ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________
PHẠM THỊ THANH HƢƠNG
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS, TS. MAI NGỌC CƢỜNG
HÀ NỘI - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của GS, TS. Chu Văn Cấp. Các số
liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách
quan. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011.
Tác giả
3.1. Mục tiêu, phương hướng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình 79
3.1.1. Bối cảnh phát triển du lịch Việt Nam trong đó có tỉnh Ninh Bình giai
đoạn 2011 - 2020 79
3.1.2. Mục tiêu và phương hướng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình 80
3.2. Giải pháp phát triển du lịch ở Ninh Bình trong thời gian tới 86
3.2.1. Đẩy mạnh việc xúc tiến tuyên truyền, quảng bá du lịch, mở rộng thị
trường khách du lịch 86
3.2.2. Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá du lịch và sản
phẩm dịch vụ du lịch 89
3.2.3. Đầu tư phát triển du lịch 91
3.2.4. Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch và
tăng cường công tác quản lý du lịch 94
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay du lịch được coi là một ngành “công nghiệp không khói”.
Vai trò của ngành du lịch được đánh giá là rất quan trọng đối với nền kinh tế
của một quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của nó tại một số quốc gia đã góp
phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế. Theo các chuyên gia kinh tế đánh
giá thì du lịch quốc tế là một loại hình xuất khẩu đặc biệt, sản phẩm và dịch
vụ được cung cấp cho người nước ngoài nhưng lại được tiêu thụ ngay tại
nước sở tại và đem lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Chính vì thế, các
nước trên thế giới rất chú trọng đầu tư phát triển du lịch, nhằm thúc đẩy kinh
tế tiến lên.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển du lịch thực sự
trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống
văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du
lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực. Xây dựng và
nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm; Đẩy mạnh
hợp tác, liên kết với các nước” [6, tr.178-179]. Phát triển quan điểm Đại hội
IX Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Khuyến khích đầu tư phát triển và nâng
cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch đa dạng hoá sản phẩm và các loại
hình du lịch” [7, tr.202]. Đại hội lần thứ XI của Đảng (2011) cũng đã
chỉ rõ: Tập trung sức phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng
tri thức và công nghệ cao, như: du lịch, hàng hải, hàng không, công nghệ
thông tin… Đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất
lượng để đạt đẳng cấp quốc tế.
Cùng với sự phát triển của du lịch cả nước, Ninh Bình một tỉnh có tiềm
năng du lịch đa dạng và phong phú, nằm ở cửa ngõ cực nam của tam giác
châu thổ Sông Hồng và miền Bắc, trên hệ thống giao thông xuyên Việt, sự
2
phát triển du lịch Ninh Bình nằm trong tổng thể phát triển du lịch của Việt
những năm tiếp theo.
Tuy nhiên du lịch Ninh Bình vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém: Tỷ lệ
khách lưu trú thấp; hoạt động du lịch chủ yếu vẫn là khai thác thiên nhiên, cơ
sở hạ tầng hạn chế; công tác tuyên truyền, quảng bá và quản lý yếu kém
Những tồn tại và yếu kém trên đã và đang là những khó khăn, trở ngại và
thách thức lớn của du lịch Ninh Bình.
Vì vậy, phân tích thực trạng du lịch ở Ninh Bình là quan trọng và cần
thiết để tìm ra mặt tích cực và mặt yếu kém; tiềm năng và khả năng phát triển
du lịch của tỉnh làm căn cứ, để đưa ra những giải pháp có tính khả thi cho sự
phát triển du lịch địa phương trong giai đoạn tới. Vì thế tác giả chọn: “Phát
triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua kinh tế du lịch của Việt Nam nói chung và của
Ninh Bình nói riêng ngày càng được chú trọng phát triển. Đã có nhiều công
trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu về du lịch ở những góc độ và khía cạnh
khác nhau, có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu:
1. Về du lịch, kinh tế du lịch và dịch vụ du lịch nói chung có các công trình:
- Rober Thanguar (1993), Kinh tế du lịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
- Trần Nhạn (1996), Du lịch và kinh doanh du lịch, Nxb. Văn hoá
Thông tin, Hà Nội.
- Luật Du lịch, năm 2005, của nước CHXHCN Việt Nam.
- Nguyễn Văn Đính (2006), Giáo trình kinh tế du lịch, Nxb. Lao động -
Xã hội, Hà Nội.
2. Các công trình nghiên cứu về du lịch, phát triển du lịch ở các địa
phương nước ta:
4
- “Kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế tiềm năng và phương hướng phát
triển” luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Hoá, 1997; Bảo vệ tại Học
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị. Vì thế
nghiên cứu “Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” dưới góc độ khoa
học Kinh tế chính trị vẫn là cần thiết và đó cũng là lý do tác giả chọn làm đề
tài luận văn thạc sỹ kinh tế của mình. Đề tài không trùng lặp với các công
trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Nghiên cứu vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam nói chung và đối với Ninh Bình nói riêng. Đánh giá đúng thực
trạng của du lịch ở Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra phương
hướng và giải pháp phát triển du lịch Ninh Bình trong thời gian tới, góp phần
vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích một số lý luận về du lịch và dịch vụ du lịch, phát triển du lịch.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch của tỉnh Ninh Bình trong
những năm qua.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du
lịch dưới góc độ kinh tế chính trị, tức là tập trung nghiên cứu: Lý luận về du
lịch, dịch vụ du lịch, xu thế phát triển du lịch…; Nghiên cứu thực trạng phát
triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian từ 2000 đến 2010, sự phát triển
du lịch ở Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
- Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Ninh Bình. Cụ thể là Sở du lịch Ninh Bình,
các tổ chức, các đơn vị kinh doanh du lịch và các khu du lịch ở tỉnh Ninh Bình.
6
Khoảng thời gian để sưu tầm thu thập số liệu, phân tích đánh giá thực
trạng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình là từ 2000 - 2010. Giai đoạn 2011 -
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Du lịch và vai trò của nó trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Du lịch và phát triển du lịch
1.1.1.1. Du lịch và dịch vụ du lịch
* Về du lịch:
- Quan niệm về du lịch.
Du lịch là một ngành kinh tế không có khói. Ngày nay, trên phạm vi thế
giới du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá
xã hội của các nước, và ngày càng trở thành một trong những hoạt động phổ
biến của con người. Đối với mỗi quốc gia đặc biệt là với các nước phát triển,
du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế quốc dân.
Do phạm vi và góc độ nghiên cứu đa dạng và phong phú, nên trên thế
giới cũng như ở Việt Nam, khái niệm du lịch được đề cập dưới nhiều góc độ
và phạm vi khác nhau. Cụ thể:
Trên phạm vi thế giới:
Kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO
(International of Union of ficial Travel organization) tại Hà Lan 1925 cho đến
nay, khái niệm du lịch được quan niệm rất khác nhau:
. Theo Ausher “Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân” [3, tr.6].
. Theo học giả người Thuỵ Sỹ - Kuns lại cho rằng: “Du lịch là hiện
tượng những người khác đi đến nơi không phải thường xuyên cư trú của họ
bằng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ du lịch” [13, tr.13].
9
mình ở” [2, tr.10].
. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng
sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ
ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá,
nghệ thuật ” [2, tr.9].
. Các nhà khoa học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra định
nghĩa du lịch sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động
tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những
doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham
quan, giải trí, tìm hiểu các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó
phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch
và cho bản thân doanh nghiệp” [13, tr.16].
. Tại điều 4 trong Luật du lịch Việt nam 2005 du lịch được hiểu như
sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [23, tr.9].
Từ sự viện dẫn các quan niệm nói trên cho thấy: có quan niệm xuất
phát từ mục đích, đặc điểm di chuyển của khách du lịch; có quan niệm lại cho
du lịch là kết quả tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội; có quan niệm lại
coi du lịch là nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tuy vậy,
tất cả các quan niệm trên đều chưa đi sâu vào bản chất của du lịch. Xuất phát
từ bản chất của du lịch có thể đưa ra định nghĩa sau về du lịch: Du lịch là một
hoạt động của con người ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm
thoả mãn những nhu cầu về mặt tinh thần như: tham quan, du ngoạn, giải trí,
nghỉ dưỡng và tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ khác trong một khoảng thời
gian nhất định.
11
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch có
+ Du lịch Văn hoá lịch sử
Theo Luật Du lịch Việt Nam, tại Điều 4: “Du lịch văn hoá lịch sử là
hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng
đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” [23, tr.11].
Như vậy, có thể coi du lịch văn hoá, lịch sử là loại hình du lịch tìm hiểu
tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp cho mọi đối tượng, vì mục đích chính
của loại hình du lịch này là nhằm nâng cao sự hiểu biết của cá nhân về mọi
lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội hoạ, chế độ xã hội, cuộc sống của
người dân cùng các phong tục, tập quán của địa phương, đất nước du lịch.
Du lịch văn hoá lịch sử được phân thành hai loại:
Du lịch văn hoá lịch sử với mục đích cụ thể: Khách du lịch thuộc thể
loại này thường đi du lịch với mục đích đã định sẵn. Thông thường họ là các
cán bộ khoa học, học sinh, sinh viên và các chuyên gia.
