LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp
với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, sự nỗ lực cố gắng của bản
thân. Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy,
cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho
tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
đến Thầy giáo, Phó Giáo sư - . Tiến sỹ Trần Hữu Dào là người trực tiếp hướng
dẫn khoa học, Thầy đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
tỉnh Thanh Hóa. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện , Lãnh đạo và chuyên viên các
phòng thuộc huyện Quảng Xương: Lao động - Thương binh và Xã hội, Thống kê,
Tài chính - Kế hoạch, Kinh tế và Hạ tầng, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nội
vụ, Tài nguyên và Môi trường; Các tổ chức Đoàn thể huyện Quảng Xương; Ngân
hàng Chính sách xã hội huyện; UBND xã Quảng Thái, UBND xã Quảng Khê và
nhân dân trả lời phiếu phỏng vấn đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn động viên, khích
lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những
khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng
nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn. Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với
tình hình thực tế. Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
2.2.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài.................................44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................47
3.1. Thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm ở huyện Quảng Xương......47
3.1.1. Thực trạng chung về lao động, việc làm, giải quyết việc làm và thu nhập
của lao động ở khu vực nông thôn huyện Quảng Xương.................................47
3.1.2. Thực trạng giải quyết việc làm ở các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế
cá thể...............................................................................................................52
3.1.3. Giải quyết việc làm thông qua triển khai các chương trình, dự án..........55
3.2. Thực trạng giải quyết việc làm và thu nhập của lao động nông thôn tại các
địa điểm khảo sát...................................................................................................65
3.2.1. Thông tin chung về điều tra....................................................................65
3.2.2. Thực trạng lao động trong vùng điều tra................................................65
3.2.3. Thực trạng việc làm trong vùng điều tra.................................................68
3.2.4. Thu nhập và mức sống của lao động ở các điểm khảo sát......................72
3.2.5. Nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động khu vực nông thôn........73
3.2.6. Các nhân tố khác....................................................................................81
3.2.7. Kiến nghị của lao động trong vùng khảo sát về GQVL cho lao động
nông thôn........................................................................................................81
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động ở huyện Quảng Xương................................................................82
3.3.1. Đất đai và tình hình sử dụng đất.............................................................82
3.3.2. Cơ sở hạ tầng và sự áp dụng khoa học kỹ thuật......................................83
3.3.3. Tình hình sử dụng vốn............................................................................83
3.3.4. Lực lượng lao động................................................................................84
3.3.5. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế......................................................................85
3.3.6. Thị trường tiêu thụ..................................................................................85
3.3.7. Cơ chế chính sách của địa phương.........................................................85
3.4. Đánh giá chung về lao động, việc làm và thu nhập ở khu vực nông thôn
Công ty cổ phần
Doanh nghiệp
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
DPPR
Chương trình phân cấp giảm nghèo – Decentralised
Programme for Poverty Reduction
Đơn vị tính
Đvt
GQVL
Giải quyết việc làm
HĐH
Hiện đại hóa
HTX
Hợp tác xã
IFAD
Quỹ Quốc tế phát triển nông nghiệp - International Fund
for Agricultural Development
SX
Sản xuất
SXKD
Sản xuất kinh doanh
UBND
Ủy ban nhân dân
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 2.4:
Bảng 2.5:
Bảng 2.6:
Bảng 2.7:
Bảng 3.1.
Thống kê GQVL ở các doanh nghiệp trên địa bàn huyện..................52
Thống kê GQVL ở các cơ sở kinh tế cá thể.......................................55
Tổng hợp vay vốn quốc gia GQVL qua các năm...............................59
Tổng hợp hộ nghèo trên địa bàn huyện theo chuẩn giai đoạn 2012 – 2014..61
Đào tạo nghề cho lao động của huyện qua các năm...........................63
Xuất khẩu lao động qua các năm.......................................................64
Tổng hợp phiếu điều tra số liệu thực tế..............................................65
Trình độ văn hóa của lao động trong vùng khảo sát...........................66
Trình độ CMKT của lao động trong vùng khảo sát............................67
Lĩnh vực sản xuất trong vùng điều tra...............................................68
Thời gian làm việc của người lao động trong vùng điều tra...............70
Nguyên nhân thiếu việc làm tại vùng khảo sát..................................71
Làm thêm của người lao động...........................................................72
Thu nhập của lao động trong vùng điều tra........................................73
Ảnh hưởng của trình độ CMKT đến việc làm và thu nhập của người
lao động.............................................................................................75
Ảnh hưởng của vốn vay sản xuất đến việc làm và thu nhập của người
lao động.............................................................................................77
Ảnh hưởng của độ tuổi đến việc làm và thu nhập của người lao động....80
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Lĩnh vực sản xuất trong vùng điều tra...............................................69
Biểu đồ 3.2: Kiến nghị của lao động về GQVL.......................................................82
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc
vấn đề đòi hỏi cấp thiết và mang ý nghĩa thiết thực.
