1
Bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và
thành thị ở Việt Nam hiện nay
The current income inequality between rural and urban area in Vietnam
NXB H. : TTĐTBDGV, 2012 Số trang 98 tr. +
Nguyễn Trung Kiên Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS Phí Mạnh Hồng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống hóa một số khía cạnh lý thuyết có liên quan đến vấn đề bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập, đặc biệt là giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị.
Phân tích, đánh giá thực trạng bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở Việt
Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tìm hiểu, lý giải các yếu tố, các
nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng về thu nhập này. Đề xuất các giải pháp để đảm bảo
thu nhập giữa nông thôn và thành thị được công bằng hơn.
Keywords: Thu nhập; Kinh tế chính trị; Nông thôn; Thành thị; Việt Nam
Content
1. Lý do chọn đề tài
Tăng trưởng kinh tế khá toàn diện trong suốt hai thập kỷ đã tạo điều kiện vật chất để đất
nước giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, thực hiện phúc lợi đối với người có công với đất nước,
thực hiện tốt chiến lược xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế ở
nước ta cũng bộc lộ nhiều bất cập: ô nhiễm môi trường, gia tăng các biểu hiện làm giàu bất chính
như tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế - thực hiện
Luận văn nhằm làm rõ thực trạng bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị để
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách này ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số khía cạnh lý thuyết có liên quan đến vấn đề bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập, đặc biệt là giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị.
- Phân tích, đánh giá thực trạng bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở Việt
Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Tìm hiểu, lý giải các yếu tố, các nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng về thu nhập này và
dề xuất các biện pháp giải quyết.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề bất bình đẳng thu nhập giữa ở nông thôn và
thành thị trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị trong
phạm vi cả nước.
- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình về thu nhập của dân cư chủ yếu trong
thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa khoảng thời gian từ năm 1996 đến nay.
3
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu chủ yếu
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam; các Nghị quyết
Trung ương; các chương trình, chính sách và các báo cáo tổng kết của Đảng, Nhà nước về bất
bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
- Các số liệu thống kê của Tổng cục thống kê đặc biệt là các báo cáo, khảo sát về thu nhập
của hộ gia đình Việt Nam.
Thu nhập bằng tiền là luồng tiền mà một cá nhân hay gia đình nhận được từ mọi nguồn như
lương, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức từ vốn tài chính như tiền lãi, lãi cổ phần, chuyển giao, vv.
Đơn vị đo lường phân phối thu nhập: là cá nhân, gia đình hay hộ.
1.1.2. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng xã hội trong phân phối thu nhập
1.1.2.1. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng thu nhập nói chung
+ Bình đẳng là được đối xử như nhau về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa…
không phân biệt thành phần và địa vị xã hội.
+ Công bằng là khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng,
tương ứng với bản chất và quyền con người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của
những cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và
thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền với nghĩa vụ - không có sự tương xứng trong
những quan hệ ấy là bất công.
Bất bình đẳng kinh tế là một ý niệm chuẩn tắc. Nó mô tả sự sai lệch của phân phối thu
nhập thực tế so với một phân phối thu nhập chuẩn nào đó. Nếu sự sai lệch càng ít (nhiều) thì mức
độ bất bình đẳng càng thấp (cao). Phân phối thu nhập chuẩn thường được suy ra từ quan điểm
công bình xã hội mà đa số người trong xã hội chấp nhận. Ý niệm bất bình đẳng kinh tế hàm ý
phán đoán đạo đức, theo nghĩa bất bình đẳng kinh tế ít (nhiều) là điều tốt (xấu). Dưới các tiền đề
về công bình xã hội, một nhà kinh tế chuẩn tắc sẽ tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả của bất bình
đẳng kinh tế, đưa ra một vài đề xuất để làm giảm mức độ bất bình đẳng kinh tế với mục đích làm
tăng phúc lợi xã hội.
Bất bình đẳng về thu nhập là để chỉ sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân hay nhóm
người trong xã hội.
1.1.2.2. Khái niệm và thước đo bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
Bất bình đẳng về thu nhập giữa nông thôn và thành thị là sự chênh lệch về thu nhập (của
các cá nhân hay hộ gia đình) giữa nông thôn và thành thị. Đây có thể là chênh lệch tuyệt đối hay
chênh lệch về tỷ lệ thu nhập giữa thu nhập bình quân đầu người hay hộ gia đình của khu vực
thành thị so với nông thôn.
