới, phải xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm, có đủ bản lĩnh
Chính trị, phẩm chất Cách mạng, năng lực trí tuệ và tổ chức thực hiện phù hợp
điều kiện thực tại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc.
Những vấn đề trên đã đặt ra cho tổ chức Công đoàn nhiệm vụ Chính trị nặng
nề trong giai đoạn Cách mạng mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ Công
đoàn có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất và bản lĩnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trớc mắt và sẵn sàng đón nhận những thử thách ngày càng cao của giai đoạn
tiếp theo.
Thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ Công đoàn có năng lực, có bản lĩnh thì ở đó
công tác Công đoàn đợc thực hiện tốt, thu hút đông đảo công nhân viên chức lao
động tham gia hoạt động do Công đoàn tổ chức, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh
doanh, nâng cao đời sống cho ngời lao động.
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống Công đoàn còn nhiều lúng túng, trong công
tác cán bộ còn nhiều bất cập, cha có biện pháp tạo nguồn bổ sung cán bộ, việc sử
dụng tiếp nhận cán bộ còn nhiều chắp vá, công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ cha
đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, không kịp bồi dỡng cán bộ
chủ chốt, nhất là cán bộ mới chuyển sang làm công tác Công đoàn.
Công đoàn đờng sắt Việt Nam là một ngành đã có đóng góp đáng kể cho sự
ổn định và phát triển của đất nớc ta. Để tiếp tục đẩy mạnh công nhiệp hoá, hiện
1
đại hoá Công đoàn đờng sắt Việt Nam đã phải có sự cộng tác của cả hệ thống
pháp điều tra, khảo sát thống kê, tổng kết thực tiễn, đồng thời kết hợp phơng pháp
lôgic lịch sử, phân tích tổng hợp và những tích luỹ, suy nghĩ của bản thân qua
thời gian thực tập.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm 3 phần chính:
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn hình thành cán bộ,
công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Phần thứ hai: Thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn ở Công đoàn đờng sắt
Việt nam trong những năm qua.
Phần thứ ba: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng công tác đào tạo, bồi d-
ỡng cán bộ Công đoàn đờng sắt Việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
Đề tài đợc hoàn thành với sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo trong cơ
quan Công đoàn ngành đờng sắt, sự hớng đẫn tận tình của đồng chí trởng ban tổ
chức Công đoàn đờng sắt Việt nam cùng toàn thể các Thầy cô trong khoa, đặc
biệt là dới sự hớng dẫn trực tiếp của Thầy giáo Nguyễn Anh Tuấn phó trởng
khoa Công đoàn Trờng Đại học Công đoàn.
Mặc dù sự hớng dẫn tận tình của quý cơ quan đơn vị, tập thể và các cá nhân,
bản thân em cũng cố gắng học hỏi và nghiên cứu. Song do nội dung của đề tài
quá rộng, khả năng bản thân còn hạn chế, thời gian nghiên cứu tìm hiểu lại không
nhiều, do vậy khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế, em xin chân
thành cảm ơn và em rất mong nhận đợc sự chỉ đạo của các đồng chí trong cơ
quan Công đoàn đờng sắt Việt nam cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo để khoá
luận của em đợc hoàn thiện hơn và có thể đa vào thực tế để áp dụng.
Sinh viên thực hiện:
Phạm Hoài Phơng
3
Phần thứ nhất
2. Trích: V.I Lênin toàn tập tiếng việt, Tập 4 NXB tiến bộ Matxcơva 1974, trang473.
Stalin chỉ ra rằng Giai cấp công nhân phải tự đào tạo lấy những ngời kỹ
thuật, trí trức riêng của mình trong sản xuất, những ngời có thể tự bảo vệ quyền
lợi của giai cấp công nhân tức là của giai cấp thống trị trong sản xuất. Không một
giai cấp thống trị nào không cần đến những ngời trí thức của mình.
