BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
KHU VỰC NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM KHÊ,
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
KHU VỰC NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM KHÊ,
TỈNH PHÚ THỌ
Cẩm Khê là huyện miền núi có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, dân
số đông thứ 3 trong số các huyện của tỉnh Phú Thọ, toàn huyện có 31 xã, thị trấn,
có đường quốc lộ 32 đi qua khu vực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng lớn với
sản xuất nông nghiệp lúa nước là chủ yếu. Tỷ trọng dân số, lao động và diện tích đất
đai trong khu vực nông nghiệp nông thôn chiếm tỉ lệ cao, vì thế việc tìm kiếm các
giải pháp hữu hiệu để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, chuyển dịch cơ cấu
lao động, GQVL cho người lao động ở khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Cẩm
Khê, Phú Thọ là một vấn đề đòi hỏi cấp thiết và mang ý nghĩa thiết thực.
Nhận thấy được tính chất phức tạp, quan trọng của vấn đề GQVL ở nông
thôn, tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động khu
vực nông thôn trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
3
Đề xuất giải pháp chủ yếu góp phần giải quyết việc làm (GQVL) cho lao
động khu vực nông thôn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về GQVL cho lao động khu
vực nông thôn;
(2) Đánh giá được thực trạng công tác GQVL cho lao động khu vực nông
thôn trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ ;
(3) Đề xuất được các giải pháp tạo việc làm cho lao động khu vực nông hôn
trên địa bàn Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Thực trạng lao động, việc làm và thu nhập của lao động khu vực nông
thôn giai đoạn 2010-2012 như thế nào?
(4) Nghiên cứu đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu
GQVL cho lao động khu vực nông thôn tại Cẩm Khê, Phú Thọ.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về GQVL ở nông thôn.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM Ở NÔNG THÔN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
1.1.1. Cơ sở lý luận cơ bản về việc làm
1.1.1.1. Khái niệm về việc làm
Con người là động lực, động cơ, trung tâm của sự phát triển xã hội, với
nguồn lực của mình là chí lực và sức lực ,con người chỉ có thể tham gia đóng
góp cho sự phát triển xã hội thông qua quá trình làm việc của mình , quá trình
làm việc này được thể hiện qua hai yếu tố chủ quan và khách quan đó là sức
lao động của người lao động và tất cả các điều kiện tối thiểu cần thiết để
người lao động sử dụng sức lao động của họ tác động lên tư liệu sản xuất và
tạo ra sản phẩm xã hội. Quá trình kết hợp sức lao động và các điều kiện cần
thiết để sử dụng sức lao động là quá trình người lao động làm việc. Quá trình
lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động trong công việc.[19]
Theo bộ luật lao động thì : "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm ." [15]
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
luật.
Trước đây ở Việt Nam, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp,
người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là
người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (Quốc doanh, tập thể).
Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và
cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp.
Ngày nay, ở Việt Nam các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn,
đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập,
mà không bị pháp luật cấm. Điều 13, Chương II Bộ Luật Lao động được Quốc hội
thông qua ngày 23/6/1994 quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.[15]
Có thể phân loại việc làm thành 3 dạng :[14]
7
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng
hiện vật cho công việc đó, nói cách khác là các công việc làm thuê.
- Tự làm các công việc hoặc tổ chức làm để tạo ra thu nhập, lợi nhuận cho
bản thân, bao gồm hoạt động nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu,
quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính
thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. Nói cách khác là bỏ vốn kinh doanh.
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao
dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông
nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có
quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành
viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Tóm lại, từ những khái niệm trên, trong điều kiện hiện nay có thể hiểu việc
làm như sau: Việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu
nhập hoặc lợi ích cho bản thân gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng
- Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời
gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ
năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng
suất lao động thấp thường có mong muốn tìm công việc khác có mức thu
nhập cao hơn.
Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời
gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn
kiếm thêm việc làm và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thược đo của thiếu việc làm hữu hình là:
K
=
Số giờ làm việc thực tế
Số giờ quy định
x
100%
1.1.1.4. Thất nghiệp
- Theo "Thực trạng lao động việc làm" của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội: “Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có khả năng
lao động trong trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu về việc làm
nhưng không tìm được việc làm”.[24]
9
10
ra được nhiều chỗ làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo
theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra.
Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo
ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch
vụ theo yêu cầu thị trường.
Thị trường lao động chỉ có thể được hình thành khi người lao động và người
sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động. Do
vậy vấn đề tạo việc làm phải được nhìn nhận ở cả người lao động và người sử dụng
lao động. Người sử dụng lao động là người chủ yếu tạo ra chỗ làm việc cho người
lao động, bao gồm các Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước, các cơ sở
SXKD,... Để có quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động
phải có những điều kiện nhất định. Đó là người sử dụng lao động cần phải có vốn,
công nghệ, kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ,… Còn người lao động phải có sức
khỏe trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp với công việc của mình.
Để có việc làm, được trả công theo ý muốn của mình thì người lao động phải
học hỏi, trau dồi kiến thức cho mình để theo kịp sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Ngoài ra người lao động phải luôn tự đi tìm việc làm phù hợp với mình để đem lại
thu nhập cho gia đình. Trong vấn đề này, Nhà nước có vai trò quản lý quan hệ lao
động bằng các chính sách khuyến khích động viên nhằm đem lại lợi ích cho cả hai
bên. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao
động để họ phát huy tối đa năng lực của mình.
Hiện nay, việc đầu tư của Nhà nước cũng như của tư nhân chủ yếu tập trung
ở thành thị và các KCN vì ở những nơi này sản xuất tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn
và có khả năng liên kết với nhau hơn. Chính vì điều này sẽ gây ra hiện tượng người
lao động từ nông thôn ra thành thị và cũng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn,
do đó cần phải có chính sách tạo việc làm phù hợp cho cả người lao động ở thành
thị và nông thôn.
1.1.1.6. Giải quyết việc làm
mang tính phổ biến của khu vực nông thôn. Ở nước ta, việc làm thuần nông bao
gồm trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt và chăn nuôi là hai công việc chính, chiếm
hầu hết thời gian trong năm của người nông dân và cũng là nguồn thu chính để nuôi
sống bản thân và gia đình của họ.
12
- Việc làm phi nông nghiệp: Việc làm phi nông nghiệp bao gồm các ngành
nghề ngoài nông nghiệp nhưng gắn chặt với nông nghiệp, chẳng hạn như: Sơ chế,
chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, các hoạt động gia công cơ khí, sửa chữa
các vật tư nông nghiệp, các hoạt động vận tải và các dịch vụ có liên quan. Bên cạnh
đó việc làm phi nông nghiệp còn bao gồm các ngành nghề mới như: Mây tre đan,
đan nón, nghề mộc … So với việc làm thuần nông, việc làm phi nông nghiệp mang
lại thu nhập cao và khá ổn định cho lao động ở khu vực nông thôn, góp phần giải
quyết bài toán việc làm ở khu vực nông thôn, đặc biệt là bộ phận lao động nông
nhàn.
1.1.2. Cơ sở lý luận cơ bản về lao động
1.1.2.1. Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho
cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật
và xã hội loài người và xã hội loài vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con
người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải
biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con
người. Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và
tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [2]
Ph.Ăng-ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.
Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu
cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn
Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích. Nói lên kết
quả hoạt động của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao
động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian; hoặc
bằng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động được xác định bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong
một thời gian lao động. Công thức tính:
W
Trong đó:
=
Q
T
14
W: Là số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay là
năng suất lao động, thường được biểu diễn dưới dạng chỉ tiêu kép: Hiện vật, thời
gian hay giá trị thời gian.
Q: Là khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian nhất định.
T: Là tổng thời gian hao phí để sản xuất ra Q sản phẩm.
1.1.2.6. Lao động khu vực nông thôn
Lao động khu vực nông thôn là bộ phận dân số trong và ngoài độ tuổi lao
động, thuộc khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có nhu cầu lao động.