Các thước đo biểu thị bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
- Hệ số thu nhập bình quân đầu người ở thành thị so với nông thôn:
1.3. Các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
1.3.1. Các lý do gây ra sự bất bình đẳng thu nhập nói chung trong nền kinh tế thị trường.
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ tài sản
+ Do vốn góp: ngưởi có nhiều vốn đầu tư khác nhau, khi chia lợi nhuận được hưởng khác
nhau theo phần vốn đóng góp.
+ Hành vi tiêu dùng: mức độ tiêu dùng và tiết kiệm của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng lớn đến
của cải tích lũy được.
+ Do kết quả kinh doanh: đối với các cá nhân đầu tư kinh doanh chấp nhận rủi ro có kết
quả kinh doanh khác nhau tạo ra sự khác biệt về tài sản của họ.
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ lao động. Do khả năng lao động, xu hướng chung của
những người có sức khỏe, có khát vọng, có trí tuệ, có trình độ học vấn cao sẽ nhận được mức thu
nhập cao hơn. Do cường độ làm việc: khi cố định các yếu tố khác nếu cường độ làm việc, mức thu
nhập sẽ tăng và ngược lại. Khác nhau về nghề nghiệp, tính chất công việc dẫn đến sự khác biệt về
tiền lương.
- Hiệu quả kinh tế: bên cạnh việc có nhiều người đạt hiệu quả kinh tế cao, thu được lợi
nhuân lớn do tài giỏi, biết làm kinh tế, thì cũng có mội số người khác do may mắn nên thu được
lợi lớn hoặc gặp rủi ro, kém may mắn mà không có hiệu quả kinh tế, làm ăn thua lỗ.
6
- Khác nhau về những cơ hội trong cuộc sống:.
1.3.2. Nguyên nhân và các yếu tố chi phối bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
Ngoài các các nguyên nhân chung như đã đề cập ở mục trên, bất bình đẳng thu nhập giữa
nông thôn và thành thị còn do các nguyên nhân sau:
- Việc tập trung đầu tư cao vào các khu vực thành thị và không đầu tư nhiều vào khu vực
nông thôn đã gây ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa 2 khu vực này.
- Những nguyên nhân khác như sự phân biệt đối xử trong xã hội do sự khác biệt về vùng
địa lý; ảnh hưởng của rủi ro thiên tai; sự tham nhũng; sự quan tâm khác nhau của nhà nước với
các vùng miền, khu vực…
- Tình trạng lạm phát cao trong những năm gần đây đã gây đặc biệt khó khăn cho tầng lớp
người dân nghèo. Vùng nông thôn đã khốn khó thì việc giải quyết nghèo đói, tăng cao thu nhập
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA NÔNG THÔN VÀ
THÀNH THỊ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Thực trạng về khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị trong quá trình
đổi mới qua các chỉ số.
2.1.1. Động thái thu nhập của người dân ở nông thôn và thành thị
Từ năm 2002, thu nhập bình quân của người dân nông thôn đã tăng từ 275.000
đồng/người/tháng lên 378.000 đồng năm 2004, năm 2006 là 506.000 đồng, năm 2008 là 762.000
đồng và năm 2010 là 1070 đồng/người/tháng.
Theo hộ gia đình, năm 2006, thu nhập bình quân một hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng,
tăng 11,3 triệu đồng (75,8%) so với năm 2002. Tại thời điểm 1-7-2011, tích lũy bình quân một hộ
nông thôn bằng tiền mặt và các khoản khác đạt 17,4 triệu đồng, so với tại thời điểm 1-7-2006 là
6,7 triệu đồng (trung bình tích lũy đạt 1.592.000 đồng/người/năm), tăng gấp 2,6 lần (con số tương
ứng của năm 2006 so với năm 2001 là 3,2 triệu đồng, tăng gấp 2,1 lần).