Nhận thấy được tính chất phức tạp, quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm
ở nông thôn, tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Giải pháp giải quyết việc làm cho lao
động khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa”
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất giải pháp chủ yếu góp phần giải quyết việc làm cho lao động khu vực
nông thôn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho
lao động khu vực nông thôn;
(2) Đánh giá được thực trạng giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông
thôn trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa ;
(3) Đề xuất được các giải pháp tạo việc làm cho lao động khu vực nông thôn
trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Việc làm và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn trên địa bàn
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Đối tượng khảo sát:
+ Các tổ chức sử dụng lao động trên địa bàn( Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
kinh doanh, Hợp tác xã...);
+ Các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn
+ Lực lượng lao động khu vực nông thôn trên địa bàn;
+ Các cơ quan quản lý về lao động việc làm trên địa bàn.
3
phát triển xã hội thông qua quá trình làm việc của mình, quá trình làm việc này
được thể hiện qua hai yếu tố chủ quan và khách quan đó là sức lao động của người
lao động và tất cả các điều kiện tối thiểu cần thiết để người lao động sử dụng sức
lao động của họ tác động lên tư liệu sản xuất và tạo ra sản phẩm xã hội. Quá trình
kết hợp sức lao động và các điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động là quá trình
người lao động làm việc. Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao
động trong công việc.[19]
Theo điều 9, chương II – Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2012: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm”
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai
điều kiện:
Thứ nhất, hoạt động lao động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao
động và các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn
mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập và việc làm. Hoạt động đem lại thu nhập được lượng
hóa dưới các dạng như:
- Người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật từ
người sử dụng lao động.
- Tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản
thân người lao động làm chủ.
5
- Đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó
là thành viên của hộ gia đình hoặc hộ gia đình quản lý.
Thứ hai, hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ
tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề
và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong
quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay
được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự
nhằm mục đích tạo ra thu nhập và hoạt động này không bị pháp luật ngăn cấm. Theo
quan điểm này thì việc làm có thể hiểu là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa
sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xất ra của cải vật chất
và tinh thần cho xã hội. Theo quan điểm này việc làm có những đặc trưng sau:
- Việc làm là sự biểu hiện giữa hai yếu tố sức lao động (V) và tư liệu sản xuất (C).
- Việc làm mang lại lợi ích cho xã hội ( lợi ích vật chất và tinh thần)
- Việc làm đó là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc
những phương tiện mà họ sử dụng để thực hiện hoạt động. Sự phù hợp được thể
hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng. Trạng thái phù hợp này có thể được biểu
hiện bằng mối quan hệ: C/V
Trong đó:
C: Số đơn vị tư liệu sản xuất
V: Số đơn vị lao động
Từ những đặc trưng trên có thể thấy ở đâu có sự phù hợp của hai yếu tố sức
lao động và tư liệu sản xuất (hay phương tiện sản xuất) thì ở đó có việc làm. Trạng
thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất chỉ có tính chất tương đối và
thường xuyên thay đổi do tiến bộ khoa học kỹ thuật hay trình độ phát triển của quan
hệ sản xuất, theo hướng một đơn vị lao động sống sẽ vận hành ngày càng nhiều hơn
số lao động vật hóa. Khi chuyển từ trạng thái phù hợp này sang trạng thái phù hợp
khác, thông thường sẽ giảm bớt chi phí lao động, từ đó dẫn đến tình trạng thất
nghiệp và thiếu việc làm.
Tóm lại, từ những khái niệm trên, trong điều kiện hiện nay có thể hiểu việc
làm như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu
7
nhập hoặc lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng
nào đó.
1.1.1.2. Người có việc làm
Với cách hiểu chung nhất là người có việc làm là người đang có hoạt động
nhưng không tìm được việc làm.
- Phân loại:
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian,
thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao
động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động
thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn.
Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian
ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm
việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thước đo của thiếu việc làm hữu hình là:
Số giờ làm việc thực tế
=
K
Số giờ quy định
x 100% (Tính theo ngày,
tháng, năm)
1.1.1.4. Thất nghiệp
a. Khái niệm
Theo "Thực trạng lao động việc làm" của Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội: “Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có khả năng lao
động trong trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu về việc làm nhưng
không tìm được việc làm”.[24]
Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Thất nghiệp (theo
nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động
muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có
nghiệp tạm thời.
- Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại hình thất nghiệp xảy ra đối với một bộ
phận lao động xã hội, khi mà với mức tiền công nào đó người lao động đã chấp
nhận làm việc, nhưng vẫn không được làm. Lý do dẫn đến tình trạng thất nghiệp
này là do kinh tế suy thoái, cung về lao động lớn hơn cầu về lao động.
10
- Thất nghiệp trá hình: Là loại hình thất nghiệp, khi người lao động được sử
dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường. Hiện tượng thất nghiệp này xảy ra khi
năng suất lao động của một ngành nào đó thấp, người lao động không thể sử dụng
hết thời gian làm việc của họ theo quy định của Luật lao động.
Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành :
- Thất nghiệp theo giới tính: Là loại hình thất nghiệp theo nam hoặc nữ.
- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó trong
tổng số lực lượng lao động.
- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là thất nghiệp xẩy ra thuộc vùng lãnh
thổ nhất định (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi..).
- Thất nghiệp theo ngành nghề: Là thất nghiệp trong một ngành nghề nào đó.
Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên người ta có thể chia thất nghiệp theo dân
tộc, chủng tộc, tôn giáo...
1.1.1.5. Tạo việc làm
a. Khái niệm
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra sản xuất hàng hóa và
dịch vụ theo kịp yêu cầu thị trường [26,27]
Tạo việc làm là hoạt động kiến thiết cho người lao động có được một công
việc cụ thể mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm. Người tạo ra
công việc cho người lao động có thể là chính phủ thông qua các chính sách, có thể
là một tổ chức hoạt động kinh tế, các cá nhân, thông qua các hoạt động thuê mướn
1.1.1.7. Vai trò của việc làm đối với người lao động và người lao động ở nông thôn
* Vai trò của việc làm đối với người lao động
- Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng đối với phát
triển kinh tế, xã hội. Bởi vì, một xã hội có kinh tế xã hội phát triển phải là xã hội có
đầy đủ việc làm cho người lao động. Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, bất kỳ một
sự phát triển nào trong kinh tế cũng là kết quả của sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản,
đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động, quá trình này cũng là quá
trình tạo việc làm cho lao động trong xã hội. Bản thân tư liệu sản xuất tự nó không
thể tạo ra các sản phẩm cho con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của
12
sức lao động. C.Mac và P.Ăng Ghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và
các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải
vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất
cả các hoạt động của con người [23]
- Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yêu
cầu khách quan đối với người lao động, bởi con người muốn tồn tại phải tiêu dùng
một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập, phương
tiện đi lại... Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô
ngày càng mở rộng. Như vậy, con người bằng sức lao động của mình đã tạo ra giá
trị hàng hoá dịch vụ để phục vụ chính mình. Sự phát triển kinh tế, xã hội suy cho
cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng
tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn.
- Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần
thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Vì vậy, giải quyết việc làm
không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan liên quan trực tiếp quan hệ đến lao động,
việc làm mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của bản thân người lao động và các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong xã hội. Điều 13 Bộ luật Lao động đã nêu rõ:
“Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm
và khá ổn định cho lao động ở khu vực nông thôn, góp phần giải quyết bài toán việc
làm ở khu vực nông thôn, đặc biệt là bộ phận lao động nông nhàn.
1.1.2. Cơ sở lý luận cơ bản về lao động
1.1.2.1. Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho cùng
lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật và xã
hội loài người và xã hội loài vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là
hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến
những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.
Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự
nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung
gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2]
14
Ph.Ăng-ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu
cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn
lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài
người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao
động đã sáng tạo ra bản thân loài người”.[5]
1.1.2.2. Lực lượng lao động
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong
độ tuổi lao động theo thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Theo giáo trình Kinh tế phát triển, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
(2012), ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: “Lực lượng lao động là
bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp”. Lực
lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế
(tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.
1.1.2.3. Nguồn lao động
Trong đó:
W: Là số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay là
năng suất lao động, thường được biểu diễn dưới dạng chỉ tiêu kép: Hiện vật, thời
gian hay giá trị thời gian.
