ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
NGUYỄN THỊ HẢI VÂN
VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ XHCN
Mã số:
5.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHẠM VĂN DŨNG
HÀ NỘI - 2004
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................................3
1. Tính cấp thiết của đề tài ...........................................................................................................3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .....................................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................................4
của mọi quốc gia. Nó đang tồn tại như một thách thức lớn và là một trong
những mối quan tâm hàng đầu đối với hầu hết các nước trên thế giới.
Ở nước ta trong những năm gần đây đường lối đổi mới, phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đã tạo ra
nhiều điều kiện thuận lợi để người lao động có cơ hội tự tạo việc làm và có
việc làm đáp ứng yêu cầu bức xúc về đời sống, góp phần ổn định tình hình
kinh tế - xã hội. Song bên cạnh đó, thực trạng lao động dư thừa và thiếu việc
làm trong nông thôn vẫn đang là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và
của toàn xã hội. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt
Nam lần IX khẳng định: Đẩy nhanh CNH- HĐH nông nghiệp và nông thôn
theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị
trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề,
cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn. Vấn đề này
được đặt ra không chỉ bởi tầm quan trọng của phát triển kinh tế nông thôn
trong bối cảnh chung của đất nước mà còn vì nông thôn là nơi cư trú, sinh
sống và làm ăn của một bộ phận lớn lao động và dân cư cả nước. Vì vậy, giải
quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn trong bối cảnh hiện nay đang
là vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của sự nghiệp CNH- HĐH, có ý nghĩa kinh
tế, chính trị, xã hội quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đặc biệt, trong những năm
gần đây, vấn đề giải quyết việc làm cho những người lao động ở nông thôn là
đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu, thảo luận trên những khía cạnh khác
nhau như:
2
"Vấn đề di chuyển lao động từ các vùng nông thôn vào thành phố" của
PTS Lê Đăng Giảng - Trung tâm Nghiên cứu nguồn lao động, Bộ Lao ĐộngThương binh - Xã hội, Hà nội, 1996.
- Đánh giá thực trạng lao động việc làm ở nông thôn trong những năm
gần đây, chỉ ra những thiếu sót và khó khăn cần khắc phục.
- Kiến nghị phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết
việc làm cho lao động ở nông thôn trong quá trình CNH - HĐH đất nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm ở nông
thôn nước ta từ khi đổi mới đến nay.
* Phạm vi: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu sự vận
động, biến đổi của vấn đề việc làm ở nông thôn nước ta, các nhân tố tác động
đến vấn đề này và xu hướng vận động của nó trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là:
phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, thống kê so sánh…
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm.
- Làm rõ thực trạng việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay.
- Kinh nghiệm của một số nước về giải quyết việc làm ở nông thôn.
- Luận chứng các định hướng, một số giải pháp để nhằm giải quyết việc
làm đúng hướng và có hiệu quả cho lao động ở nông thôn trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm ở nông thôn.
Chương 2: Thực trạng việc làm ở nông thôn Việt nam.
4
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho
việc làm là hình thức vận dụng sức lao động, là hoạt động có chủ đích của con
người, được tiến hành trong một không gian và thời gian nhất định với sự kết
hợp các yếu tố vật chất - kỹ thuật khác.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu việc làm là tác động qua lại giữa
hành động của con người với những điều kiện vật chất - kỹ thuật và môi
trường tự nhiên, tạo ra giá trị vật chất và tinh thần mới cho bản thân và xã hội,
đồng thời những hoạt động lao động phải trong khuôn khổ pháp luật cho
phép. Nói cách khác, việc làm là tổng thể các hoạt động kinh tế có liên quan
đến thu nhập và đời sống của dân cư. Việc làm là hoạt động kinh tế - xã hội
rộng lớn và đa dạng. Người ta có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau để
xác định hoạt động nào là việc làm, hoạt động nào không phải là việc làm và
thế nào là: thời gian làm việc, mức thu nhập, hiệu qủa kinh tế - xã hội... Trong
cuốn sách "Mối quan hệ giữa dân số và việc làm" của tác giả Đặng Xuân
Thao thì định nghĩa việc làm như sau: "Việc làm là hoạt động có ích, không bị
pháp luật cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người
dân, gia đình hoặc cộng đồng ".
Liên quan chặt chẽ với khái niệm việc làm, hai tác giả Nguyễn Hữu
Dũng và Trần Hữu Trung trong cuốn sách "Về chính sách giải quyết việc làm
ở Việt Nam" đã đưa ra khái niệm về người có việc làm như sau: "Người có
việc làm là người đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt
động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản
thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội ".
Khái niệm này cũng phù hợp với quan niệm của Tổ chức Lao động
quốc tế (I LO) về người có việc làm như sau: “Người có việc làm: Là những
người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc những người tham
gia vào các hoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích hay thay thế thu
nhập của gia đình" [45].
6
- Các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
- Những công việc tự làm để tạo thu nhập và thu lợi nhuận cho bản thân
hoặc chỉ cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện
vật) cho công việc đó.
Sự thay đổi nhận thức về việc làm đã dẫn đến các thay đổi về tư tưởng
chính sách và biện pháp giải quyết việc làm. Từ chỗ giải quyết việc làm là
trách nhiệm của Nhà nước và chỉ khi làm việc trong cơ quan Nhà nước mới
được coi là việc làm đã chuyển sang nhận thức mới. Đó là: Mọi hoạt động lao
động - xã hội, tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa
nhận là việc làm. Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi
trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc.
Tham gia vào quá trình này có nhiều thành phần, đó là Nhà nước, các doanh
nghiệp, các đoàn thể và cá nhân từng người lao động trong toàn xã hội. Người
lao động không thụ động chờ đợi Nhà nước bố trí việc làm mà chủ động tự
tạo việc làm cho mình và cho người khác trong môi trường kinh tế - xã hội,
luật pháp thuận lợi do Nhà nước đặt ra. Trách nhiệm của Nhà nước đã chuyển
đổi từ vị trí độc tôn trong giải quyết việc làm trước đây, sang ban hành cơ chế,
chính sách, luật pháp đảm bảo cho người lao động tự do hành nghề, các đơn
vị sản xuất kinh doanh được quyền tự do thuê mướn lao động...
Từ những quan niệm trên có thể hiểu việc làm như sau:
Việc làm là hoạt động lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm,
tạo thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình người lao động hoặc cho
một cộng đồng nào đó.
Với cách hiểu trên, nội dung của khái niệm việc làm được mở rộng và
tạo ra khả năng to lớn giải phóng sức lao động, giải quyết việc làm cho nhiều
người. Người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tạo
việc làm và tự do thuê mướn lao động theo luật pháp của Nhà nước, để tự tạo
việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội theo quan hệ cung - cầu về
lao động trên thị trường.
dụng hết thời gian quy định và nhận được thu nhập thấp từ công việc khiến họ
9
có nhu cầu làm thêm. Tình trạng thiếu việc làm còn gọi là bán thất nghiệp.
Người lao động ở trong tình trạng này thường là lao động nông thôn, theo
mùa vụ, lao động khu vực thành thị không chính thức, lao động ở các cơ sở
sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn, lao động khu vực nhà nước dôi dư.
Tỷ lệ người thiếu việc làm là phần trăm số người thiếu việc làm so với
dân số hoạt động kinh tế (lực lượng lao động). Tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động là phần trăm của tổng số ngày công làm việc thực tế so với tổng số ngày
công có nhu cầu làm việc (bao gồm số ngày công thực tế đã làm việc và số
ngày có nhu cầu làm thêm) của dân số hoạt động kinh tế.
- Thất nghiệp:
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình cảnh của
những người lao động không có việc làm vì những lý do ngoài ý muốn của
họ, do đó không có thu nhập.
Như vậy, thất nghiệp là những người có khả năng lao động, có nhu cầu
lao động nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việc hoặc đang
chờ đợi trở lại làm việc. Thất nghiệp là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia.
Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình
kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia.
Tỷ lệ thất nghiệp được tính theo công thức sau:
Số người thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp =
x 100%
Lực lượng lao động
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, người ta chia thất nghiệp ra
số việc làm tăng hàng năm ở nông thôn chỉ đáp ứng được dưới 60% nhu cầu.
Trong khi công nghiệp và ngành nghề ở các địa phương chỉ thu hút thêm
được một số lượng không nhiều.
Sản xuất nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực tạo việc làm truyền thống
và thu hút nhiều lao động của dân cư nông thôn, nhưng bị giới hạn bởi diện
tích đất canh tác vốn rất hạn hẹp và có xu hướng giảm dần do quá trình đô thị
hoá và công nghiệp hoá đang phát triển mạnh ở các nước. Điều đó đã hạn chế
khả năng giải quyết việc làm ở nông thôn. Nếu tình trạng dân số còn gia tăng
11
thì sự khan hiếm đất nông nghiệp càng trầm trọng thêm, đưa đến hậu quả
ngày càng thiếu việc làm cho lao động nông nghiệp, nếu lực lượng này không
được chuyển dần sang khu vực sản xuất khác.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ của
các quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng, tiểu
vùng như: đất đai, khí hậu, thời tiết... Quá trình sản xuất mang tính thời vụ
cao, thu hút lao động không đồng đều, trong ngành trồng trọt việc làm chỉ tập
trung chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi
rãi đó là lao động " nông nhàn" trong nông thôn.
* Việc làm mang tính thời vụ
Quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao và thu hút nhiều lao động
không đồng đều, hay nói cách khác thời gian làm việc không rõ ràng, không
cụ thể vì vào ngày mùa thì thời gian lao động tăng cao, những ngày nông
nhàn làm việc ít và trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn
thường chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các địa
phương khác hành nghề để tăng thu nhập. Tình trạng thời gian nông nhàn
cùng với thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên
gây nên hiện tượng di chuyển lao động trong nông thôn từ vùng này đến vùng
khác, từ nông thôn ra thành thị, tạm thời hoặc lâu dài.
hoặc có thu nhập thấp.
Nếu xem xét trên phương diện nghề nghiệp, sự phân bố các nguồn lực
và thành phần dân cư ở nông thôn có thể thấy tình trạng thiếu việc làm, dư
thừa lao động tập trung cao ở nhóm hộ thuần nông, hộ nghèo thiếu đất canh
tác, thiếu vốn và phương tiện sản xuất, thiếu năng lực và kinh nghiệm sản
xuất kinh doanh. Đối tượng thiếu việc làm trước hết là phụ nữ, lao động trẻ
không có nghề, vị thành niên và các đối tượng xã hội khác. Đây là nhóm dân
cư yếu thế, dễ tổn thương trong điều kiện kinh tế thị trường. Nhiều người
trong số họ không có khả năng và cơ hội tiếp cận nghề nghiệp, việc làm hoặc
thiếu các điều kiện để tạo lập và tìm kiếm việc làm.
13
Sản xuất nông nghiệp luôn luôn phụ thuộc vào các yếu tố: đất đai, cơ
sở hạ tầng như : giao thông, thuỷ lợi và các hoạt động dịch vụ sản xuất như
cung ứng giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch chế biến và tiêu thụ
sản phẩm... Do đó, tạo việc làm ở nông thôn phải dựa trên cơ sở đẩy mạnh
thâm canh, phát triển các hoạt động dịch vụ.
Trong nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông
nghiệp (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ) thường bắt nguồn từ lao
động của kinh tế hộ gia đình. Các thành viên trong gia đình có thể chuyển đổi,
thay thế để thực hiện công việc của nhau. Vì vậy, việc chú trọng thúc đẩy phát
triển các hoạt động khác nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong những biện
pháp giải quyết việc làm có hiệu quả.
Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi với
các cây trồng vật nuôi khác nhau, đồng thời thu nhập cũng rất khác nhau, vì
vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thu dụng nhiều lao
động cũng là biện pháp tạo thêm việc làm ngay trong sản xuất nông nghiệp.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là hoạt động phi nông
1.2. Những nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hƣởng đến việc làm ở nông thôn
hiện nay
1.2.1. Tàì nguyên đất đai ở nông thôn
Đất đai là một yếu tố của quá trình sản xuất, có vai trò đặc biệt không
chỉ đối với nông nghiệp mà còn đối với công nghiệp, dịch vụ phi nông
nghiệp…
Nước ta có diện tích hơn 330.000 km2, đứng thứ 58 trên thế giới; diện
tích bình quân đầu người là 0,45ha, đứng thứ 159 trong số gần 200 nước trên
thế giới. Hiện cả nước có 8,1 triệu ha đất nông nghiệp, bình quân 0,68ha/hộ
nông nghiệp và bình quân một lao động nông nghiệp có 0,27 ha, đặc biệt
vùng đồng bằng sông Hồng bình quân một lao động nông nghiệp chỉ có
600m2. Nhu cầu lao động ở nông thôn cho nông nghiệp tối đa chỉ 19 triệu
người. Nếu không phát triển mạnh việc làm phi nông nghiệp, sẽ dư thừa
tương đối lao động rất lớn, khoảng 10 triệu người [23].
15
Trong quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu
hẹp, nhất là ở những vùng nông thôn ven đô thị lớn, thị xã, thị trấn, hai bên
trục đường giao thông... Cùng với quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá mạnh,
lao động nông thôn đang có xu hướng tăng lên. Tình hình trên dẫn đến bình
quân diện tích đất canh tác trên một lao động ở nông thôn Việt Nam vào loại
thấp nhất thế giới và do đó thời gian sử dụng ngày công nông nghiệp rất thấp.
Theo tài liệu điều tra, chỉ có 18% lao động nông nghiệp làm 210 ngày/năm,
còn lại làm dưới 200 ngày/ năm, trong đó 21% chỉ làm việc 90 ngày/năm
(mỗi ngày làm bình quân từ 4 - 5 giờ). Theo tính toán, nếu căn cứ vào quỹ đất
và làm thuần nông, lao động nông thôn dư thừa ít nhất 30%, tương đương 8- 9
triệu người .
Hiện nay ở nước ta diện tích đất nông nghiệp có khả năng khai thác còn
rất lớn, khoảng 9 triệu ha rừng và đất trống, đồi trọc, 90 vạn ha mặt nước, ao,
mới.
Đối với lĩnh vực lao động - việc làm, sự phát triển của khoa học công
nghệ mang lại nhiều cơ hội để con người phát huy khả năng của mình, nhưng
đồng thời cũng tạo ra không ít thách thức. Kinh nghiệm của các nước phát
triển cho thấy, việc phổ biến các phương tiện tự động hoá sẽ làm cho những
nước có sức lao động rẻ và dư thừa bị mất dần ưu thế. Xu hướng hiện nay là
tăng lao động khoa học kỹ thuật và giảm lao động giản đơn, kỹ năng thấp.
Như vậy, trong xã hội hiện đại, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan
trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm. Các quốc gia không lường trước
được hiện tượng này của sự phát triển khoa học và công nghệ sẽ dẫn đến tình
trạng mất cân đối trong nguồn nhân lực. Vì vậy, khi phát triển khoa học và
công nghệ, chắc chắn xảy ra xu hướng gia tăng thất nghiệp của đội ngũ công
nhân không lành nghề. Ngay ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là
doanh nghiệp có liên doanh với nước ngoài, sử dụng công nghệ tiên tiến cũng
không tuyển dụng đủ lao động do lao động được đào tạo thấp. Thực tế cho
thấy, trang bị máy móc, thiết bị càng hiện đại thì nguy cơ thất nghiệp càng
cao. Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung là giải pháp rất
quan trọng để hạn chế thất nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này, trước hết
17
cần có những biện pháp nhằm tăng cường năng lực thể chế của các cơ quan
hoạt động trong lĩnh vực lao động- việc làm. Thực hiện có hiệu quả chương
trình việc làm quốc gia thông qua nhiều hoạt động: đào tạo nghề cho nông
dân, phát triển nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng đầu tư
kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội...
1.2.3. Dân số và tỷ lệ tăng dân số
Việt Nam thuộc loại hình dân số trẻ, có tốc độ tăng dân số cao, quy mô
tương đối lớn nên lực lượng lao động rất dồi dào, đặc biệt là khu vực nông
thôn, lao động chiếm tỷ trọng lớn. Hàng năm, nguồn lao động cả nước vẫn
%
1000
2003
%
1000
người
người
người
người
77.912
78.713
79.930
80,782
%
38,643
100
79,55
30189
77,17
31000
76,13
32
76
18
nông thôn
Nguồn: Số liệu điều tra lao động - việc làm toàn quốc 1999-2003
(Bộ Lao động Thương binh - Xã hội và Tổng cục Thống kê, NXB
Thống kê, Hà Nội).
Qua số liệu điều tra trên ta thấy quy mô lực lượng lao động hàng năm
gia tăng theo sự gia tăng của dân số (tuy dân số năm 1999 có giảm nhưng số
người tham gia vào lực lượng lao động vẫn tăng). Trong đó lực lượng lao
động nông thôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lực lượng lao động của cả
nước, tuy xu thế có giảm nhưng vẫn tăng nhanh về số tuyệt đối.
Trong 3 thập kỷ qua, mặc dù tỷ lệ dân số hàng năm ở nước ta liên tục
giảm, từ 3% xuống còn 1,8% nhưng tốc độ dân số vẫn còn cao gây sức ép
thôn nói riêng trong thời gian tới.
Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế- xã
hội đáng kể. Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số trong những năm trước đây
quá nhanh, nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều, tốc độ
tạo việc làm không tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao động. Trong
thời kỳ 1976- 1980, tỷ lệ tăng nguồn lao động bình quân hàng năm là 3,25%,
con số tương ứng của thời kỳ 1981-1985 là 2,87%, thời kỳ1986-1990 là
3,06%, thời kỳ 1991 - 1995 là 2,27% và năm 2003 là 1,8%. Trong giai đoạn
1991 - 1996 chúng ta đã giải quyết được trên 6 triệu việc làm. Từ 1997 - 2003
giải quyết được khoảng 7 triệu việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế, số người
bước vào độ tuổi lao động hàng năm vẫn cao hơn nhiều so với chỗ làm việc
có thể tạo ra, đó là một sức ép lớn. Ngoài ra còn phải kể đến sức ép của số lao
động bị mất việc làm do tác động của khủng hoảng kinh tế, của sức cạnh
tranh yếu kém của nền kinh tế nước ta. Chỉ tính riêng trong khu vực nhà
nước, đến cuối năm 1998 đã có khoảng 10% số lao động không bố trí được
việc làm. Theo điều tra của Bộ Lao động - Thương Binh và xã hội, năm 2003
tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nông thôn giảm xuống còn 5,78%
(giảm 0,23% so với năm 2002); tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 6,28%
năm 2001 xuống 6,01% năm 2003, tỷ trọng lao động ở nông thôn tăng tử 74,
20
37% năm 2001 lên 76% năm 2003. Các số liệu thống kê và dự báo dân số còn
cho thấy, năm 1990 số người trong độ tuổi lao động mới là 35,7 triệu người,
năm 2002 là 47 triệu và năm 2015 con số này sẽ lên tới 62 triệu người. So với
năm 1990 đến năm 2015 sẽ có thêm 26 triệu người trong độ tuổi lao động [9],
[26], [41].
Dân số và việc làm có quan hệ vừa tương hỗ vừa hạn chế lẫn nhau, qui
mô dân số lớn, dân số tăng nhanh tất yếu sẽ làm tăng nguồn lao động và đồng
nghĩa với tăng sức ép về giải quyết việc làm với mỗi thành viên và cộng đồng,
những chủ thể kinh tế độc lập, tự mình quyết định sản xuất cái gì, sản xuất
như thế nào và cho ai. Đây chính là cơ hội cho các cá nhân và gia đình tạo
việc làm và thu nhập cho bản thân mình. Cơ chế quản lý kinh tế mới cùng với
các chính sách kinh tế đã làm cho khu vực kinh tế nông thôn có cơ sở ngày
càng mở rộng.
1.2.5 Thị trường lao động
Ở nước ta hiện nay quan hệ cung cầu về lao động còn căng thẳng về
mặt kết cấu dẫn đến tình trạng "thất nghiệp kết cấu”. Điều này thể hiện ở chỗ
một số ngành tiềm năng còn lớn, có khả năng thu hút được nhiều lao động,
nhưng chưa tạo ra được những điều kiện để biến khả năng thành hiện thực (về
vốn, kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ, thị trường tiêu thụ...) như lâm
nghiệp, dịch vụ và du lịch... Ở một số vùng miền núi, đồng bằng sông Cửu
Long, ven biển vẫn thiếu sức lao động, nhưng khả năng di dân và di chuyển
lao động đến rất hạn chế. Tình trạng này tiếp tục kéo dài trong những năm tới,
dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm vì chúng ta thiếu vốn đầu tư nghiêm trọng,
chiến lược lựa chọn công nghệ thích hợp chưa được xác định rõ ràng, cơ cấu
kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch, nhưng diễn ra chậm chạp và khó
khăn, cung lớn hơn cầu về lao động do lao động còn tăng với tỷ lệ cao 3,2%3,5%/ năm, dẫn đến mỗi năm có khoảng 1,1 triệu thanh niên bước vào tuổi
lao động. Trong khi đó lao động nông thôn chiếm khoảng 70% lao động trong
cả nước, nếu chỉ làm thuần nông, tự cung tự cấp thì số lao động thiếu hoặc
không có việc làm lên tới 30%. Số này sẽ tự phát di chuyển ra thành phố hoặc
22
khu công nghiệp tập trung để tìm việc làm, làm cho cung về lao động càng
lớn. Trên thực tế đang có xu hướng lao động bị đẩy ra ở một số lĩnh vực thì
đồng thời một số lĩnh vực và hình thức khác lại xuất hiện khả năng thu hút
thêm lao động như kinh tế hộ gia đình, khu vực phi kết cấu, doanh nghiệp
nhỏ, nhưng lại chưa có chính sách khuyến khích thoả đáng. Đặc biệt là thiếu
một đội ngũ lao động có trình độ cao để làm việc trong một số lĩnh vực áp
tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể. Có
thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề việc
làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ
sung cho nhau, hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời
làm cho cung và cầu phù hợp với nhau. Mặt khác, trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường, tình trạng thất nghiệp là điều khó tránh. Để hạn chế
thất nghiệp, một mặt phải tạo ra chỗ làm việc mới, mặt khác phải tránh cho
người lao động đang làm việc lâm vào thất nghiệp. Ngoài ra, phải có hệ thống
bảo hiểm cho người lao động khi họ bị thất nghiệp.
Chính sách việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách xã
hội và các chính sách kinh tế. Thực hiện tốt chính sách việc làm, nguồn lao
động được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi, sẽ giảm
được chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp. Ngược lại, khi chính sách việc làm
chưa được giải quyết tốt, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên và các tệ nạn xã hội sẽ dễ
dàng phát sinh. Khi đó gánh nặng của các chính sách về bảo đảm xã hội, an
ninh xã hội sẽ tăng lên và còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị- xã hội.
Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải dược
lưu ý, đó là đảm bảo cho mọi người được tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ
sở Nhà nước tạo ra những điều kiện thuận lợi cho mọi người có cơ hội chủ
động tìm kiếm việc làm, chống tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, tránh thực hiện
chủ nghĩa bình quân, chia đều việc làm với thu nhập thấp. Đồng thời, cũng
chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế, khiến cho tình trạng thất nghiệp trở thành vấn đề xã hội gay cấn. Cần gắn
tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh nghiệp trong chính sách
khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp.
24