Với người dân thành thị tại Việt Nam, năm 1999, thu nhập bình quân đầu người đạt
517.000 đồng. Đến năm 2002 là 622.000 đồng, năm 2006 là 1.058.000 đồng, năm 2008 là
1.605.000 đồng, tăng 51,7% so với năm 2006 và năm 2010 tăng lên 2.130.000 đồng, tăng 32,7%
so với năm 2008.
2.1.2. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị qua các số liệu thống kê hiện hành.
Theo tỷ lệ thu nhập, khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và thành thị liên tục giảm
qua các năm. Thu nhập bình quân một người một tháng năm 1993 ở khu vực thành thị tương ứng gấp
khu vực nông thôn là 2,34. Đến năm 2010 thu nhập bình quân của người dân thành thị là 2.130.000
đồng/người/tháng, người dân nông thôn là 1.070.000 đồng/người/tháng, gấp sấp sỉ 2 lần.
Theo mức thu nhập tuyệt đối, khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và thành thị
liên tục tăng qua các năm. Năm 1999, chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là 296.000
đồng, năm 2002 là 347.000 đồng, năm 2004 là 437.000 đồng, năm 2006 là 552.000 đồng, năm
2008 là 843.000 đồng và năm 2010 là 1.060.000 đồng
Theo nhóm ngũ vị phân, so sánh tỷ lệ thu nhập của nhóm 1 thành thị và nhóm 1 nông thôn,
tức là các nhóm nghèo nhất tại các khu vực. Năm 2008 là 1,80 lần và năm 2010 là 1,92 lần, như
vậy năm 2010 còn cao hơn cả năm 2002 là 1,92 so với 1,84. Điều đó thể hiện bất bình đẳng của
thôn ta thấy mặc dù tỷ lệ không thay đổi nhiều qua các năm nhưng lại ở mức rất cao: năm 2002 là
14,9 lần, năm 2006 là 14,5 lần và năm 2010 là 15,1 lần. Điều này cho thấy khoảng cách lớn của
các “cực thu nhập” giữa hai khu vực này.
Về chi tiêu, chi tiêu cho đời sống ở nông thôn năm 2010 là 890.000 đồng, chiếm 93,7%
tổng chi và tăng 62,4% so với năm 2008. Ở khu vực thành thị chi tiêu cho đời sống là 1.726.000
đồng, chiếm 94,4% tổng chi và tăng 54,8% so với năm 2008.
Tỉ lệ nghèo đói ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị đều giảm dần trong những năm gần
đây, nhưng ở nông thôn không giảm nhanh bằng đô thị. Điều này đã làm cho sự chênh lệch về tỉ lệ
nghèo giữa nông thôn và thành thị thị ngày càng doãng ra từ 2,4 lần (năm 1996) lên 3,11 lần
(2011). Từ 1996 đến 2011, tỷ lệ hộ nghèo của thành thị giảm 4,36 lần trong khi ở nông thôn chỉ
giảm 3,39. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự bất bình đẳng về tỉ lệ nghèo giữa nông thôn và thành thị
ngày càng lớn, tức là nông thôn ngày càng nghèo đi “tương đối” nhiều hơn so với thành thị.
9
Vấn đề khác cũng rất cần lưu ý là thu nhập liên quan đến tài sản. Chênh lệch tài sản ở
Việt Nam trong những năm gần đây còn tăng nhanh hơn chênh lệch thu nhập, với sự tích tụ của
cải hay nguồn lực của xã hội ở quy mô lớn vào tay một số ít người, đồng thời làm cho một số lớn
hơn nhiều bị mất hoặc giảm mạnh tài sản của mình (như nông dân mất đất canh tác). Tham nhũng,
lãng phí lan rộng, với mức độ ngày càng nặng nề cũng góp phần quan trọng tạo nên chênh lệch tài
sản lớn hơn.
Xét về mức độ đầu tư: Đầu tư cho nông nghiệp năm 2009 chỉ bằng 6,26% tổng đầu tư toàn
xã hội (trong khi GDP của ngành này là 20,91%) và hiện đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm chưa
đến 3% tổng GDP. Như vậy, khu vực nông thôn chiếm 70% dân số nhưng chỉ được đầu tư 50% từ
vốn ngân sách nhà nước. .
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới: Từ năm 2008 đến năm 2010, chi tiêu của
người dân thành thị tăng 1,46 lần thì người dân nông thôn tăng 1,53 lần, trong khi tích lũy bằng
tiền mặt của người dân thành thị nông thôn đều giảm 1,19 lần và người dân nông thôn giảm 1,19.
