Giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn ở Hà Nội : Luận văn ThS. Kinh tế: 60 31 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

_________________________

PHẠM THỊ THANH HƢƠNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
KHU VỰC NÔNG THÔN Ở HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

_________________________

PHẠM THỊ THANH HƢƠNG

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
KHU VỰC NÔNG THÔN Ở HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số

: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

1.1.1. Du lịch và phát triển du lịch ...............................................................7
1.1.2. Vai trò của phát triển du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội ....... 27
1.2. Kinh nghiệm về phát triển du lịch của một số tỉnh ở Việt Nam .................. 32
1.2.1. Kinh nghiệm của Quảng Ninh trong phát triển du lịch ..................... 32
1.2.2. Kinh nghiệm của Hải Phòng trong phát triển du lịch ....................... 33
1.2.3. Kinh nghiệm của Thừa Thiên Huế phát triển du lịch ....................... 34
Chƣơng 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH NINH
BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA ....................................................... 38

2.1. Tiềm năng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình ........................................... 38
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội ..................................... 38
2.1.2. Tài nguyên du lịch ........................................................................... 47
2.2. Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian từ
2000 đến 2010 ................................................................................. 61
2.2.1. Tình hình kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ............... 61
2.2.2. Thực trạng về lực lượng kinh doanh và nguồn nhân lực du lịch ở Ninh
Bình ................................................................................................ 66
2.2.3. Đầu tư, xúc tiến du lịch và quản lý Nhà nước về du lịch .................. 69
2.2.4. Đánh giá chung về phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong
thời gian qua .................................................................................... 74
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở
TỈNH NINH BÌNH TỚI NĂM 2015 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 ..... 79

3.1. Mục tiêu, phương hướng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình ..................... 79


3.1.1. Bối cảnh phát triển du lịch Việt Nam trong đó có tỉnh Ninh Bình giai
đoạn 2011 - 2020 ............................................................................. 79
3.1.2. Mục tiêu và phương hướng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh
Bình ................................................................................................ 80


UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

XKLĐ:

Xuất khẩu lao động


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay du lịch được coi là một ngành “công nghiệp không khói”.
Vai trò của ngành du lịch được đánh giá là rất quan trọng đối với nền kinh tế
của một quốc gia, sự phát triển mạnh mẽ của nó tại một số quốc gia đã góp
phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế. Theo các chuyên gia kinh tế đánh
giá thì du lịch quốc tế là một loại hình xuất khẩu đặc biệt, sản phẩm và dịch
vụ được cung cấp cho người nước ngoài nhưng lại được tiêu thụ ngay tại
nước sở tại và đem lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Chính vì thế, các
nước trên thế giới rất chú trọng đầu tư phát triển du lịch, nhằm thúc đẩy kinh
tế tiến lên.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Phát triển du lịch thực sự
trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống
văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du

6.450 tỷ đồng)” [9, tr.66]. Tiếp tục quan điểm Đại hội XIX, Đại hội
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX xác định: “Duy trì tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững, đưa kinh tế du lịch vào thời kỳ tăng tốc... xây dựng
Ninh Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Đồng bằng sông Hồng”
[10, tr.18].
Những năm gần đây du lịch Ninh Bình có những bước phát triển đáng
kể; Cơ sở hạ tầng du lịch được đầu tư cải thiện, hệ thống cơ sở dịch vụ, cơ sở
lưu trú, phương tiện và thiết bị phục vụ du lịch được nâng cao; Đội ngũ lao
động trong ngành du lịch ngày càng phát triển. Năm 2010, toàn tỉnh đã đón
được 3.375.261 lượt khách du lịch (tăng 38,66% so với năm 2009, đạt
121,3% so với kế hoạch năm) trong đó khách quốc tế là 700.006 lượt, khách
nội địa là 2.675.255 lượt với tổng doanh thu đạt 549.908 tỷ đồng, tăng
119,8% so với cùng kỳ năm 2009, nộp ngân sách nhà nước 55 tỷ đồng tăng
117% so với cùng kỳ năm 2009. Với kết quả trên ngành du lịch đã đóng góp
quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, nâng cao đời