Du lịch văn hoá lịch sử với mục đích tổng hợp: Bao gồm đông đảo
những người ham thích mở mang kiến thức về thế giới và thoả mãn sự tò mò
của cá nhân mình.
+ Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Đây là loại hình du lịch gắn liền với mục đích nghỉ ngơi sau những
ngày làm việc căng thẳng mệt mỏi, hoặc để điều trị những bệnh tật về thể xác
và tinh thần của họ. Du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh có thể được chia thành các
loại sau:
Chữa bệnh bằng khí hậu: Khí hậu núi, khí hậu biển.
Chữa bệnh bằng nước khoáng: tắm nước khoáng, uống nước khoáng.
Chữa bệnh bằng bùn.
Chữa bệnh bằng hoa quả, chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt bằng sữa ngựa).
13
+ Du lịch thể thao
Là loại hình du lịch mà khách du lịch có thể kết hợp quá trình du lịch
với các hoạt động thể thao giải trí nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ. Có
hàng; Dịch vụ bưu chính viễn thông; Dịch vụ vận chuyển hoặc đổi tiền; Dịch
vụ y tế và các dịch vụ khác. Dịch vụ du lịch có những đặc tính của dịch vụ nói
chung:
Theo quan niệm truyền thống, dịch vụ là những hoạt động xã hội tạo ra
các sản phẩm phi vật thể. Vì thế, khác với các sản phẩm hàng hoá hữu hình,
dịch vụ không thể lưu trữ, không thể vận chuyển được mà chỉ có thể sử dụng
tại nơi sản xuất, do đó quá trình sản xuất đồng thời là quá trình tiêu dùng.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại đã thay
đổi tính chất truyền thống của dịch vụ, biến dịch vụ có tính chất hàng hoá
nhiều hơn, vừa lưu trữ và vận chuyển được đến mọi nơi, vừa có thể sử dụng
trong thời gian dài. Chẳng hạn, các sản phẩm dịch vụ như phần mềm máy tính
được sản xuất, đóng gói và bán hàng loạt trên thị trường như những hàng hoá
thông thường. Các buổi biểu diễn ca nhạc không những có thể được ghi lại
thành những đĩa CD và DVD, mà còn có thể được truyền hình trực tiếp đến
khắp nơi cho mọi người. Một trong những yếu tố khiến các sản phẩm dịch vụ
ngày càng mang tính chất hàng hoá nhiều hơn là quá trình sản xuất và cung
ứng dịch vụ ngày càng giống như quá trình sản xuất hàng hoá.
- Những đặc điểm của dịch vụ du lịch:
Ngoài tính chất truyền thống của dịch vụ nói chung, dịch vụ du lịch có
những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, Sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ
du lịch: Đặc điểm này nói lên rằng khách du lịch ở một chừng mực nào đó đã
trở thành nội dung của quá trình sản xuất. Sự gặp gỡ giữa khách hàng và
người sản xuất được định nghĩa như một sự tác động qua lại giữa hai chủ thể
15
với nhau. Sự gắn liền họ với nhau trong sự tác động qua lại này trong du lịch
được khẳng định sự phụ thuộc vào lĩnh vực lành nghề, khả năng cũng như ý
nguyện của người tiêu dùng và người cung cấp dịnh vụ. Ngoài những nội
dung kinh tế, những tính chất của con người trong sự tương tác đóng vai trò
Thứ ba, Tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch: Vì các cơ sở du
lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên dịch vụ du lịch
thuộc loại không di chuyển được, khách muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến
các cơ sở du lịch.
Do đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ và đem lại hiệu quả kinh doanh,
khi xây dựng các điểm du lịch cần lựa chọn địa điểm thoả mãn các điều kiện
tự nhiên: Địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng, tài nguyên, môi trường sinh
thái và các điều kiện xã hội (dân số, dân sinh, phong tục, tập quán, chính sách
kinh tế, khả năng cung ứng lao động, cơ sở hạ tầng). Đặc điểm này của dịch
vụ du lịch đòi hỏi các cơ sở kinh doanh du lịch phải tiến hành các hoạt động
xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ để kéo được du khách đến với điểm du lịch của
mình.
Thứ tư, Tính thời vụ của dịch vụ du lịch: Dịch vụ du lịch có đặc trưng
rất rõ nét về tính thời vụ. Ví dụ các khách sạn ở các khu nghỉ mát thường
vắng khách vào mùa động nhưng lại rất đông khách vào mùa hè. các khách
sạn ở gần trung tâm thành phố thường đông khách vào các ngày nghỉ cuối
tuần. Chính đặc tính cầu cao điểm của dịch vụ dẫn đến tình trạng cung cầu về
dịch vụ dễ mất cân đối, vừa gây lãng phí cơ sở vật chất lúc trái vụ và chất
lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút khi gặp cầu cao điểm. Vì vậy các doanh
nghiệp thường có các chương trình khuyến mại đối với khách đi nghỉ trái vụ
khi cầu giảm hoặc tổ chức quản lý tốt chất lượng dịch vụ khi cầu cao điểm.