(3)
2. Vị trí, tầm quan trọng của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng.
Cán bộ là ngời đem chủ trơng đờng lối của Đảng và chính phủ tuyên truyền
cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vớng mắc của dân
chúng phản ánh lại cho Đảng và Nhà nớc để Đảng và nhà nớc định ra chính sách
cho đúng.Thực chất cán bộ là ngời giữ một chức vụ nào đó trong tổ chức. Do đó,
nói đến cán bộ là nói đến chủ thể hành động, nói đến nhân tố quyết định con ng-
ời. Cán bộ là khâu then chốt, khâu trọng yếu trong toàn bộ, trớc hết là đội ngũ
lãnh đạo, quản lý là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, quyết định
vận mệnh của đất nớc. Ngay từ ngày đầu thành lập Đảng, LêNin rất coi trọng
công tác cán bộ, ngời trực tiếp chỉ đạo tổ chức, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán
bộ chuyên nghiệp, của Đảng một cách thờng xuyên, phù hợp với yêu cầu từng
giai đoạn phát triển của cách mạng. Lấy đội ngũ cán bộ để làm nòng cốt tiến
hành cuộc cách mạng tháng Mời thành công, lật đổ chế độ Nga Hoàng, thiết lập
chính quyền xô viết và lãnh đạo xây dựng đất nớc. Từ thực tiễn cách mạng Lê
Nin đã khẳng định nghiên cứu con ngời, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện
nay đã là then chốt, nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định xã hội
chỉ là mớ giấy lộn.
(4)
Stalin cũng cho rằng con ngời cán bộ là những vốn quý nhất, có ý nghĩa
quyết định nhất, trong tất cả những vốn quý ở trên đã nêu biết rằng cán bộ quyết
định hết thảy
(5)
.
trách, đồng thời có khả năng am hiểu chuyên môn kỹ thuật có liên quan giúp cho
công tác nghiệp vụ của mình mà tổ chức giao phó.
Việc lựa chọn cán bộ có những căn cứ là cơ sở tiêu chuẩn để lựa chọn trên
những công việc cụ thể, bố trí sử dụng cán bộ. Vì vậy phải xuất phát từ thực tế từ
quá trình hoạt động của quần chúng, đợc trởng thành từ phong trào giáo dục và
đào tạo, qua thử thách tuyển chọn, đề bạt, sàng lọc cán bộ thì việc tuyển chọn cán
bộ sẽ đúng ngời đứng việc, thực sự là vấn đề quyết định thành công của tổ chức.
Lê Nin chỉ ra rằng: Hết sức bền bỉ, hết sức thận trọng, chúng ta chú ý tìm
cho ra và lấy công tác để thử thách những nhà tổ chức thực sự, những ngời có óc
sáng suốt và có bản lĩnh thực tiễn, những con ngời vừa trung thành với chủ nghĩa
6
6. Trích: Lê Nin toàn tập NXB tiến bộ, Matxcơva, năm 1974, trang 347.
xã hội vừa có khả năng lặng lẽ khơi đà cho công tác (Mặc dù sự ổn định và hỗn
loạn của ngời khác), công tác mà số đông những ngời trong phạm vi tổ chức Xô
Viết đều kiên quyết và đồng lòng cùng làm. Đó là những ngời mà sau khi chúng
ta đã thách thức họ đến hàng chục lần bằng cách cho ho trải qua những nhiệm vụ
đơn giản nhất đến những nhiệm vụ khó khăn nhất, chúng ta sẽ đề bạt họ lên
những trọng trách lãnh đạo của nhân dân, trọng trách lãnh đạo của công tác quản
lý
(7)
.
Vấn đề Lựa chọn nhân tài và kiểm tra việc chấp hành (Lê Nin) là một
nguyên tắc và nhiệm vụ của Đảng và chính quyền. Coi đây là nhiệm vụ thờng
xuyên quan tâm hàng đầu của tổ chức cán bộ. Trên cơ sở đó có kế hoạch xây
dựng đội ngũ cán bộ đầy đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, đáp ứng
với nhu cầu của sự nghiệp cách mạng đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dỡng
quy hoạch cán bộ cho tổ chức.
4. Đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ văn hoá
khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý cho cán bộ là nhiệm vụ thờng xuyên.
thần trách nhiệm và giải quyết những hoàn cảnh khó khăn, tôn trọng phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động, luôn chăm lo đến lợi ích quần chúng, có
tinh thần tập thể cao, thơng yêu đoàn kết với đồng bào, đồng chí, có tính tổ chức
kỹ luật tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô t , khiêm tốn giản dị, không ngừng
học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất và năng lực công tác của bản thân
(8)
. Lấy
chủ nghĩa Mác Lê Nin và t tởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành
động. Đảng ta vận dụng những quan điểm đó một cách sáng tạo khoa học vào
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.
Vận dụng và bổ sung vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin đó
là t tởng Hồ Chí Minh ngời đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta, nhờ đó trong
suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống thù trong giặc ngoài và xây dựng chủ nghĩa
xã hội Đảng ta luôn chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ, đáp ứng với yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
II. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản
Việt Nam về cán bộ và công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ.
8
8. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ NXB Sự thật 1974, Trang26.
1. Tầm quan trọng của cán bộ và công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ.
Công tác cán bộ chính là việc xác định các tiêu chuẩn cho mỗi chức danh,
tuyển chọn cán bộ theo tiêu chuẩn, lên kế hoạch đào tạo, bồi dỡng, bổ nhiệm cán
bộ. Vì lẽ đó, từ khi ra đời đến nay Đảng luôn xem công tác cán bộ là một vấn đề
quan trọng, giữ vị trí quan trọng đối với toàn sự nghiệp cách mạng của mình.
Đảng đã từng bớc xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ sức thực hiện nhiệm vụ
trong từng giai đoạn Cách mạng. Thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên đó, Đảng
lãnh lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng những kẻ thù xâm lợc hung bạo nhất trong
lịch sử giành lại độc lập tự do, thống nhất đất nớc, tiến hành xây dựng chủ nghĩa
xã hội, bảo vệ vững chắc tổ quốc đa đất nớc bớc sang một kỷ nguyên mới công
chính trị một đội ngũ cán bộ có đầy đủ năng lực, phẩm chất công tác có hiệu quả
và là tiền đề định hớng cho công tác đào tạo, bồi dỡng quy hoạch cán bộ.
Tiêu chuẩn ngời cán bộ mà chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đối với cán bộ, có
thể áp dụng trong mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam là: có lòng trung
thành với sự nghiệp Cách mạng của Đảng của nhân dân, có tinh thần cao, hoàn
thành tốt nhiệm vụ đợc giao. Cần kiệm liêm chính chí công vô t, khiêm tốn giản
dị, không ngừng học tập nâng cao trình độ năng lực, phẩm chất của bản thân
(10)
.
Để hoàn thành mọi nhiệm vụ đợc giao, để ngời cán bộ thực sự là ngời lãnh đạo và
là ngời đầy tớ trung thành của dân thì ngời cán bộ phải:
có đạo đức có tài, có phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo trong đó
đức là gốc. Ngời nhấn mạnh: cái làm nền tảng trớc hết là đạo đức cách mạng,
ngời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành
nhiệm vụ cách mạng một cách vẻ vang. Ngời nghiêm khắc phê phán những biểu
hiện của chủ nghĩa cá nhân, Ngời đặc biệt coi trọng việc giữ gìn và nâng cao đạo
đức Cách mạng.
Công tác cán bộ nói chung, tiêu biểu cán bộ nói riêng, có vai trò quyết định
thực hiện thắng lợi mục tiêu, đòi hỏi ngời cán bộ trong tình hình hiện nay:
+ Có tinh thần yêu nớc sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và CNXH.
10
9.10. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ NXB Sự thật 1974, Trang26.
+ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô t, không tham nhũng và cơng quyết
đấu tranh chống tham nhũng.
+ Có trình độ hiểu biết lý luận chính trị quan điểm đờng lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nớc.
+ Năng động sáng tạo dám nghĩ, dám làm, giám chịu trách nhiệm.
Các tiêu chuẩn có mối quan hệ mật thiết với nhau coi trọng cả đức và tài đợc
những khuyết điểm cho họ. Thờng chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng ngời .
Đào tạo, bồi dỡng ngời cán bộ đáp ứng đợc yêu cầu nhiệm vụ cách mạng từ
đó cung cấp những cán bộ u tú cho Đảng để không bao giờ thiếu cán bộ.