2


sống nhân dân tạo tiền đề quan trọng để đẩy nhanh tốc độ phát triển trong
những năm tiếp theo.
Tuy nhiên du lịch Ninh Bình vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém: Tỷ lệ
khách lưu trú thấp; hoạt động du lịch chủ yếu vẫn là khai thác thiên nhiên, cơ
sở hạ tầng hạn chế; công tác tuyên truyền, quảng bá và quản lý yếu kém...
Những tồn tại và yếu kém trên đã và đang là những khó khăn, trở ngại và
thách thức lớn của du lịch Ninh Bình.
Vì vậy, phân tích thực trạng du lịch ở Ninh Bình là quan trọng và cần
thiết để tìm ra mặt tích cực và mặt yếu kém; tiềm năng và khả năng phát triển
du lịch của tỉnh làm căn cứ, để đưa ra những giải pháp có tính khả thi cho sự
phát triển du lịch địa phương trong giai đoạn tới. Vì thế tác giả chọn: “Phát

Hồ Chí Minh.
- “Phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Quảng
Ninh” luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị của Nguyễn Huy Cảnh, 2006; Bảo vệ
tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, ĐHQG Hà
Nội...
Các công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu về phát triển du
lịch ở các địa phương cụ thể khác nhau dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Ở Ninh Bình cũng có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch như:
- “Kinh tế dịch vụ và dịch vụ du lịch tỉnh Ninh Bình” luận văn thạc sỹ
Kinh tế của Phạm Xuân Thu, 1995; Bảo vệ tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- “Đất ngập nước Vân Long”(2004) của GS.TS Vũ Trung Tạng.
- “Tiềm Năng khu du lịch sinh thái Vân Long góp phần phát triển du
lịch Ninh Bình”(2006) của Sở Du lịch Ninh Bình.
- “Mở rộng khu du lịch Tam Cốc - Bích Động để phát triển du lịch khu
vực” (2006) của Võ Quế - Viện Nghiên cứu phát triển du lịch.
Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận
chung về du lịch và phát triển du lịch; tiềm năng du lịch của các địa phương

4


cùng những kinh nghiệm về phát triển du lịch ở một số địa phương nước ta.
Song, hiện vẫn còn ít công trình khoa học nghiên cứu về “Phát triển du lịch
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị. Vì thế
nghiên cứu “Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” dưới góc độ khoa
học Kinh tế chính trị vẫn là cần thiết và đó cũng là lý do tác giả chọn làm đề
tài luận văn thạc sỹ kinh tế của mình. Đề tài không trùng lặp với các công
trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:

thời, kế thừa những vấn đề lý luận về du lịch để ứng dụng vào phát triển du
lịch ở tỉnh Ninh Bình.
* Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: điều tra, thống kê, phân
tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh, tổng kết thực tiễn...
6. Đóng góp của đề tài
Làm rõ hơn tiềm năng và vai trò của phát triển du lịch đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình. Đánh giá một cách khách quan về
thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình. Đề xuất một số giải pháp góp
phần phát triển du lịch thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Ninh Bình.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho các cơ quan, ban ngành của tỉnh nhằm phục vụ cho công tác hoạch
định chính sách thúc đẩy du lịch phát triển trong những năm tới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và phát triển du lịch.
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình
trong thời gian qua.

6


Chương 3: Phương hướng và những giải pháp phát triển du lịch ở tỉnh
Ninh Bình trong thời gian tới.

