Bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở việt nam hiện nay luận văn ths kinh tế 60 31 01 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------------------------------

NGUYỄN TRUNG KIÊN

BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA
NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - Năm 2012
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------------------------------------------

NGUYỄN TRUNG KIÊN

BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA
NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số:

60 31 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phí Mạnh Hồng

7

đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
1.1. Các khái niệm và thước đo bất bình đẳng

7

1.1.1. Khái niệm về thu nhập và các hình thức của thu nhập

7

1.1.2. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng xã hội trong phân

9

phối thu nhập
1.1.2.1. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng thu nhập nói chung

9

1.1.2.2. Khái niệm và thước đo bất bình đẳng thu nhập giữa nông

12

thôn và thành thị
1.2. Tầm quan trọng của việc giải quyết bất bình đẳng thu nhập giữa

14

nông thôn và thành thị

23

1.5.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

32

Chương 2: Thực trạng về bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn

34

và thành thị của Việt Nam trong thời gian qua
2.1. Thực trạng về khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị

34

trong quá trình đổi mới qua các chỉ số
2.1.1. Động thái thu nhập của người dân ở nông thôn và thành thị

34

2.1.2. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị qua các số

37

liệu thống kê hiện hành
2.1.3. Khoảng cách thực tế về thu nhập giữa nông thôn và thành thị

46

2.2. Đánh giá chung bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành

đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
3.1.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

67

3.1.2. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

70

3.2. Các quan điểm xử lý vấn đề bất bình đẳng thu nhập giữa nông

74

thôn và thành thị
3.2.1. Từng bước bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa

74

nông thôn và thành thị
3.2.2. Tăng trưởng và phát triển bền vững làm cơ sở để giải quyết

75

vấn đề bất bình đẳng
3.2.3. Quan điểm hỗ trợ các nhóm xã hội yếu thế, đặc biệt ở nông

77

thôn cũng như dân nghèo thành thị
3.3. Các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề bất bình đẳng về thu

về kinh tế - xã hội cần phải giải quyết như gây bức xúc trong xã hội,
sự di cư lao động từ nông thôn ra thành thị.
Vì vậy, việc phân tích rõ thực trạng bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập giữa nông thôn và thành thị để từ đó đưa ra các giải
pháp thích ứng là một công việc có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực
tiễn. Đó chính là lý do mà vấn đề “Bất bình đẳng thu nhập giữa
nông thôn và thành thị ở Việt Nam hiện nay” được tác giả chọn
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình thể hiện dưới các sách, bài báo viết
về vấn đề công bằng và bất bình đẳng xã hội nói chung trong nền

3


kinh tế thị trường như đề tài “Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn
kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta”
do GS.TS Hoàng Đức Thân viết, đề cập đến hệ thống lý luận, thực
trạng và giải pháp để thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội ở nước ta. Đi vào vấn đề công bằng trong phân
phối thu nhập, đặc biệt đi vào nghiên cứu bất bình đẳng thu nhập
giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị nói riêng thì có thể
kể đến một số bài viết, cuốn sách như: Cuốn sách Kinh tế hộ gia đình
ở nông thôn Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát triển của TS
Chu Tiến Quang và ThS Lưu Đức Khải. Hoặc một bài viết khác là:
”Về chênh lệch thu nhập vùng và giữa thành thị - nông thôn trong
kinh tế Việt Nam” của GS TS Nguyễn Mạnh Hùng. Tổng hợp các
bài viết, quan điểm trên có thể thấy được sự bất bình đẳng về thu
nhập của người dân nông thôn và thành thị Việt Nam là rõ nét. Tuy
nhiên gần như chưa có một công trình “dài hơi”, nghiên cứu một cách

nghiệp hóa, hiện đại hóa khoảng thời gian từ năm 1996 đến nay.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tƣ liệu chủ yếu
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản
Việt Nam; các Nghị quyết Trung ương; các chương trình, chính sách
và các báo cáo tổng kết của Đảng, Nhà nước về bất bình đẳng thu
nhập giữa nông thôn và thành thị.
- Các số liệu thống kê của Tổng cục thống kê đặc biệt là các
báo cáo, khảo sát về thu nhập của hộ gia đình Việt Nam.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

5


Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận
khoa học là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử. Trong luận văn, tác giải chú trọng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch và áp dụng các
phương pháp nghiên cứu thực tiễn như khảo sát, đánh giá, tổng kết
thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ bức tranh về bất bình đẳng kinh tế, đặc
biệt là về thu nhập giữa nông thôn và thành thị và các hệ quả kinh tế
- xã hội của sự bất bình đẳng đó ở nước ta.
- Đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng
thu nhập ở nông thôn và thành thị trong thời gian tới, từ đó thu hẹp
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có kết cấu 3 chương là:

nói chung
+ Bình đẳng là được đối xử như nhau về các mặt chính trị,
xã hội, kinh tế, văn hóa… không phân biệt thành phần và địa vị xã
hội.
+ Công bằng là khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp
quyền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản chất và quyền con
người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá
nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của họ, giữa hành vi với sự
đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền

7


với nghĩa vụ - không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất
công.
Bất bình đẳng kinh tế là một ý niệm chuẩn tắc. Nó mô tả sự
sai lệch của phân phối thu nhập thực tế so với một phân phối thu
nhập chuẩn nào đó. Nếu sự sai lệch càng ít (nhiều) thì mức độ bất
bình đẳng càng thấp (cao). Phân phối thu nhập chuẩn thường được
suy ra từ quan điểm công bình xã hội mà đa số người trong xã hội
chấp nhận. Ý niệm bất bình đẳng kinh tế hàm ý phán đoán đạo đức,
theo nghĩa bất bình đẳng kinh tế ít (nhiều) là điều tốt (xấu). Dưới các
tiền đề về công bình xã hội, một nhà kinh tế chuẩn tắc sẽ tìm hiểu
nguyên nhân và hậu quả của bất bình đẳng kinh tế, đưa ra một vài đề
xuất để làm giảm mức độ bất bình đẳng kinh tế với mục đích làm
tăng phúc lợi xã hội.
Bất bình đẳng về thu nhập là để chỉ sự chênh lệch về thu
nhập giữa các cá nhân hay nhóm người trong xã hội.
1.1.2.2. Khái niệm và thước đo bất bình đẳng thu nhập giữa
nông thôn và thành thị.

thôn và thành thị, chúng ta còn có thể so sánh chênh lệch về chi tiêu,
tài sản giữa cư dân nông thôn và thành thị. So sánh tỷ lệ đầu tư vào
khu vực nông thôn và đầu tư vào khu vực thành thị, so sánh tỷ lệ đầu
tư của khu vực FDI, đầu tư của tư nhân, đầu tư của nhà nước vào
từng khu vực nông thôn, thành thị.
1.2. Tầm quan trọng của việc giải quyết bất bình đẳng
thu nhập giữa nông thôn và thành thị.

9


Để phát triển bền vững thành quả tăng trưởng phải được san
sẻ tương đối đồng đều, trong đó thu nhập phải được phân phối công
bằng. Nếu không chênh lệch thu nhập sẽ làm giảm mức tăng trưởng
kinh tế, và ngược lại, tăng trưởng kinh tế không có tác động tiêu cực
lên sự thay đổi của mức phân hoá giàu nghèo.

Ngoài ra, một số nhà kinh tế liên kết phân hóa giàu
nghèo và bất ổn xã hội. Tỉ lệ bất bình đẳng cao không những
tạo ra sự bức xúc trong dân chúng mà còn cản trở sự tích lũy
vốn con người, cản trở quá trình xây dựng một tầng lớp trung
lưu to lớn và vững mạnh có khả năng dịch chuyển xã hội một
cách tích cực. Hơn nữa, bất bình đẳng thu nhập là một nguyên nhân
quan trọng đưa đến bất bình đẳng về cơ hội.
1.3. Các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập giữa
nông thôn và thành thị.
1.3.1. Các lý do gây ra sự bất bình đẳng thu nhập nói chung
trong nền kinh tế thị trường.
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ tài sản
+ Do vốn góp: ngưởi có nhiều vốn đầu tư khác nhau, khi

- Những nguyên nhân khác như sự phân biệt đối xử trong xã
hội do sự khác biệt về vùng địa lý; ảnh hưởng của rủi ro thiên tai; sự
tham nhũng; sự quan tâm khác nhau của nhà nước với các vùng
miền, khu vực…
- Tình trạng lạm phát cao trong những năm gần đây đã gây
đặc biệt khó khăn cho tầng lớp người dân nghèo. Vùng nông thôn đã
khốn khó thì việc giải quyết nghèo đói, tăng cao thu nhập càng khó
khăn hơn.

11


- Ngoài ra phải kể đến tập quán sinh hoạt, sự trì trệ tại các
vùng nông thôn góp phần kém phát triển tại các vùng này. Kèm theo
hoạt động nông - ngư - nghiệp năng suất lao động thấp thường chịu
ảnh hưởng nhiều của thiên tai nên hiệu quả kinh tế thấp, thu nhập
thấp.
1.4. Vai trò của nhà nƣớc trong việc giải quyết vấn đề bất
bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do
mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực – trực tiếp là bộ phận
kinh tế nhà nước – để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối
và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua
phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng
xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp
nghĩa… Nhà nước cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng
phúc lợi xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.5. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề bất bình đẳng thu

đã tăng từ 275.000 đồng/người/tháng lên 378.000 đồng năm 2004,
năm 2006 là 506.000 đồng, năm 2008 là 762.000 đồng và năm 2010
là 1070 đồng/người/tháng.
Theo hộ gia đình, năm 2006, thu nhập bình quân một hộ
nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (75,8%) so với
năm 2002. Tại thời điểm 1-7-2011, tích lũy bình quân một hộ nông
thôn bằng tiền mặt và các khoản khác đạt 17,4 triệu đồng, so với tại
thời điểm 1-7-2006 là 6,7 triệu đồng (trung bình tích lũy đạt
1.592.000 đồng/người/năm), tăng gấp 2,6 lần (con số tương ứng của
năm 2006 so với năm 2001 là 3,2 triệu đồng, tăng gấp 2,1 lần).

13


Với người dân thành thị tại Việt Nam, năm 1999, thu nhập
bình quân đầu người đạt 517.000 đồng. Đến năm 2002 là 622.000
đồng, năm 2006 là 1.058.000 đồng, năm 2008 là 1.605.000 đồng,
tăng 51,7% so với năm 2006 và năm 2010 tăng lên 2.130.000 đồng,
tăng 32,7% so với năm 2008.
2.1.2. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị qua
các số liệu thống kê hiện hành.
Theo tỷ lệ thu nhập, khoảng cách thu nhập giữa người dân
nông thôn và thành thị liên tục giảm qua các năm. Thu nhập bình
quân một người một tháng năm 1993 ở khu vực thành thị tương ứng
gấp khu vực nông thôn là 2,34. Đến năm 2010 thu nhập bình quân
của người dân thành thị là 2.130.000 đồng/người/tháng, người dân
nông thôn là 1.070.000 đồng/người/tháng, gấp sấp sỉ 2 lần.
Theo mức thu nhập tuyệt đối, khoảng cách thu nhập giữa
người dân nông thôn và thành thị liên tục tăng qua các năm. Năm
1999, chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là 296.000

55,8%) và chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng chi (ở nông thôn là 52,5%
và thành thị là 46,1%). Điều này phần nào phản ánh sự khác biệt thu
nhập ở nông thôn là cao hơn so với thành thị.
Theo tỷ lệ hộ nghèo, năm 2011 trong khi thu nhập giữa
thành thị và nông thôn khoảng 2 lần thì tỷ lệ hộ nghèo của nông thôn
và thành thị là 3,1 lần. (15,9% so với 5,1%.).
2.1.3. Khoảng cách thực tế về thu nhập giữa nông thôn và
thành thị.
Các số liệu thống kê chỉ cho thấy những con số có thể thu
thập được. Chúng không phản ánh những nguồn thu nhập bất chính
không được khai báo. Do đó, thực tế bất bình đẳng ở Việt Nam có
thể cao hơn những con số được công bố.

15


Nhóm người có thu nhập thấp nhất ở nông thôn thu nhập
theo giá thực tế tăng 3,3 lần từ năm 2002 đến 2010 thì nhóm thu
nhập cao nhất ở nông thôn tăng 4,1 lần. Trong khi ở thành thị thu
nhập của nhóm người có thu nhập thấp nhất theo giá thực tế tăng
3,44 lần từ năm 2002 đến 2010 và nhóm thu nhập cao nhất tăng 3,36
lần. Ta thấy các nhóm dân cư ở nông thôn và thành thị thu nhập đều
tăng, cuộc sống đều cải thiện nhưng nhóm thu nhập thấp nhất ở nông
thôn tăng chậm nhất và nhóm thu nhập cao nhất ở nông thôn tăng
nhanh nhất.
So sánh giữa nhóm có thu nhập cao nhất ở thành thị và nhóm
có thu nhập thấp nhất ở nông thôn ta thấy mặc dù tỷ lệ không thay
đổi nhiều qua các năm nhưng lại ở mức rất cao: năm 2002 là 14,9
lần, năm 2006 là 14,5 lần và năm 2010 là 15,1 lần. Điều này cho thấy
khoảng cách lớn của các “cực thu nhập” giữa hai khu vực này.

Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới: Từ năm
2008 đến năm 2010, chi tiêu của người dân thành thị tăng 1,46 lần
thì người dân nông thôn tăng 1,53 lần, trong khi tích lũy bằng tiền
mặt của người dân thành thị nông thôn đều giảm 1,19 lần và người
dân nông thôn giảm 1,19. Về mặt tích lũy, cả thành thị và nông thôn
đều nghèo hơn trước và xu thế ở nông thôn nghèo nhanh hơn do phải
chi tiêu nhiều hơn.
2.2. Đánh giá chung bất bình đẳng thu nhập giữa nông
thôn và thành thị ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Mức độ bất bình đẳng và xu hướng của nó.
Theo tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người, mức độ bất bình
đẳng thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng
giảm dần. Năm 2004 là 2,15, 2006 và 2008 đều là 2,1 lần và năm

17


2010 là 2 lần. Trong thời gian tới dự đoán theo tỷ lệ, khoảng cách thu
nhập tiếp tục được cải thiện nhưng sẽ không giảm nhanh.
Ngược lại, theo mức thu nhập tuyệt đối, chênh lệch về thu
nhập giữa nông thôn và thành thị có xu hướng tăng liên tục qua các
năm. Sau mỗi 2 năm thì chênh lệch tuyệt đối tăng khoảng 30% 50%, tức là trung bình khoảng 15 – 25% mỗi năm. Dự đoán chênh
lệch tuyệt đối về thu nhập giữa thành thị và nông tiếp tục tăng trong
thời gian tới.
Khoảng cách giữa nhóm có thu nhập cao nhất ở thành thị và
thấp nhất ở nông thôn vẫn duy trì ở mức cao, khoảng 15 lần và vẫn
có xu hướng tăng chậm. Ngoài ra, dự đoán chệnh lệch nói chung
giữa thành thị và nông thôn xét trên tổng thể nhiều lĩnh vực như tài
sản, giáo dục, y tế, đầu tư, cơ hội… vẫn rất lớn và tương lai chưa thể
thu hẹp ngay khoảng cách này được.

* Chính sách công nghiệp cho nông thôn không được quan
tâm đúng mức.. Đầu tư sản xuất tập trung vào những ngành thu hút
đầu tư nước ngoài mạnh và được bảo hộ cao như ô tô, xe máy, hàng
điện tử tiêu dùng… trong khi thị trường máy móc, vật tư nông
nghiệp phục vụ nông thôn gần như bỏ ngỏ.
* Chính sách, pháp luật về thuế thu nhập chưa được hoàn
thiện. Việc ban hành các quy định về đánh thuế thu nhập với người
có thu nhập cao mới được nhà nước ban hành từ năm 2008, chúng ta
mới trong giai đoạn đầu thực hiện và còn nhiều bất cập trong các quy
định cũng như tính thực tiễn không cao.
* Cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh nghiệp
bình đẳng, thông tin thiếu minh bạch đã tạo kẽ hở cho một số người
giầu lên nhờ đầu cơ (đất đai, chứng khoán…), buôn lậu, tham nhũng,
trốn thuế….

19


Chương 3
CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT BẤT
BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ

3.1.Bối cảnh kinh tế chung và tác động của nó đến vấn đề
bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
3.1.1.Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế.
* Những thách thức: Các quốc gia trợ không được trợ cấp ồ
ạt hoặc bảo vệ quá mức cho nông nghiệp, không cho phép khai thác
bừa bãi tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường ngay từ giai đoạn phát
triển đầu. Tự do hóa thương mại tạo môi trường cạnh tranh quyết
liệt, không thể bán nông sản giá rẻ, chất lượng thấp của kinh tế nông

trọng, hiện tượng ly nông ra các đô thị kiếm sống rất lớn; phân hóa
giàu - nghèo bất bình đẳng xã hội gia tăng; môi trường nông thôn bị
ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng; đời sống văn hóa xã hội có nhiều
biểu hiện xuống cấp.
3.2. Các quan điểm xử lý vấn đề bất bình đẳng thu nhập
giữa nông thôn và thành thị.
3.2.1. Từng bước bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội phát triển
giữa nông thôn và thành thị.
Tạo điều kiện cho người dân ở nông thôn và thành thị có
xuất phát điểm như nhau, có điều kiện tiếp cận các dịch cụ xã hội
như nhau thì sau này, tùy thuộc sự cố gắng, nỗ lực của mỗi người mà
thu nhập mang lại có thể khác nhau nhưng người thu nhập thấp hơn
nhận thấy rằng đó là do yếu tố của bản thân, không phải do xã hội
mang lại.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status