Hồ Chí Minh căn dặn: Phải dùng lòng nhân ái để giúp đỡ lãnh đạo cán bộ
luôn luôn kiểm tra và để thúc đẩy giáo dục cán bộ các cơ quan, lãnh đạo hiểu cán
bộ để có thể đào tạo, bồi dỡng, bố trí sử dụng cán bộ có kết quả cao nhất.
3. Những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công
tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ.
Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII về
chiến lợc cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
đã xác định : Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của Cách mạng gắn liền
với vận mệnh của Đảng, của đất nớc và của chế độ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngời lãnh đạo cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam, t tởng của Ngời về cán bộ đặt trên nền cán bộ là gốc của mọi công
việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng
(12)
.
Có nghĩa là muốn thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng cần có đội ngũ cán bộ
cách mạng và xem xét mọi vấn đề liên quan đến cán bộ và công tác cán bộ gắn
với nhiệm vụ của Cách mạng do đó Đảng thờng xuyên quan tâm đến công tác
đào tạo, bồi dỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời
kỳ.
3.1. Công tác cán bộ gắn với đờng lối và nhiệm vụ chính trị.
Vấn đề cán bộ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với đờng lối chính trị, với tổ
chức, với phong trào cách mạng của quần chúng, trong những mối quan hệ ấy cán
bộ vừa là "quả" vừa là "nhân" của phong trào . Bởi vì ngời cán bộ có vai trò trong
sự nghiệp Cách mạng của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân.
12
12. Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ NXB Sự thật 1974, Trang26.
tổ chức phải dựa trên cơ sở đầy đủ các yếu tố cơ bản để nhằm thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ đặt ra.
3.3. Công tác cán bộ phải gắn liền với phong trào cách mạng của quần
chúng.
Phong trào Cách mạng là toàn bộ hoạt động xã hội của các tổ chức đoàn
thể trong hệ thống tổ chức chính trị- xã hội phong trào Cách mạng của quần
chúng và công tác cán bộ có mối quan hệ "cán bộ xây dựng phong trào, phong
trào đẻ ra cán bộ đó là quy luật khi nói về cán bộ".
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phong trào Cách mạng là do quần
chúng nhân dân sáng tạo, nhằm xoá bỏ cái cũ, cái lạc hậu để xây dựng cái mới,
cái tiến bộ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động. Phong hoạt động cách mạng của quần chúng và công tác cán bộ có mối
quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Phong trào Cách mạng quần
chúng là cái nôi sản sinh, nuôi dỡng, rèn luyện tốt cán bộ cho Đảng. Không có
đội ngũ cán bộ tốt thì không xây dựng và duy trì đợc phong trào Cách mạng của
quần chúng và cũng không thể có phong trào Cách mạng sôi nổi liên tục nếu
không có đội ngũ cán bộ tốt. Cán bộ có đầy đủ bản lĩnh và năng lực sẽ thúc đẩy
phong trào đi lên. Vì vậy muốn có đội ngũ cán bộ tốt thì khi tiến hành công tác
cán bộ thì phải lấy cán bộ trởng thành từ phong trào Cách mạng quần chúng để
đào tạo, bồi dỡng, nhiệm vụ vào cơng vị của tổ chức.
3.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ dựa trên cơ sở giữ vững và tăng cờng bản
chất giai cấp công nhân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin t tởng Hồ
Chí Minh.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi d-
ỡng lập trờng quan điểm của giai cấp công nhân. Coi sự nghiệp Cách mạng là của
giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là lực lợng sản xuất chính trong giai đoạn
hiện nay. Giáo dục chủ nghĩa Mác -Lênin, t tởng Hồ Chí Minh là giáo dục cho
giai cấp công nhân viên chức, lao động nắm đợc triết học Mác- Lênin, chỉ cho
giai cấp công nhân về hoạt động đấu tranh giai cấp và quy luật vận động phát
15
- Đào tạo lại: Những ngời đã đợc đào tạo, song do quá trình phát triển của
xã hội, của công nghệ mới và yêu cầu của tiến trình sản xuất công tác sẽ phải đào
tạo thêm một số học phần để hoàn chỉnh kiến thức nâng cao trình độ đáp ứng nhu
cầu đặt ra.