7



. Trong từ điển Bách khoa quốc tế về du lịch do Viện Hàn lâm khoa
học quốc tế về du lịch xuất bản du lịch được định nghĩa như sau: “Du lịch là
tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành
trình, là một ngành công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của
khách du lịch” [13, tr.14].
. Giáo sư Edmod Pieasa người Bỉ cho rằng: “Du lịch là tập hợp các tổ
chức và các chức năng của nó, không chỉ về phương diện khách vãng lai mà
cái chính là phương diện về giá trị mà khách du lịch mang lại” [3, tr.6].
. Theo nhà nghiên cứu Michael Coltman cho rằng: “Du lịch là sự kết
hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao
gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền
nơi đón khách du lịch” [13, tr.15].
. Trong tuyên ngôn Manina về du lịch năm 1980 nêu rõ: “Du lịch được
hiểu như hoạt động chủ yếu trong đời sống của các quốc gia do hiệu quả trực
tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hoá, giáo dục và kinh tế của các quốc
gia và trong quan hệ quốc tế trên thế giới. Sự phát triển của du lịch gắn với sự
phát triển của kinh tế - xã hội của các quốc gia và phụ thuộc vào việc con
người tham gia vào nghỉ ngơi (có sáng tạo) và vào kỳ nghỉ, tự do du lịch,
trong khuôn khổ thời gian tự do và thời gian nhàn rỗi mà du lịch nhấn mạnh
tính nhân văn sâu sắc...” [24, tr.4].
. Định nghĩa của hội nghị quốc tế và thống kê du lịch ở Otawa, Canada
diễn ra vào tháng 6 năm 1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn
khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của
chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi
vùng tới thăm” [11, tr.19].

9





Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch có
đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá xã hội. Trên
thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà
cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội... Chính vì vậy, ở rất nhiều quốc gia trên
thế giới ngành du lịch đã được coi như ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh
tế quốc dân.
- Các loại hình du lịch
Du lịch là một hoạt động có tính đa dạng và phong phú về loại hình và
thể loại. Loại hình du lịch phát triển không ngừng cùng với sự phát triển ngày
càng cao của nhu cầu con người mà cụ thể là nhu cầu của khách du lịch.
Theo tác giả Trương Sỹ Quý loại hình du lịch có thể được định nghĩa
như sau: “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có
những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thoả mãn những nhu cầu, động cơ
du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì
chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được
xếp chung theo một mức giá bán nào đó” [13, tr.64]. Như vậy, nếu dựa vào
các căn cứ phân chia khác nhau thì sẽ có các loại hình du lịch khác nhau. Ở
đây ta chỉ đề cập đến các loại hình du lịch theo nhu cầu, mục đích của du
khách. Vậy có thể phân loại như sau:
+ Du lịch sinh thái
Tại Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam đã quy định: “Du lịch sinh thái
là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương,
với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [23, tr.11].
Như vậy, có thể hiểu du lịch sinh thái là loại hình du lịch để thưởng
thức những cảnh quan thiên nhiên như (sông, núi, biển, rừng) thích hợp cho
mọi đối tượng khách du lịch đặc biệt là đối với du khách nước ngoài. ở Việt
nam có rất nhiều khu du lịch sinh thái như: Du lịch biển Vũng Tàu, Du lịch

Chữa bệnh bằng hoa quả, chữa bệnh bằng sữa (đặc biệt bằng sữa ngựa).

