Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
MỤC LỤC
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008 vừa qua, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng phải đương đầu với hàng loạt các cuộc khủng hoảng, mà đỉnh điểm là
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm, việc làm trở nên khó khăn,
thất nghiệp ở khu vực thành phố tăng cao. Ở nông thôn do sự chậm trễ của
các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế nông thôn, sự hạn hẹp
của đất canh tác và đặc biệt là tính chất thời vụ của khu vực này mà tình trạng
thất nghiệp cũng chậm được khắc phục Sự thăng trầm của cơ chế thị trường
tác động mạnh mẽ đến nhóm người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội – đó là
phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trong các hộ gia đình nghèo. Trong khi ở Việt
Nam, tỷ lệ phụ nữ chiếm 50,48% dân số và thực hiện một số lượng lao động
nhiều hơn nam giới, có đóng góp nhiều trong sản xuất xã hội, đặc biệt là sản
xuất nông nghiệp và dịch vụ nhưng lại chiu nhiều thiệt thòi hơn, nhiều rủi ro
hơn trong đời sống kinh tế, trong quan hệ xã hội và gia đình. Ở những thời
điểm kinh tế biến động gay gắt, phụ nữ vẫn đứng đầu danh sách cắt giảm biên
chế của các cơ quan, xí nghiệp. Và khu vực kinh tế phi chính thức đã là nơi
giải quyết phần lớn việc làm cho các lao động nữ. Vì vậy, em chọn đề tài: “
Giải pháp nâng cao vai trò của khu vực phi chính thức trong giải quyết
việc làm cho lao động nữ ở Hà Nội giai đoan 2011- 2015”.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
1
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
Phần I: CỞ SỞ LÝ THUYẾT
I. Lý thuyết chung
1. Quan niệm về khu vực phi chính thức:
Khu vưc phi chính thức ( PCT) đã tồn tại rất lâu ở các nền kinh tế, đặc
- Quy mô hoạt động nhỏ.
- Công nghệ sủa dụng nhiều lao động.
- Tay nghề có được không qua đào tạo chính quy.
- Thị trường này không có sự kiểm soát của Nhà nước.
Sau đó, S.V. Sethuraman đã đưa ra khỏi niờm cụ thể hơn về khu vực
phi chính thức – đó là “ các đơn vị nhỏ tham gia vào quá trình sản xuất, phân
phối hàng hóa và dịch vụ có mục tiêu ban đầu là tạo việc làm và thu nhập cho
những thành viên của họ, bất kể những hạn chế về vốn, cả vốn vật chất và
vốn con người cũng như bí quyết sản xuất ”.
Theo cách tiếp cận sản xuất ( Productive), Bickbeek và một số nhà
nghiên cứu khác cho rằng khu vực phi chính thức bao gồm những hoạt động
quy mô nhỏ, tiếp nối quá trình sản xuất quy mô lớn, là phần phụ gắn vào sản
xuất quy mô lớn, có tác dụng bổ sung cho những khiếm khuyết của sản xuất
quy mô lớn. Khu vực phi chính thức thường xuất hiện ở những nơi mà
phương tiện liên lạc, đi lại khó khăn, chi phí vận chuyển đắt, thị trường với
qui mô lớn hoạt động chưa có hiệu quả.
Nhìn chung, trong buổi đầu phát hiện ra khu vực phi chính thức, các
nhà kinh tế đã đánh giá đúng vai trò của nó trong việc giải quyết việc làm
và phát triển. Tuy nhiên, họ vẫn chưa thống nhất với nhau về định nghĩa,
nguyên nhân hình thành cũng như chính sách đối với khu vực này . Một số
nhà kinh tế cho rằng Nhà nước cần hỗ trợ để mang lại lợi ích của phát triển
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
3
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
cho người nghèo. Một số khác lại đề nghị cần có những thay đổi cơ bản thì
mới giải quyết được tình trạng nghèo khó và thất nghiệp.
Giai đoạn 1984 -1993:
Trong giai đoạn này, do hậu quả của việc tăng giá dầu, kinh tế châu Mỹ
La – tinh bị khủng khoảng nghiêm trọng cộng với khủng hoảng nợ kéo dài.
Người lao động bị đẩy ra khỏi khu vực chính thức và khu vực phi chính thức
những người nghèo và hoạt động của họ trong việc cung cấp những hàng hóa
dịch vụ thiết yếu cho xã hội, đánh giá cao khả năng quản lý, tự đào tạo của
các doanh nghiệp nhỏ và thấy được nguy cơ rủi ro của họ.
Các nhà luật pháp chủ trương xóa bỏ bất công về luật pháp giữa khu
vực chính thức và khu vực phi chính thức bằng cách chính thức hóa khu vực
này và cho rằng điều đó sẽ làm cho khả năng tiềm tàng của khu vực phi chinh
thức sẽ được giải phóng, góp phần phục hồi kinh tế, cải thiện các quan hệ xã
hội. Tuy nhiên, các khuyến nghị đó khi đem thực hiện đã không đem lại kết
quả như mong đợi.
Cách tiếp cận ngầm hay nền kinh tế ngầm ( Underground Economy )
Cách tiếp cận ngầm được phân tích dưới hai góc độ. Theo góc độ pháp
luật, khu vực phi chính thức bao gồm những hoạt động né tránh pháp luật,
không khai báo, trốn thuế … để kiếm lời.
Theo góc độ khác họ coi khu vực phi chính thức là kết quả của sự phân
công lao động có xu hướng chuyên môn hóa và quốc tế hóa, là
Cách tiếp cận phát triển doanh nghiệp siêu nhỏ (Microenterprises)
Những người theo cách tiếp cận này gần như đồng nghĩa khu vực phi
chính thức với các xí nghiệp siêu nhỏ. Đó là những xí nghiệp quy mô gia
đình, có số vốn đầu tư nhỏ, quy mô khách hàng nhỏ, dựa vào nguồn lực và thì
trường địa phương là chủ yếu. Họ chỉ ra ưu điểm của các doanh nghiệp siêu
nhỏ trong việc tạo ra việc làm và góp phần tăng thu nhập quốc dân, tự đào tạo
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
5
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
hướng nghiệp, cung cấp hàng hóa cần thiết, khuyến khích phân phối của cải
rộng rãi, đặc biệt cho phụ nữ và những người không có kỹ năng lao động.
Đồng thời cũng chỉ ra sự nghèo đói của những người trong khu vực này và coi
trọng các chương trình hành động nhằm thay đổi điều kiện kinh tế xã hội của
người nghèo.
Ở Việt Nam, khu vực PCT mới được quan tâm từ đầu những năm 90.
Khu vực kinh
tế phi chính
quy
Khu vực phi
chính quy
Khái niệm Là các đơn vị
kinh tế tư nhân
không nằm
trong danh mục
các tổ chức do
Nhà nước
chính thức xác
lập chế độ
kiểm tra, kiểm
soát; dùng lao
động gia đình
hoặc thuê
mướn dưới 10
lao động
Là hoạt động
mang tính sản
xuất, đóng góp
cho GDP, huy
động nguồn
nhàn rỗi trong
dân mà khu vực
chính quy không
với tới được
Là khu vực
sản xuất nhỏ,
đổi và do đó,
nằm ngoài sự
kiểm soát của
Nhà nước.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
7
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung cho khu
vực phi chính thức ở Việt Nam hiện nay như sau:
Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực kinh tế bao gồm các tổ
chức ( đơn vị) có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ, hoạt động rất đa dạng, các hoạt
động không đăng ký hoặc trốn tránh pháp luật, các hoạt động chưa được pháp
luật quy định.
2. Phân loại hoạt động trong khu vực phi chính thức:
- Loại hình hoạt động đơn lẻ: Gồm những người bán vặt, hàng rong, cắt
tóc, đạp xích lô, đánh giầy, bỏn vộ số…
Những người lao động này thường là dân nghèo thiếu khả năng về vốn
kinh doanh, không được đào tạo. Công việc đơn giản, dễ làm, chỉ cần ít vốn
cũng có thể tạo ra được chỗ làm việc. Tuy nhiên, thu nhập của họ rất thấp,
không có tích lũy chủ yếu là kiếm sống hàng ngày.
- Loại hình hoạt động đã mang tính tập thể tổ chức theo nhóm người
nhưng vốn đầu tư ít, phương tiện hoạt động được trang bị sơ sài. Quy mô hoạt
động thường trong phạm vi hộ gia đình hoặc một số nguời góp vốn cùng tổ
chức hoạt động. Nhu cầu về vốn ở mức độ nhiều ít tùy thuộc từng ngành nghề
kinh doanh. Yêu cầu người lao động có hiểu biết chuyên môn nghề nghiệp.
Lao động hoạt động trong loại hình này đó cú tích lũy.
- Loại hình này là những đơn vị kinh tế mà hoạt động của nó đã vượt
ra ngoài phạm vi gia đình, tính tổ chức và hạch toán trong kinh doanh chặt
chẽ hơn. Loại hình này có vốn đầu tư lớn hơn, có trang bị kỹ thuật và kinh
doanh ổn định, có hiệu quả. Yêu cầu lao động phải có kiến thức chuyên môn.
trong khi việc làm khu vực thành thị chính thức lại tăng chậm thậm chí có thể
giảm do tác động của việc áp dụng phương pháp sản xuất hiện đại làm tăng
năng suất lao động hoặc do chính sách cơ cấu lại khu vực nhà nước.
Hai là, do chính sách lao động – việc làm, chính sách tiền lương, bảo
hiểm xã hội trong khu vực thành thị chính thức kém linh hoạt ( đặc biệt khu
vực nhà nước) và do trình độ của người lao động thấp nên phần lớn lao động
nông thôn di cư ra đã không thể tìm được việc làm ở khu vực thành thị chính
thức.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
W
W
0
0
L
0
L
S
L
D
L
E
0
10
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
II. Lao động nữ trong khu vực kinh tế phi chính thức Hà Nội:
1. Đặc điểm nhân khẩu học:
1.1. Cơ cấu tuổi:
Khu vực PCT là một khu vực dễ tham gia và do vậy nó thu hút một số
lượng rất lớn LĐN. Theo điều tra, lao động nữ trong độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi
chỉ chiếm chưa đầy 1%. Độ tuổi từ 18 đến 35 phần lớn tập trung vào các công
có bằng
Trung
cấp
Cao
đẳng, đại
học
Chung 100 100 100 100 100
Lao động
nữ
55,59 38,1 30,1 47,5 41,2
Nguồn: Điều tra lao động – việc làm năm 2007 của Bộ Lao động -Thương
binh và Xã hội.
Theo số liệu một cuộc điều tra về lao động – việc làm năm 2007 cho
thấy, lao động nữ tham gia vào thị trường lao động sớm hơn nam giới, nhưng
lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao. Phần lớn phụ nữ khi
tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, thậm chí nhiều người chỉ tốt
nghiệp tiểu học, không tiếp tục học lên mà tham gia ngay vào thị trường lao
động. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ trong các cơ sở sản xuất
kinh doanh thấp hơn so với nam giới.
Như vậy, trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ của LĐN là thấp.
2. Đặc điểm nghề nghiệp trước khi gia nhập khu vực phi chính thức:
Đa phần đều là những chị em đã từng làm việc trong các cơ quan, xí
nghiệp Nhà nước ; những chị em sinh sống ở nông thôn tranh thủ lúc nông nhàn
ra thành phố buôn bán, kiếm ăn; những người trước đây đã từng làm các nghề
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
12
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
thủ công trong các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp như may gia công, thủy tinh,
mây tre xuất khẩu, dệt thảm,…; người nội trợ và những người trước đây làm
việc trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ lệ thấp.
đảm bảo hơn. Song ở những thời điểm kinh tế biến động gay gắt, phụ nữ vần
đứng đầu danh sách cắt giảm biên chế của cơ quan, xí nghiệp. Nhiều tổ chức
từ chối nhận lao động nữ.
Không bó tay nhìn bản thân và gia đình rơi vào tình cảnh nghèo đói,
nhiều chị em đó tỡm đến khu vực phi chính thức, nơi sử dụng lao động “ theo
phương sách cuối cựng”.
Nguyên nhân đưa chị em phụ nữ đến với khu vực lao động phi chính
thức tại Hà Nội:
Ở Hà Nội, nhiều chị em có khả năng, tự mình đứng ra lập các cơ sở sản xuất
PCT, tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường. Với họ, lý do chính tham gia
vào khu vực phi chính thức là do ưu điểm của khu vực phi chính thức:
- Dễ dàng mở cơ sở sản xuất kinh doanh;
- Chưa đủ khả năng thành lập doanh nghiệp;
- Giữ nghề truyền thống;
- Do hoàn cảnh gia đình;
- Thu nhập tương đối cao;
- Một số ngành nghề không yêu cầu trình độ chuyên môn;
- Lý do khác.
Khu vực kinh tế phi chính thức( PCT) – một khu vực tồn tại bên cạnh
khu vực chính thức ở hầu hết các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển –
hoạt động như một chiếc van an toàn trong cơ chế thị trường, thu hút những
người tạm thời thất nghiệp hoặc những người “nghốo muụn thưở. Lao động
của khu vực này chiếm 1/3 đến 2/3 lao động có việc làm ở các thành thị Châu
Á. Khu vực PCT vốn ít được Nhà nước quan tâm và ít được pháp luật bảo vệ
hơn khu vực chính thức nhưng lại là nơi hoạt động kinh tế của phần lớn lao
động nữ (LĐN).
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
14
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
Phần II
kiếm sống, làm bất cứ công việc gì miễn là không vi phạm pháp luật để cú
thờm thu nhập.
Số lượng lao động nữ TP. Hà Nội tham gia khu vực phi chính thức
tăng khá nhanh cuối năm 2008 đến nay. Số người tham gia ngành nghề xe ôm,
hàng rong và thức ăn đường phố tăng tại TP. Hà Nội đã tăng lên do bị mất việc
tại các công ty và không kiếm được việc làm nên chọn những nghề này để kiếm
sống. Mặt khác do vốn đầu tư cho nghề xe ôm hoặc bán hàng rong khá thấp nên
người lao động dễ dàng hành nghề. Ví dụ: nghề xe ôm đầu tư khoảng 3- 4 triệu
đồng; hàng rong khoảng 300.000 – 800.000 đồng. Mặt khác điều kiện tham gia
cũng khá đơn giản, bất kỳ ai cũng có thể đặt một gánh hàng rong cạnh cổng
trường, trước công ty hoặc chỗ trống nào đó trên vỉa hè.
2. Điều kiện lao động và điều kiện kinh tế của lao động nữ trong khu
vực phi chính thức ở Hà Nội:
2.1.Điều kiện lao động:
- Phần lớn các hoạt động trong khu vực PCT của người Hà Nội có
quy mô gia đình và họ sử dụng nhà mình làm nơi làm việc, hoặc bán hàng
hoặc thuê địa điểm để kinh doanh ổn định. Địa điểm là tiền đề quan trọng để
có thể tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Diện tích kinh doanh
thường là nhỏ và được tận dụng tối đa. Cũng còn một số lượng đáng kể phụ
nữ không có địa điểm kinh doanh cố định, họ phải mang hàng bán rong trên
đường phố với đôi quang gánh hoặc xe đẩy,…. Nơi làm việc thường không
đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động.
- Thời gian lao động của phụ nữ trong khu vực phi chính thức bình
quân là 8,92 giờ/ ngày, cao hơn khu vực chính thức và cao hơn so với quy
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
16
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
định của Luật lao động là 11,5%. Nhiều người làm trong lĩnh vực dịch vụ có
thời gian làm việc lên tới 12 giờ/ ngày, nhiều khi phải làm đêm. Tỷ lệ làm
đêm dưới 8 giờ lên đến 30%. Một tháng phải làm 29 ngày. Họ hầu như không
lao động ngắn hạn hoặc dài hạn. Những LĐ này phần lớn không được hưởng
bất kỳ một khoản phúc lợi nào từ hoạt động SXKD nơi mình làm việc. Chỉ có
khoảng 0,6% số LĐ được chia lợi nhuận, 0,8% được trả lương cho những
ngày nghỉ lễ tết Khu vực kinh tế phi chính thức không đăng ký kinh doanh
nên pháp luật LĐ và BHXH dường như vẫn chỉ đứng bên ngoài, người lao
động làm việc nhiều nhưng thu nhập và các chế độ đãi ngộ rất thấp
Vì về mặt bản chất, khu vưc kinh tế phi chính thức vẫn là khu vực kinh tế
ngầm, chưa được đăng kí công khai, không chịu sự bảo hộ của Nhà nước và
pháp luật. Dẫn đến phần lớn lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức
đều phải chấp nhận điều kiện làm việc kém, thụ nhập thấp, không được hưởng
quyền, nghĩa vụ lao động, quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ công ích, không được
thăng tiến, tiếp cận với các nguồn lực tín dụng, khoa học kĩ thuật. Nghiêm
trong hơn tình trạng bóc lột, lạm dụng tình dục, sức khỏe lao động nữ và trẻ
em.Lao động khu vực phi chính thức ít được bảo vệ của công đoàn, pháp luật,
nhất là phụ nữ và trẻ em. Các hoạt động tương trợ về xã hội, pháp lý cũng
chưa đến được với đối tượng này. Họ hoạt động gần như đơn độc, mối liên
kết gần nhất, bền chặt nhất chính là giữa những người đồng cảnh ngộ “ phi
chính thức ” với nhau. Hiện nay các doanh nghiệp khu vực chính thức rất khó
tiếp cận tín dụng, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp. Mối liờn kờt của khu vực phi
chính thức ( với tư cách nhà cung cấp, khách hàng, người gia công ) vơi khu
vực chính thức là rất yếu. Trong vòng hàng chục năm qua chưa có chính sách
công thỏa đáng đối với khu vực phi chính thức. Trong khi khu vực PCT đúng
góp khoảng 20% vào GDP, nhưng làm cách nào để những lao động này tiếp
cận được với các chính sách, các dịch vụ xã hội đang là một thách thức lớn
cần quan tâm.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
18
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
Phần III
Những kết luận, đễ xuất quản lí và giải pháp nâng cao vai trò
- Thứ ba, khu vực PCT ở Việt Nam được đánh giá cao trên nhiều mặt.