- Tự đào tạo: Là quá trình tự thân vận động để lĩnh hội kiến thức hoặc tham
gia hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra những kinh nghiệm. Một ng-
ời đang tham gia hình thức đào tạo kiến thức nào cũng phải biến quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo thì mới đạt kết quả đào tạo. Những ngời có nhu cầu và
khẳ năng học tập mà không có khẳ năng đến trờng lớp, có thể tự đào tạo các ch-
ơng trình đào tạo từ xa, tự học có hớng dẫn, qua các phơng tiện thông tin
đại chúng hoặc tự mình tìm kiếm học tập để nâng cao trình độ.
* Bồi dỡng: Là tăng cờng thêm về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm để
nâng cao chất lợng, nâng cao năng lực sản xuất, công tác cho ngời học. Thời gian
tổ chức bồi dỡng thờng ngắn hơn so với đào tạo. Đối tợng tham gia học tập đã có
ít nhiều về ngành nghề chuyên môn nhất định. Các dạng bồi dỡng là: Bồi dỡng
kiến thức, bồi dỡng kỹ năng, bồi dỡng chuyên đề
2. Đào tạo, bồi dỡng nâng cao kiến thức cho cán bộ và cán bộ Công đoàn.
Mỗi ngời cán bộ là một tấm gơng cho quần chúng noi theo về lòng trung
thực với lý tởng XHCN, về tính tổ chức và tính kỷ luật nghiêm ngặt nhất, về nhiệt
tình cách mạng sôi nổi, say sa trong công tác. Điều đó đòi hỏi bản thân mỗi cán
bộ những nỗ lực thờng xuyên và lớn nhất, một tinh thần trách nhiệm nghiêm túc
trong việc tự trau dồi, rèn luyện để không ngừng nâng cao kiến thức ngang tầm
đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ. Việc nâng cao trình độ kiến thức cho cán
bộ, Đảng viên là điều hết sức cần thiết. Thông qua công tác đào tạo, bồi dỡng,
cán bộ đợc nâng cao trí tuệ, hiểu biết quy luật vận động, nắm bắt đợc thực tiễn.
Thực tế đã khẳng định trình độ học vấn, trình độ chính trị và trình độ giác
ngộ cách mạng của cán bộ càng cao thì chất lợng của cán bộ đó càng cao. Do đó
mọi cán bộ không kể cơng vị công tác nh thế nào, không kể là cán bộ lâu năm
đoàn không chuyên trách, từ uỷ viên ban chấp hàng Công đoàn trở lên, nhất là
17
cán bộ mới tham gia hoạt động ban chấp hành Công đoàn lần đầu, đợc tập huấn
về nội dung và phơng pháp hoạt động Công đoàn.
- Mỗi cán bộ Công đoàn phải có kế hoạch tự học tập, bồi dỡng, rèn luyện để
nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và trình độ
văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học.
3. Tình hình đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ Công đoàn.
* Về công tác cán bộ:
Dự thảo các văn kiện Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ về
thực trạng và chiến lợc cán bộ nh sau:
Trình độ kiến thức và năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cha theo kịp
yêu cầu của thời kỳ mới; việc đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng còn chậm,
một số tổ chức Đảng và các cơ quan Nhà nớc để xãy ra những mâu thuẫn với
nhân dân, chậm đợc giải quyết, gây bất bình trong nhân dân; tổ chức chỉ đạo thực
hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nớc cha tốt.
Để đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới; công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đảng đã đặt ra chiến lợc cán bộ: Xây dựng cho
đợc đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới, trớc hết là đội ngũ cốt cán của Đảng và
Nhà nớc các cấp, đặc biệt là ở cấp chiến lợc, thực sự vững vàng về chính trị, có
bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Các cấp uỷ và tổ chức Đảng
phải làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, vừa đáp ứng yêu cầu trớc
mắt, vừa chuẩn bị đội ngũ cán bộ lâu dài; hàng năm có đánh giá, bổ sung, điều
chỉnh quy hoạch.