Thứ năm, Tính trọn gói và không đồng nhất của dịch vụ du lịch: Dịch
vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói bao gồm các dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ
sung. Tính chất trọn gói của dịch vụ du lịch xuất phát từ nhu cầu đa dạng và
17
tổng hợp của du khách. Mặt khác nó đòi hỏi tính chất đồng bộ của chất lượng
dịch vụ.
Do khách hàng rất muốn được chăm sóc như những con người riêng
biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất. Doanh
- Không thể vận chuyển được ngay cả khi người sản xuất
mong muốn
- Có thể quan hệ gián tiếp với khách hàng
- Trong đại đa số các trường hợp phải quan hệ trực tiếp với
khách hàng
- Có thể xuất khẩu được
- Thông thường dịch vụ khó xuất khẩu được nếu không có
sự trợ giúp của chủ thể vật chất
-Khách hàng là một thành viên chỉ trong quá trình tiêu
dùng
-khách hàng là một thành viên trong quá trình sản xuất và
tiêu dùng
18
Như vậy, để phát triển du lịch cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ và
dịch vụ du lịch. Bởi chất lượng dịch vụ là sự thoả mãn nhu cầu của khách
hàng được xác định bởi dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi được mô
phỏng theo sơ đồ (1.1, tr.17)
Sơ đồ 1.1. Mô hình chất lƣợng dịch vụ
Như vậy, chất lượng dịch vụ du lịch chính là mức phù hợp của dịch vụ
mà các nhà cung ứng có thể thoả mãn các yêu cầu, kể cả yêu cầu cao của
khách hàng, khách du lịch thuộc thị trường mục tiêu của mình.
1.1.1.2: Phát triển du lịch
- Phát triển du lịch là tất yếu khách quan
Du lịch là một quan hệ kinh tế ra đời cách đây hàng thế kỷ và trở thành
một hiện tượng phổ biến kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lịch sử
phát triển của xã hội đã chứng minh du lịch không thể ra đời và phát triển do
19
Ngày nay, trước sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại, con người sống dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá càng
làm nảy sinh nhu cầu dành thời gian quay trở về với thiên nhiên, với cội nguồn.
Đó là một trong những nguyên nhân làm cho du lịch phát triển mạnh mẽ.
Trên thực tế nhu cầu của con người ngày càng phát triển cùng với sự
phát triển kinh tế, nhu cầu du lịch cũng không ngoài khả năng đó. Nhu cầu đi
du lịch chỉ có thể nảy sinh đối với những người mà đời sống vật chất của họ đã
được đáp ứng một cách tương đối đầy đủ. Đồng thời đòi hỏi họ phải có thời
gian nhàn rỗi, có đủ điều kiện để tiến hành các cuộc hành trình dài ngày để
thưởng thức các danh lam thắng cảnh ngoài khu vực sinh sống và làm việc của
mình. Một điều dễ thấy đó là ở các nước kinh tế càng phát triển thì nhu cầu du
lịch càng tăng, đời sống càng khá giả thì nhu cầu đi du lịch càng nhiều. Như
vậy, nhu cầu du lịch và du lịch xuất hiện cùng với sự phát triển của kinh tế.
Ngoài ra các yếu tố về văn hoá, xã hội cũng góp phần quan trọng làm
nảy sinh nhu cầu du lịch. Bởi việc tìm hiểu và thưởng thức vẻ đẹp của các
danh lam thắng cảnh, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá của các dân
tộc ở những nơi đến du lịch không thể có đối với những người có trình độ
văn hoá thấp hoặc không có văn hoá. Các nước có trình độ văn hoá cao thì số
người đi du lịch ra nước ngoài ngày càng nhiều và ngược lại. Theo Robert W.
Meintosh thì giữa trình độ văn hoá của người chủ trong gia đình và tỷ lệ du
lịch của họ có mối quan hệ nhất định. Có thể thấy mối quan hệ đó qua bảng số
liệu sau: (bảng 1.2, tr.18)
Bảng 1.2. Trình độ văn hoá của ngƣời chủ gia đình và tỷ lệ đi du lịch
(Theo Robert W.Meintosh 1995)
Trình độ văn hoá của người chủ gia đình
Tỷ lệ đi du lịch (%)
Chưa có trình độ trung học