Trước hết và nổi bật là đóng góp vào việc tạo việc làm và thu nhập cho một bộ
phận dân cư. Vai trò này ngày càng quan trọng khi nền kinh tế bị suy thoái do
ảnh hưởng lớn của quy luật cung cầu và những biến động thị trường thế giới.
Khu vực PCT ở Việt Nam góp phần lớn vào sự ổn định, yên bình của xã hội.
Khu vực PCT còn góp phần tạo ra khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn với
giá rẻ, dịch vụ thuận lợi, góp phần giảm bớt khó khăn cho nghèo và Nhà nước
Khu vực này còn đánh giá cao trong việc thu hút và giải quyết khó khăn
về vốn tích lũy.
- Thứ tư, khu vực PCT ở Hà Nội đã tồn tại khỏ lõu trong lịch sử phát
triển kinh tế thành phố Hà Nội. Nếu tính từ khi giải phóng Thủ đô ( 1955) thì
sự phát triển này có thể chia làm 3 giai đoạn:
+ 1955- 1965 khu vực PCT ( được coi là thành phần kinh tế phi XHCN )
có xu hướng giảm.
+ 1965- 1985 khu vực PCT có xu hướng tăng lên nhưng tốc độ chậm và
không ổn định.
+ 1986 đến nay, khu vực PCT chủ yếu kinh doanh nhỏ phát triển mạnh.
Sự tăng quy mô khu vực này là do những yếu tố sau:
+ Do chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước.
+ Do thay đổi cơ cấu kinh tế, sự sắp đặt lại các doanh nghiệp Nhà nước,
giảm biên chế, sự tan vỡ của khu vực HTX, khủng hoảng kinh tế thế giới.
+ Kinh tế chính thức, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân phát triển chậm
hơn sự tăng lên và sự thay đổi của cơ cấu lực lượng lao động.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
20
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
+ Do kinh tế nông thôn chậm phát triển, thu nhập từ nông nghiệp thấp,
tình trạng thất nghiệp thời vụ khiến cho lao động ngoại tỉnh đổ về Hà Nội
ngày càng đông, nhất là lao động nữ.
- Thứ năm, lao động nữ trong khu vực PCT Hà Nội đã đóng góp công
pháp lý và những đóng góp của người lao động khu vực kinh tế phi chính thức.
- Giúp người lao động khu vực phi chính thức tiếp cận với các nguồn lực,
tín dụng, hỗ trợ vốn kĩ thuật, tăng cường cỏc kờnh thông tin, đào tạo nghề
nghiệp.
- Tháo gỡ những cản trở trong Luật Doanh nghiệp, có chính sách hỗ trợ
khu vực phi chính thức.
- Thiết lập các chính sách kết nối mạnh mẽ khu vực kinh tế phi chính
thức với khu vực kinh tế chính thức.
- Thực hiện luật tiền lương và thu nhập công bằng cho lao động khu vực
phi chính thức.
- Bảo vệ người lao động khu vực phi chính thức khỏi bị xâm phạm của
chủ lao động và các đối tượng xấu khác, nhất là nạn xâm hại tình dục, bạo lực
đối với phụ nữ, trẻ em…
- Bảo đảm giáo dục cơ bản cho con em của người lao động.
3. Giải pháp:
- Giảm các thủ tục đăng ký phiền phức khi tham gia khu vực PCT. Giảm
miễn thuế đối với một số hoạt động có thu nhập quá thấp. Xóa bỏ các loại phí
do các cấp chính quyền địa phương thu đối với một số hoạt động dịch vụ nhỏ
trên vỉa hè, lòng đường.
- Sắp xếp, quy hoạch vùng, địa điểm thời gian bán sản phẩm của các
hoạt động PCT trong thành phố, tạo thị trường tiêu thụ sản phẩm dễ dàng cho
người lao động.
SV: Phạm Thị Thu Hiền Lớp: KTPT 49B
22
Đề án chuyên ngành GVHD: Th.s Phí Thị Hồng Linh
- Tổ chức các chương trình hỗ trợ các hoạt động PCT: Nâng cao trình
độ văn hóa, khả năng kinh doanh, kiến thức pháp luật cho những người trong
khu vực PCT.
- Giúp đỡ vốn kinh doanh thông qua các nguồn vốn tín dụng của Nhà
nước, của các tổ chức phi chính phủ, khuyến khích các hoạt động từ thiện …
24