Đổi mới việc đánh giá, bồi dỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở dựa
vào tiêu chuẩn, chú trọng cả phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực trí
tuệ và hoạt động thực tiễn của cán bộ, lấy hiệu quả công tác làm thớc đo chủ yếu;
có phơng pháp khoa học, khách quan, công tâm, theo một quy trình chặt chẽ dựa
vào nhân dân để nhân dân giới thiệu, góp ý và giám sát cán bộ
Đội ngũ cán bộ Công đoàn bao gồm cán bộ lãnh đạo và cán bộ thực hiện,
cán bộ chuyên trách và không chuyên trách công tác Công đoàn.
19
Cán bộ lãnh đạo ở các cấp Công đoàn đợc bầu cử dân chủ từ dới lên hoặc do
bổ nhiệm. Trong đó, một bộ phận chuyên trách Công đoàn, còn phần lớn hoạt
động không chuyên trách, thực hiện vai trò đại diện cho ngời lao động theo
nhiệm kỳ và sự tín nhiệm của quần chúng.
- Cán bộ thực hiện chủ yếu là cán bộ chuyên trách ở các cơ quan Công đoàn,
làm công tác phong trào, chuyên môn, nghiệp vụ
- Ngoài ra còn có lực lợng công nhân viên chức chuyên nghiệp phục vụ
trong các cơ quan Công đoàn.
4. Quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn.
Nghị quyết số 05/NQ-TLĐ khoá VIII ngày 30 tháng 11 năm 2000 đã đa ra
phơng hớng xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ Công đoàn nh sau:
- Xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ
của tổ chức trong thời kỳ mới. Từ đó, phải xây dựng một đội ngũ cán bộ Công
đoàn chuyên trách đủ về số lợng có trình độ, năng lực, phẩm chất, có bản lĩnh để
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn.
- Quán triệt quan điểm về giai cấp công nhân, quan điểm về công tác cán bộ
nữ của Đảng trong xây dựng độ ngũ cán bộ và công tác cán bộ Công đoàn.
Nâng cao giác ngộ giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ Công đoàn các
cấp, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào Công đoàn để lựa chọn cán bộ,
đào tạo cán bộ Công đoàn.
- Công tác cán bộ phải thực hiện đồng bộ các mặt từ tuyển chọn, bố trí, phân
công công tác, quy hoạch đào tạo, bồi dỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, đánh giá,
quản lý, khen thởng, kỷ luật, nghỉ hu và thực hiện chính sách cán bộ.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn là trách nhiệm của cấp Đảng và Nhà
nớc, của các cấp Công đoàn và của mỗi ngời cán bộ. Hết sức tôn trọng việc tự
học tập, bồi dỡng nâng cao trình độ của mỗi cán bộ Công đoàn, kết hợp chặt chẽ
21
- Công đoàn phải tuyên truyền đờng lối chính sách của Đảng và giáo dục
cho công nhân về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng.
Theo Hồ Chí Minh, Đảng ta là của giai cấp công nhân Việt Nam. Không có
Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng đợc, Đảng mà không có giai cấp công
nhân thì cũng không làm đợc gì. Bởi thế Công đoàn phải hiểu và tuyên truyền
sâu rộng chính sách chung của Đảng trong hàng ngũ giai cấp công nhân. Công
đoàn phải giáo dục cho giai cấp công nhân thái độ của ngời làm chủ nớc nhà, làm
cho công nhân phải hiểu đợc rằng tơng lai của công nhân và tơng lai của xí
nghiệp phải dính liền
(13)
. Công nhân phải bảo vệ chế độ của ta, phải hiểu lao
động là vẻ vang, phải tự nguyện, tự giác giữ kỷ luật lao động, giữ gìn của công,
chống tham ô lãng phí. Cải thiện sinh hoạt phải dựa trên cơ sở tăng gia sản xuất
và thực hành tiết kiệm. Công tác giáo dục phải gắn với nhiệm vụ cụ thể, tránh
chung chung chính trị suông.
- Công đoàn phải vận động quần chúng lao động tham gia xây dựng nề kinh
tế quốc dân.