Về mặt tích lũy, cả thành thị và nông thôn đều nghèo hơn trước và xu thế ở nông thôn nghèo
nhanh hơn do phải chi tiêu nhiều hơn.
2.2. Đánh giá chung bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam
việc tổng vốn đầu tư vào nông nghiệp nhiều năm qua vẫn ở mức thấp.
* Đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn giảm dần. Hiện đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm
chưa đến 3% tổng GDP. Trước đó, vào các năm 2008, 2005, và 2000 thì tỷ trọng đầu tư của ngành
này tương ứng từng năm là 6,45%, 7,50%, và 13,85%,
* Chính sách công nghiệp cho nông thôn không được quan tâm đúng mức Đầu tư sản
xuất tập trung vào những ngành thu hút đầu tư nước ngoài mạnh và được bảo hộ cao như ô tô, xe
máy, hàng điện tử tiêu dùng… trong khi thị trường máy móc, vật tư nông nghiệp phục vụ nông
thôn gần như bỏ ngỏ.
* Chính sách, pháp luật về thuế thu nhập chưa được hoàn thiện. Việc ban hành các quy
định về đánh thuế thu nhập với người có thu nhập cao mới được nhà nước ban hành từ năm 2008,
chúng ta mới trong giai đoạn đầu thực hiện và còn nhiều bất cập trong các quy định cũng như tính
thực tiễn không cao.
* Cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh nghiệp bình đẳng, thông tin thiếu minh
bạch đã tạo kẽ hở cho một số người giầu lên nhờ đầu cơ (đất đai, chứng khoán…), buôn lậu, tham
nhũng, trốn thuế….
Chương 3
CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT BẤT
BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ
3.1.Bối cảnh kinh tế chung và tác động của nó đến vấn đề bất bình đẳng thu nhập
giữa nông thôn và thành thị.
3.1.1.Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế.
* Những thách thức: Các quốc gia trợ không được trợ cấp ồ ạt hoặc bảo vệ quá mức cho
nông nghiệp, không cho phép khai thác bừa bãi tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường ngay từ giai
đoạn phát triển đầu. Tự do hóa thương mại tạo môi trường cạnh tranh quyết liệt, không thể bán
nông sản giá rẻ, chất lượng thấp của kinh tế nông thôn ngay cả ở thị trường trong nước. Cạnh
tranh công nghệ đang tiến theo xu hướng thu hút nhiều vốn, giảm lao động. Điều này không tạo
được nhiều thu nhập cho người lao động.
mang tính toàn diện và đa phương, thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển,
nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn.
3.2.3. Quan điểm hỗ trợ các nhóm xã hội yếu thế, đặc biệt ở nông thôn cũng như dân
nghèo thành thị.
Để hỗ trợ, giúp đỡ những người, nhóm xã hội yếu thế tồn tại và phát triển, hòa nhập cộng
đồng, đồng thời đảm bảo sự phát triển ổn định xã hội, với chính sách nhân đạo thì chính phủ phải
luôn có chế độ, chính sách hỗ trợ họ về mặt tinh thần, vật chất.
12
Ngoài ra, cần chú ý hoàn thiện các thể chế, các quy định đầy đủ, chặt chẽ, có sự kiểm tra,
giám sát để chống tham nhũng tiêu cực và đảm bảo thực hiện phân phối bình đẳng hơn, đồng thời
phát huy đúng đắn vai trò của nhà nước trong việc phân phối thu nhập.
3.3. Các giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề bất bình đẳng về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị ở nước ta
* Nâng cao năng suất nông nghiệp
Đây là cách trực tiếp nhất nhằm nâng cao đời sống của người nông dân. Cải tổ đất đai và
tự do hóa nông nghiệp thường có những tác động lớn, mặc dù chỉ một lần, và tạo ra những khuyến
khích đối với quy mô sản xuất. Cải tiến nông nghiệp dựa trên những giống cây trồng mới và hệ
thống tưới tiêu -Cuộc cách mạng xanh - đã tạo ra nhiều thành công rực rỡ ở nhiều nước.