Đặc điểm cơ bản của lao động khu vực nông thôn:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều
này ảnh hưởng đến năng suất lao động và phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường
thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động.
nhẹ và công nghiệp chế biến;
- Nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ mạnh mẽ sản phẩm của ngành
công nghiệp và các ngành khác;
- Nông thôn là nơi tập trung phần lớn tài nguyên của đất nước. Cho nên,
muốn khai thác tài nguyên một cách có hiệu quả và bền vững thì cần phải đầu tư
phát triển nông thôn;
- Nông thôn cũng là nơi có vị trí trọng yếu trong cũng cố và giữ gìn an ninh
quốc phòng của đất nước.
1.1.4. Khái niệm về thu nhập
TheoTừ điển Kinh tế thị trường: “Thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt
được từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cá
nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc dân”.
Thu nhập là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra.Về
bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết
(tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương,...) và phần
có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận).
Tóm lại, thu nhập của người lao động là số tiền mà họ nhận được từ các
nguồn thu và họ được toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình. Ta có thể
16
hiểu thu nhập của người lao động là toàn bộ các khoản thu khác nhau mà người lao
động có được trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường là một tháng).
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm
1.1.5.1. Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
Ở bất kỳ một quốc gia, một địa phương nào khi có điều kiện tự nhiên, môi
trường sinh thái thuận lợi thì ở đó sẽ có nhiều cơ hội thu hút được nhiều những
chương trình, dự án đầu tư, đây cũng là cơ hội để GQVL cho lao động nói chung và
lao động khu vực nông thôn nói riêng. Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong
trong khu đô thị. Do đó, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, việc khống chế mức tăng dân số
được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm. Vấn đề dân số thường được gắn
với vấn đề sử dụng nguồn lao động và GQVL. Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân
số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các
dịch vụ xã hội.
1.1.5.3. Nhân tố về chính sách vĩ mô
Để GQVL cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước phải tạo
các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ
chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể. Có thể có rất nhiều chính sách
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách
hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và
cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau. Thực chất là tạo
ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.
Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng
có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách
phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế
mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi
phục và phát triển làng nghề,... Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là
người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia
đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội...
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức
và biện pháp GQVL mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề
18
thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn
và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm...
1.1.5.4. Nhân tố liên quan đến Giáo dục - Đào tạo và KHCN
Toàn cầu hoá đặt ra những thách thức và những nguy cơ lớn đối với tình
trạng việc làm ở tất cả các nước trên thế giới. Số lượng việc làm ở khu vực này có
thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, một số loại việc làm sẽ mất đi nhưng
một số loại việc làm mới xuất hiện.
Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm như vậy sẽ gây không ít khó
khăn và những chi phí lớn của cá nhân gia đình và toàn xã hội do mất việc làm, phải
tìm chỗ làm việc mới, phải học tập những kiến thức và kỹ năng mới, phải di chuyển
từ nơi này đến nơi khác để tìm việc làm, phải thích nghi với những điều kiện sống
luôn thay đổi. Gây gánh nặng về đào tạo lại, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp do
Chính phủ phải gánh chịu.
Trong điều kiện thế giới ngày nay, để khai thác và sử dụng tốt các yếu tố bên
ngoài, đồng thời phải phát huy tối đa nội lực, kết hợp nội lực với ngoại lực thành
sức mạnh tổng hợp trong GQVL một cách năng động, hiệu quả, bền vững, tránh
được những rủi ro. Cần có những nghiên cứu, mang tính hệ thống về tình hình thế
giới, khu vực và các mối quan hệ giữa các điều kiện bên trong và bên ngoài, nhận
thức và vận dụng đúng đắn quan hệ đó khi xây dựng chiến lược việc làm.
1.2. THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với gần 1,339 tỷ dân (năm 2011)
nhưng gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệu
lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu GQVL trở
lên gay gắt hơn.
Trước đòi hỏi bức bách đó, thực tế từ những năm 1978 Trung Quốc đã thực
hiện mở cửa cải cách nền kinh tế, và thực hiện phương châm “Ly nông bất ly
hương, nhập xưởng bất nhập thành”, do đó Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính
sách phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động ở
20
21
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Khác với các nước ở khu vực châu Âu và Châu Mỹ, ở Nhật Bản các nhân
viên Nhật Bản được xí nghiệp tuyển dụng làm thuê suốt đời cho đến khi về hưu.