12


+ Du lịch thể thao
Là loại hình du lịch mà khách du lịch có thể kết hợp quá trình du lịch
với các hoạt động thể thao giải trí nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ. Có
thể chia du lịch thể thao thành các loại sau:
Du lịch thể thao chủ động: Là loại hình du lịch mà khách đi du lịch để
tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao. Du lịch thể thao chủ động gồm:
du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch câu cá, du lịch tham gia các loại thể
thao: đá bóng, bóng chuyền, bóng rổ, trượt tuyết...
Du lịch thể thao thụ động: Là những cuộc hành trình đi du lịch để xem
các cuộc thi thể thao quốc tế như Wold Cup, các thế vận hội Ôlimpic...
+ Du lịch nghiên cứu
Là loại hình du lịch gắn với mục đích nghiên cứu, học tập, làm việc
nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó. Kết hợp giữa đi
du lịch với tìm hiểu các vấn đề về văn hoá, lịch sử, tài nguyên môi trường, hệ
sinh thái, động thực vật... nhằm đáp ứng nhu cầu học tập nghiên cứu của các
cá nhân.
* Về dịch vụ du lịch:
- Du lịch là một bộ phận của kinh tế dịch vụ, sản phẩm của ngành du
lịch chủ yếu là dịch vụ.
. Theo Luật du lịch 2005, của nước CHXHCN Việt Nam: dịch vụ du
lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui
chơi, giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu
của khách du lịch.
. Có thể hiểu: dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động
tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch thông qua

Thứ nhất, Sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ
du lịch: Đặc điểm này nói lên rằng khách du lịch ở một chừng mực nào đó đã
trở thành nội dung của quá trình sản xuất. Sự gặp gỡ giữa khách hàng và
người sản xuất được định nghĩa như một sự tác động qua lại giữa hai chủ thể

14


với nhau. Sự gắn liền họ với nhau trong sự tác động qua lại này trong du lịch
được khẳng định sự phụ thuộc vào lĩnh vực lành nghề, khả năng cũng như ý
nguyện của người tiêu dùng và người cung cấp dịnh vụ. Ngoài những nội
dung kinh tế, những tính chất của con người trong sự tương tác đóng vai trò
quan trọng hơn như một cảm giác, sự tin tưởng, tình thân thiện giữa cá nhân,
mối liên kết và những mối quan hệ trong dịch vụ được coi trọng hơn như khi
mua những hàng hoá tiêu dùng khác. Dịch vụ gắn liền với những kinh nghiệm
chủ quan, đối với mỗi người là duy nhất đó cũng là quá trình xã hội và tất
nhiên có nhiều nhân tố khác nhau tác động lên quá trình này. Người cung cấp
dịch vụ và người tiêu dùng không thể bí mật thay đổi thời gian, địa điểm và
các tình tiết liên quan đến quá trình cung ứng dịch vụ. Người trao đổi thương
mại, sự tương tác qua lại còn thể hiện nhân tố thứ ba - sự trao đổi tâm lý.
Mức độ hài lòng của khách hàng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn sàng
cũng như khả năng của nhân viên làm dịch vụ, khả năng thực hiện ý nguyện
của khách hàng. Trong những trường hợp này, thái độ và sự giao tiếp với
khách hàng còn quan trọng hơn cả các tiêu chí kỹ thuật, sản xuất và tiêu dùng
những loại dịch vụ này đòi hỏi sự tăng cường sự liên hệ của người sản xuất
với khách hàng. Trong thời gian cung cấp dịch vụ, những chức năng truyền
thống đã gắn liền hai người bạn hàng (đối tác) với nhau trên thị trường. Người
tiêu dùng đồng thời là người đồng sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch vụ.
Các vấn đề có tính chất biểu trưng đó có thể thấy được tại các quán ăn nhanh,
khách sạn, nhà hàng, bảo hiểm, ngân hàng, dịch vụ giao thông vận tải. Ở đây,

tuần. Chính đặc tính cầu cao điểm của dịch vụ dẫn đến tình trạng cung cầu về
dịch vụ dễ mất cân đối, vừa gây lãng phí cơ sở vật chất lúc trái vụ và chất
lượng dịch vụ có nguy cơ giảm sút khi gặp cầu cao điểm. Vì vậy các doanh
nghiệp thường có các chương trình khuyến mại đối với khách đi nghỉ trái vụ
khi cầu giảm hoặc tổ chức quản lý tốt chất lượng dịch vụ khi cầu cao điểm.
Thứ năm, Tính trọn gói và không đồng nhất của dịch vụ du lịch: Dịch
vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói bao gồm các dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ
sung. Tính chất trọn gói của dịch vụ du lịch xuất phát từ nhu cầu đa dạng và