Hồ Chí Minh khẳng định rằng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất
phát thấp, từ sản xuất nhỏ, từ hai bàn tay trắng đi lên nên còn khó khăn rất nhiều
và lâu dài, cho nên Công đoàn cần thấy hết tình hình khách quan đó mà ra sức
vận động công nhân, lao động sản xuất, đi đôi với thực hành tiết kiệm, vợt mọi
khó khăn để xây dựng CNXH. Trên cơ sở đó cải thiện dần đời sống công nhân,
nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân
nói chung.
- Muốn cho phong trào Công đoàn mạnh cần có cán bộ Công đoàn tốt.
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ Công đoàn phải là ngời hiểu biết sản xuất, đời
sống, nguyện vọng của công nhân viên chức; phải hiểu chính sách của Đảng, phải
hiểu về quản lý kinh tế khoa học kỹ thuật. Cán bộ Công đoàn Phải giỏi cả về
chính trị, thạo về kinh tế
- Sự phát triển với tốc độ cao của khoa học công nghệ ảnh hởng lớn đến việc
nâng cao trình độ mọi mặt của công nhân, lao động nhất là đổi mới t duy, nhận
thức về lợi ích và nghĩa vụ.
- Sự đổi mới về kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị đặt ra những vấn đề mới
về sự đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo cuả Đảng, năng lực quản lý của Nhà
nớc, tổ chức và hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội nhằm tạo nên sự
đồng bộ của hệ thống chính trị của đất nớc.
23
13, 14, 15. Hồ Chí Minh tuyển tập NXB sự thật Hà Nội 1960, trang 814.
- Điều kiện hoạt động của Công đoàn (Về kinh phí, thời gian, vật chất, cơ
cấu cán bộ ) là thách thức lớn đối với tổ chức Công đoàn.
3. Công tác cán bộ và đào tạo, bồi dỡng cán bộ Công đoàn hiện nay.
+ Về số lợng:
Lực lợng cán bộ Công đoàn của chúng ta bao gồm: Cán bộ Công đoàn
chuyên trách và cán bộ Công đoàn không chuyên trách. Hiện nay toàn hệ thống
Công đoàn có gần 7000 cán bộ Công đoàn chuyên trách và khoảng 280000 cán
bộ Công đoàn không chuyên trách. Nh vậy, số lợng cán bộ Công đoàn không
chuyên trách chiếm rất ít ( 2,4%) so với tổng số cán bộ Công đoàn trong hệ
thống, nhng đây là lực lợng đóng vai trò hết sức quan trọng cần đợc đào tạo toàn
diện những kiến thức về kinh tế và các cơ quan đơn vị.
Đội ngũ cán bộ Công đoàn không chuyên trách có đặc thù là luôn có sự thay
đổi, thậm chí thay đổi rất nhanh vì vậy phải nghiên cứu hình thức đào tạo, bồi d-
ỡng cho phù hợp với đặc thù này.
+ Về chất lợng:
Hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khoá
VII đã xác định tiêu chuẩn chung của cán bộ Công đoàn là: Có quan điểm chính
trị vững vàng, nhiệt tình công tác Công đoàn; có kiến thức về quản lý kinh tế
xã hội, luật pháp, hiểu biết về chuyên môn ngành nghề, nắm vững lý luận, kỹ
năng và nghiệp vụ công tác Công đoàn, có năng lực hoạt động thực tiễn; trung
những ngời có phẩm chất đạo đức, tin tởng biết vận dụng đờng lối của Đảng và
phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn, tích cực học tập nâng cao trìng độ
mọi mặt, từng bớc thích nghi với điều kiện hoạt động Công đoàn trong nền kinh
tế thị trờng. ở một số cấp Công đoàn đội ngũ cán bộ Công đoàn đã đợc trẻ hoá.
Trình độ văn hoá chuyên môn nghiệp vụ đợc năng cao rõ rệt. Theo thống kê
tính đến tháng 1 năm 2002 cho kết quả nh sau:
Lực lợng cán bộ xuất thân từ công nhân: 45%
Độ tuổi bình quân của cán bộ Công đoàn : 45tuổi.
Qua biểu thống kê nhận thấy chất lợng đội ngũ cán bộ Công đoàn các cấp
tuy đã đợc nâng lên nhng nhìn chung cha đợc đồng đều, trình độ mọi mặt cha
25