Thậm chí có những nhân viên xuất sắc đã đến tuổi về hưu vẫn được thuê làm cố vấn
cho xí nghiệp, truyền thống về kinh tế là nguyên nhân đi tới chế độ thu dụng đặc sắc
này.
Ở Nhật Bản, vấn đề cung cầu được giải quyết rất hài hòa, năm 1995 cứ một
chỗ làm việc trong ngành công nghiệp có 3,6 người xin vào làm thì đến năm 2000
cứ một người xin việc việc thì có 3 nơi cần tuyển. Chính vì thế, tình trạng thất
nghiệp ở một nước có 100 triệu dân về cơ bản đã được giải quyết từ những năm 60.
Xét trên góc độ kinh tế nhiều tài liệu phương Tây cho biết: Nhật Bản đã duy
trì được một cơ cấu kinh tế “nhiều tầng”. Tầng trên là các công ty lớn, các xí nghiệp
lớn, các tập đoàn tài chính,… có từ 300 đến 1000 công nhân. Còn tầng dưới 300
công nhân thậm chí có xí nghiệp khoảng 10 công nhân có tính chất gia đình chiếm
51,5%. Nhật Bản mặc dù là một nước có nền công nghiệp phát triển thế nhưng họ
rất chú ý đến sự phát triển của nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh tế gia đình,
Nhật Bản đã giải quyết được mâu thuẫn lao động ít vốn mà mọi người dân đều có
việc làm, trong đó Nhà nước là người đề ra chính sách và tổ chức thực hiện.
Ngoài ra họ còn làm việc tại nhà bằng máy tính, cứ 3 người làm việc có một
người làm việc tại nhà, đối với người tàn tật nội trợ về hưu có trình độ chuyên môn
tốt không thể đến cơ quan làm việc hàng ngày có thể tham gia vào thị trường lao
động nhờ việc làm tại nhà.[3]
1.2.2. Tại Việt Nam
1.2.2.1. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giải quyết việc làm ở
nông thôn
a) Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành
Mục tiêu tổ ng quát: Bình quân hàng năm đào ta ̣o nghề cho khoảng 1triê ̣u lao
đô ̣ng nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000lượt cán bộ, công chức xã.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình
độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chiń h, quản lý,
điều hành kinh tế - xã hô ̣i và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.
23
Mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2011 - 2015: Đào ta ̣o nghề cho 5.200.000lao
động khu vực nông thôn, trong đó: Đào tạo nghề cho khoảng 4.700.000lao động
khu vực nông thôn (1.600.000người ho ̣c nghề nông nghiê ̣p; 3.100.000 người ho ̣c
nghề phi nông nghiệp); Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực quản lý
hành chính, quản lý kinh tế - xã hô ̣i cho khoảng 500.000lươ ̣t cán bộ, công chức xã.
Mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2016 - 2020: Đào ta ̣o nghề cho 6.000.000lao
động khu vực nông thôn, trong đó: Đào tạo nghề cho khoảng 5.500.000 lao động
khu vực nông thôn (1.400.000người ho ̣c nghề nông nghiê ̣p; 4.100.000người ho ̣c
nghề phi nông nghiệp); Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chiń h,
quản lý kinh tế - xã hô ̣i chuyên sâu cho khoảng 500.000lươ ̣t cán bộ, công chức xã.
c) Chính sách đối với giáo dục - đào tạo
Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, Đảng ta chỉ rõ:
“Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: mở
rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả”.[8] Mặc dù lực lượng lao
động khu vực nông thôn rất đông đảo, nhưng phần lớn đều là lao động phổ thông,
chưa qua đào tạo về CMKT. Trong xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay, yêu cầu đặt ra
đối với nước ta không chỉ là phải chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang
nền kinh tế công nghiệp hiện đại mà còn phải thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế
công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Chính vì vậy sẽ dẫn đến một thực tế là sẽ có