16


tổng hợp của du khách. Mặt khác nó đòi hỏi tính chất đồng bộ của chất lượng
dịch vụ.
Do khách hàng rất muốn được chăm sóc như những con người riêng
biệt nên dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất. Doanh
nghiệp du lịch rất khó có thể đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ để thoả mãn tất cả
các khách hàng trong mọi hoàn cảnh vì sự thoả mãn đó phụ thuộc vào sự cảm
nhận và trông đợi của từng khách hàng. Khi khách hàng trông đợi một mức
nhất định về dịch vụ và cảm nhận rằng sự tương đương hay mức cao hơn đã
được tạo ra, họ sẽ thoả mãn, thậm chí khi một dịch vụ tốt được thực hiện, mà
sự trông đợi của khách hàng đối với dịch vụ cao hơn, khách hàng sẽ không
thoả mãn. Điều đó yêu cầu doanh nghiệp du lịch phải quản lý được sự trông
đợi của khách hàng và thực hiện chất lượng dịch vụ. Để thấy rõ được sự khác
nhau giữa sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ, ta có thể minh hoạ bằng sự
so sánh sau: (Theo bảng 1.1, tr.16)
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm vật chất

Sản phẩm dịch vụ

khác nhau
- Có thể vận chuyển được

- Không thể vận chuyển được ngay cả khi người sản xuất
mong muốn

- Có thể quan hệ gián tiếp với khách hàng

- Trong đại đa số các trường hợp phải quan hệ trực tiếp với
khách hàng

- Có thể xuất khẩu được

- Thông thường dịch vụ khó xuất khẩu được nếu không có
sự trợ giúp của chủ thể vật chất

-Khách hàng là một thành viên chỉ trong quá trình tiêu

-khách hàng là một thành viên trong quá trình sản xuất và

dùng

tiêu dùng

17


Như vậy, để phát triển du lịch cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ và
dịch vụ du lịch. Bởi chất lượng dịch vụ là sự thoả mãn nhu cầu của khách
hàng được xác định bởi dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi được mô

vượt quá sự trông đợi
2. Chất lượng dịch vụ
thoả mãn
3. Chất lượng dịch vụ
dưới mức trông đợi

Như vậy, chất lượng dịch vụ du lịch chính là mức phù hợp của dịch vụ
mà các nhà cung ứng có thể thoả mãn các yêu cầu, kể cả yêu cầu cao của
khách hàng, khách du lịch thuộc thị trường mục tiêu của mình.
1.1.1.2: Phát triển du lịch
- Phát triển du lịch là tất yếu khách quan
Du lịch là một quan hệ kinh tế ra đời cách đây hàng thế kỷ và trở thành
một hiện tượng phổ biến kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lịch sử
phát triển của xã hội đã chứng minh du lịch không thể ra đời và phát triển do
sự tác động chủ quan, tuỳ tiện của các cá nhân hay lực lượng xã hội nào. Sự
ra đời và phát triển của du lịch là tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển
kinh tế xã hội.

18


Ngày nay, trước sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại, con người sống dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá càng
làm nảy sinh nhu cầu dành thời gian quay trở về với thiên nhiên, với cội nguồn.
Đó là một trong những nguyên nhân làm cho du lịch phát triển mạnh mẽ.
Trên thực tế nhu cầu của con người ngày càng phát triển cùng với sự
phát triển kinh tế, nhu cầu du lịch cũng không ngoài khả năng đó. Nhu cầu đi
du lịch chỉ có thể nảy sinh đối với những người mà đời sống vật chất của họ đã
được đáp ứng một cách tương đối đầy đủ. Đồng thời đòi hỏi họ phải có thời
gian nhàn rỗi, có đủ điều kiện để tiến hành các cuộc hành trình dài ngày để


Nguồn: [13, tr.80]

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status