* Đầu tư vào con người
Nhà nước nên tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm nhằm thực
hiện mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập của lao
động nông thôn. Ngoài việc được đào tạo những kỹ năng nghề, lao động học nghề còn được trang
bị thêm kỹ năng về khởi sự doanh nghiệp và những kỹ năng “mềm” khác rất hữu ích trong cuộc
sống như: bình đẳng giới, kỹ năng tạo mối quan hệ trong cộng đồng
- Trí thức hóa nông thôn là một biện pháp cơ bản để giải quyết các vấn đề phát triển ở khu
vực này. Nhưng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn đã cản trở việc thu hút trí thức về nông
thôn. Các trường đại học phải có các khoa đào tạo những nghề có thể làm việc và sống tốt với
mức thu nhập ở nông thôn.
* Đa dạng hóa sinh kế cho nông dân, tạo các việc làm để tăng thu nhập cho người dân
* Tháo gỡ mọi vướng mắc, tạo điều kiện phát triển thị trường tài nguyên (lao động, đất,
vốn, khoa học công nghệ) ở nông thôn để cơ chế thị trường phát huy và nuôi dưỡng nội lực của cư
dân nông thôn, điều tiết có hiệu quả mọi nguồn tài nguyên hiện có của xã hội vào quá trình phát
triển nông thôn.
* Điều hòa hợp lí sự di dân từ nông thôn ra thành thị.
Chính phủ cần có những chính sách thích hợp để hạn chế những vấn đề không mong muốn
có thể xảy ra và bảo vệ những người di dân khỏi những rủi ro có thể xảy đến, đồng thời điều hòa
hợp lí luồng di dân.
* Về xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm từ các mô
hình thí điếm, cần tiếp tục kế hoạch xây dựng nông thôn mới, kết hợp các giải pháp ở trên vận
dụng vào xây dựng nông thôn mới.
KẾT LUẬN
Tỷ lệ khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn ở Việt Nam hiện nay đã được
cải thiện đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều nội dung phải giải quyết để tiếp tục giảm khoảng cách
chênh lệch này, cải thiện hơn sự bất bình đẳng về thu nhập như tạo công việc làm, tăng thu nhập
cho nhóm người có thu nhập thấp của cả nước nói chung và của nông thôn nói riêng, giảm tỷ lệ
đói nghèo, giảm những cách biệt về cơ hội trong cuộc sống như đầu tư cho giáo dục, y tế, giao
thông ở nông thôn Các biện pháp đề ra mang tính vĩ mô, đòi hỏi phải có các chủ chương lớn,
định hướng cùa nhà nước, sự đầu tư của tư nhân, nhà nước và tranh thủ viện trợ, đầu tư từ nước
ngoài cùng với sự chung sức của toàn dân và đặc biệt là sự chủ động của bản thân người dân nông
thôn để thực hiện.
14
Những kết quả khoa học trong luận văn sẽ có sự đóng góp nhất định về mặt lý luận cho
khoa học Kinh tế chính trị, mà trực tiếp là vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Đồng thời là tài liệu
tham khảo bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách để giải quyết vấn đề giảm khoảng cách về
thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam.
hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15
15. Chu Tiến Quang (2005), Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế
nông thôn: Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
16. Chu Tiến Quang, Lưu Đức Khải (2009), Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam -
Thực trạng và giải pháp phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam – Hôm này và mai
sau, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Phan Xuân Sơn, Phạm Thế Lực (2008), Nhận diện tham nhũng và các giải pháp
phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Hoàng Đức Thân (2010), Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta, đề tài cấp nhà nước, Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Hà Nội.
20. Tổng cục thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=417&idmid=4&ItemID= 4284.
21. Tổng cục thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=512&idmid=5&ItemID= 818219.
22. Tổng cục thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=417&idmid=4&ItemID= 9712.
23. Tổng cục thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=417&idmid=4&ItemID= 12428.
24. Tổng cục thống kê, Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=507&idmid=&ItemID= 9784.
25. Tổng cục thống kê, Kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm
2011, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=408&idmid =4&ItemID=13398.
26. Viện nghiên cứu quản lý Trung ương (2012): Giảm khoảng cách chênh lệch thu nhập
tại Việt Nam, Hà Nội.
27. UNDP(2004), Đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và
chương trình 135.