Q: Là khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định.
T: Là tổng thời gian hao phí để sản xuất ra Q sản phẩm.
1.1.2.6. Lao động khu vực nông thôn
Lao động khu vực nông thôn là bộ phận dân số trong và ngoài độ tuổi lao
động, thuộc khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động.
Đặc điểm cơ bản của lao động khu vực nông thôn:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này
ảnh hưởng đến năng suất lao động và phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường
thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động.
- Lao động khu vực nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu
nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.
1.1.3. Cơ sở lý luận cơ bản về nông thôn
1.1.3.1. Khái niệm, đặc điểm của nông thôn
a. Khái niệm: Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng
chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém
phát triển hơn, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn.[13]
b. Đặc điểm nông thôn: Nông thôn nước ta hiện có 60,96 triệu người, chiếm
16
69,4% dân số cả nước (theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2011).[18] Đây thực
sự là một lực lượng lao động bị chi phối lớn trong ngành sản xuất vật chất.
Nói đến nông thôn là nói đến nông dân, những người hoạt động sản xuất
nông-lâm nghiệp. Như vậy, nông dân là tầng lớp đông đảo nhất sinh sống và làm
bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết
(tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương,...) và phần
có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận).
Tóm lại, thu nhập của người lao động là số tiền mà họ nhận được từ các nguồn
thu và họ được toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình. Ta có thể hiểu thu
nhập của người lao động là toàn bộ các khoản thu khác nhau mà người lao động có
được trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường là một tháng).
1.2. Thực tiễn về giải quyết việc làm ở nông thôn
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với gần 1,343 tỷ dân (28/4/2011)
nhưng gần 50,32% dân số ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệu lao
động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu GQVL trở lên
gay gắt hơn.
Trước đòi hỏi bức bách đó, thực tế từ những năm 1978 Trung Quốc đã thực
hiện mở cửa cải cách nền kinh tế, và thực hiện phương châm “Ly nông bất ly
hương, nhập xưởng bất nhập thành”, do đó Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính
sách phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động ở
nông thôn, rút ngắn sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, coi phát triển công
nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết vấn đề việc làm.
Những kết quả ngoạn mục về phát triển kinh tế và GQVL ở Trung Quốc đạt
được trong những năm đổi mới vừa qua đều gắn với bước đi của công nghiệp nông
thôn. Từ thực tiễn phát triển công nghiệp nông thôn, GQVL ở nông thôn Trung
Quốc thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất: Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hoá và chuyên môn hoá
18
sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, thực
hiện phi tập thể hoá trong sản xuất nông nghiệp thông qua áp dụng hình thức khoán
chỗ làm việc trong ngành công nghiệp có 3,6 người xin vào làm thì đến năm 2000
cứ một người xin việc việc thì có 3 nơi cần tuyển. Chính vì thế, tình trạng thất
nghiệp ở một nước có 100 triệu dân về cơ bản đã được giải quyết từ những năm 60.
Xét trên góc độ kinh tế nhiều tài liệu phương Tây cho biết: Nhật Bản đã duy
trì được một cơ cấu kinh tế “nhiều tầng”. Tầng trên là các công ty lớn, các xí nghiệp
lớn, các tập đoàn tài chính,… có từ 300 đến 1000 công nhân. Còn tầng dưới 300
công nhân thậm chí có xí nghiệp khoảng 10 công nhân có tính chất gia đình chiếm
51,5%. Nhật Bản mặc dù là một nước có nền công nghiệp phát triển thế nhưng họ
rất chú ý đến sự phát triển của nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh tế gia đình,
Nhật Bản đã giải quyết được mâu thuẫn lao động ít vốn mà mọi người dân đều có
việc làm, trong đó Nhà nước là người đề ra chính sách và tổ chức thực hiện.
Ngoài ra họ còn làm việc tại nhà bằng máy tính, cứ 3 người làm việc có một
người làm việc tại nhà, đối với người tàn tật nội trợ về hưu có trình độ chuyên môn
tốt không thể đến cơ quan làm việc hàng ngày có thể tham gia vào thị trường lao
động nhờ việc làm tại nhà.[3]
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giải quyết việc
làm ở nông thôn
a) Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (sau
đây gọi tắt là Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư)
Mục tiêu tổng quát của Nghị quyết là: Không ngừng nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến
nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản
xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng
vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo
hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả
trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội