4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc giải quyết bất bình
đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
7
1.1. Các khái niệm và thước đo bất bình đẳng
7
1.1.1. Khái niệm về thu nhập và các hình thức của thu nhập
7
1.1.2. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng xã hội trong phân
phối thu nhập
9
1.1.2.1. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng thu nhập nói chung
9
1.1.2.2. Khái niệm và thước đo bất bình đẳng thu nhập giữa nông
thôn và thành thị
12
1.2. Tầm quan trọng của việc giải quyết bất bình đẳng thu nhập giữa
nông thôn và thành thị
14
1.3. Các yếu tố tác động đến bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn
và thành thị
17
1.3.1. Các lý do gây ra sự bất bình đẳng thu nhập nói chung trong
nền kinh tế thị trường
17
thị ở Việt Nam hiện nay
54
2.2.1. Mức độ bất bình đẳng và xu hướng của nó
54
2.2.2. Các hệ quả của bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và
thành thị
56
2.2.3. Nguyên nhân của bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và
thành thị
61 6
Chương 3: Các giải pháp cơ bản để thực hiện giải quyết bất bình
đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
67
3.1. Bối cảnh kinh tế chung và tác động của nó đến vấn đề bất bình
đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị
67
3.1.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
67
3.1.2. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
70
3.2. Các quan điểm xử lý vấn đề bất bình đẳng thu nhập giữa nông
thôn và thành thị
74
3.2.1. Từng bước bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa
nông thôn và thành thị
74
3.2.2. Tăng trưởng và phát triển bền vững làm cơ sở để giải quyết
Cơ cấu và tỷ lệ chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng
theo giá thực tế
43
Bảng 2.4
Tỷ lệ hộ nghèo
45
Bảng 2.5
Dân số trung bình phân theo thành thị, nông thôn
57
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, công bằng xã hội vừa là mục tiêu,
vừa là động lực mà mọi nền kinh tế hướng tới. Nó đảm bảo cho sự phát triển
hài hòa, ổn định và bền vững của nền kinh tế, không gây ra các bức xúc do
bất bình đẳng đưa lại. Trong điều kiện của Việt Nam, công bằng xã hội còn là
định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa
của ta so với các chế độ khác.
Việc Việt Nam tiến hành đổi mới và lựa chọn con đường phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn phù hợp
với xu hướng phát triển khách quan của thời đại. Thực tiễn đổi mới cho thấy
chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trong đó nền kinh tế đạt
được tốc độ tăng trưởng khá cao, trong một thời gian dài. Kết quả là tổng sản
phẩm quốc dân, tích lũy nội bộ trong nền kinh tế tăng cao, đến nay đã đáp
ứng được nhu cầu cần thiết của nhân dân, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt. Tăng trưởng kinh tế khá toàn diện
trong suốt hai thập kỷ đã tạo điều kiện vật chất để đất nước giải quyết tốt hơn
nhập giữa nông thôn và thành thị để từ đó đưa ra các giải pháp thích ứng là
một công việc có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đó chính là lý do mà
vấn đề “Bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị ở Việt Nam
hiện nay” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình thể hiện dưới các sách, bài báo viết về vấn đề
công bằng và bất bình đẳng xã hội nói chung trong nền kinh tế thị trường như
đề tài “Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và 10
tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta” do GS.TS Hoàng Đức Thân viết, đề cập
đến hệ thống lý luận, thực trạng và giải pháp để thực hiện mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta. Phân tích kinh nghiệm thế
giới về giải quyết công bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế, Trung tâm
Khoa học xã hội nhân văn, Viện Kinh tế thế giới có đề tài: Tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội ở một số nước Châu Á và Việt Nam.
Đi vào vấn đề công bằng trong phân phối thu nhập, đặc biệt đi vào
nghiên cứu bất bình đẳng thu nhập giữa các vùng miền, giữa nông thôn và
thành thị nói riêng thì có thể kể đến một số bài viết, cuốn sách như: Cuốn sách
Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam – Thực trạng và giải pháp phát
triển của TS Chu Tiến Quang (chủ biên) và ThS Lưu Đức Khải, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia năm 2009. Cuốn sách Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Việt Nam – hôm nay và mai sau của Đặng Kim Sơn, nhà xuất bản Chính trị
quốc gia năm 2008. Hoặc một bài viết khác là: ”Về chênh lệch thu nhập vùng
và giữa thành thị - nông thôn trong kinh tế Việt Nam” của GS TS Nguyễn
Mạnh Hùng tại trang Web
Bài “Tổng thu nhập một tháng của nông dân” của tác giả Đoàn Dũng trên
trang Web />nhap- mot -thang-cua-nong-dan.
Tổng hợp các bài viết, quan điểm trên có thể thấy được sự bất bình
- Tìm hiểu, lý giải các yếu tố, các nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng
về thu nhập này.
- Đề xuất các giải pháp để đảm bảo thu nhập giữa nông thôn và thành
thị được công bằng hơn. 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề bất bình đẳng thu nhập
giữa ở nông thôn và thành thị trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu bất bình đẳng giữa nông thôn và
thành thị trong phạm vi cả nước. Các số liệu báo cáo thu nhập nông thôn và
thành thị được thu thập và sử dụng phù hợp với các quy định thống kê hiện
hành.
- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình về thu nhập của
dân cư chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa khoảng thời gian từ năm 1996 đến nay.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu chủ yếu
- Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt
Nam; các Nghị quyết Trung ương; các chương trình, chính sách và các báo
cáo tổng kết của Đảng, Nhà nước về bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn
và thành thị.
- Các số liệu thống kê của Tổng cục thống kê đặc biệt là các báo cáo,
khảo sát về thu nhập của hộ gia đình Việt Nam.
Nguồn tư liệu chủ yếu được khai thác trên các sách, báo chí in và điện
tử trên mạng Internet và thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT BẤT
BÌNH ĐẲNG THU NHẬP GIỮA NÔNG THÔN VÀ THÀNH THỊ
1.1. Các khái niệm và thước đo bất bình đẳng
1.1.1. Khái niệm về thu nhập và các hình thức của thu nhập
Định nghĩa thu nhập của Haigh (1912) và Simmons (1938) thường
được xem là định nghĩa bao hàm nhất của thu nhập: Thu nhập của một cá
nhân hay hộ gia đình quy ra tiền trong một khoảng thời gian nhất định là số
tiền chi cho tiêu dùng cộng với sự thay đổi giá trị của tài sản tính bằng tiền
trong khoảng thời gian đó:
Thu nhập = Tiêu dùng + Sự thay đổi giá trị của tài sản
Định nghĩa này quá tổng quát và trừu tượng, rất khó áp dụng trong các
điều tra thực tế. Vì mục đích ứng dụng, chúng ta cần khai triển định nghĩa này
thêm. Trên lý thuyết, các nhà kinh tế phân biệt các loại thu nhập sau đây:
Thu nhập bằng tiền (money income) là luồng tiền mà một cá nhân hay
gia đình nhận được từ mọi nguồn như lương, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức
từ vốn tài chính như tiền lãi, lãi cổ phần, lãi vốn (capital gains), chuyển giao,
v.v.
Thu nhập tiền tệ hóa (monetized income) bao gồm thu nhập bằng tiền
cộng với giá trị tính bằng tiền của trữ lượng hàng hóa lâu bền của tư nhân
(như nhà cửa, xe hơi, quần áo, v.v) và của công (đường xá, cống rãnh, thư
viện, v.v) cộng với giá trị tính bằng tiền của vốn xã hội (như luật lệ cai trị,
cách hành xử xã hội, v.v); 15
Thu nhập toàn (full income) bằng thu nhập tiền tệ hóa cộng với giá trị
trong phân phối thu nhập và do đó chúng ta sẽ không thấy một bức tranh toàn
cảnh cho xã hội. Hơn nữa, trong thực tế, con người sống thành gia đình hay
hộ, người lớn chia sẻ thu nhập với con cái, và đôi khi cả với các thành viên
khác trong hộ (không nhất thiết có liên hệ gia đình). Vì vậy, nếu dùng hộ làm
đơn vị để phân tích phân phối thu nhập sẽ khắc phục được một số nhược điểm
trên.
1.1.2. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng xã hội trong phân
phối thu nhập
1.1.2.1. Khái niệm về công bằng và bất bình đẳng thu nhập nói chung
- Các nhà kinh tế học phương Tây thường tiếp cận khái niệm công bằng
xã hội dưới hai góc độ:
+ Công bằng xã hội theo chiều ngang: nghĩa là đối xử như nhau đối với
những cá nhân có hoàn cảnh như nhau và đóng góp như nhau.
+ Công bằng xã hội theo chiều dọc: nghĩa là đối xử khác nhau đối với
những người có điều kiện khác nhau như khác biệt bẩm sinh hay có những
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau.
- Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam đã nêu ra các khái niệm về bình
đẳng, công bằng và bất bình đẳng như sau:
+ Bình đẳng là được đối xử như nhau về các mặt chính trị, xã hội, kinh
tế, văn hóa… không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên
và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật. Bình đẳng đã được quan niệm và
thực hiện một cách khác nhau qua các thời kì lịch sử với các chế độ chính trị 17
xã hội khác nhau. Sự bình đẳng toàn diện và triệt để chỉ có thể thực hiện khi
nào xoá bỏ được tình trạng không bình đẳng trong quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất, xoá bỏ được cơ sở của sự bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, xoá
bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi trong xã hội.
+ Công bằng là khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ
lợi xã hội.
Bất bình đẳng về thu nhập là để chỉ sự chênh lệch về thu nhập giữa các
cá nhân hay nhóm người trong xã hội.
Về sự tồn tại của bất bình đẳng, có quan niệm cho là hiện tượng không
thể nào tránh khỏi vì trong xã hội con người luôn luôn khác nhau về nhu cầu
và tài năng. Quan niệm nữa cho rằng bất bình đẳng là hiện tượng không tránh
khỏi nhưng nó do các nguyên nhân như xã hội có nhiệm vụ này cần thiết hơn
nhiệm vụ khác. Do đó cần những người giỏi nhất để thực hiện nhiệm vụ khó
nhất. Trong điều kiện như vậy, nếu thủ tiêu bất bình đẳng thì sẽ nguy hiểm
cho xã hội.
Khác với quan niệm trên, một số người cho rằng bất bình đẳng chủ yếu
là do cấu trúc của hệ thống xã hội gây nên. Chính sự khác biệt trong vị trí của
các cá nhân trong cơ cấu xã hội gây ra bất bình đẳng về kinh tế.
Bất bình đẳng là một hiện tượng tiêu cực tồn tại trong tất cả các xã hội.
Thách thức đối với việc hoạch định chính sách ở đây là làm thế nào tối thiểu
hoá hiện tượng này trong khi phải tối đa hoá sự phát triển của quốc gia để có
thể phát triển bền vững. Kinh nghiệm phát triển của một số nước ở khu vực
trong những thập niên gần đây khẳng định rằng, có thể hạn chế sự gia tăng bất
bình đẳng trong quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh. 19
1.1.2.2. Khái niệm và thước đo bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn
và thành thị.
Chúng ta có thể hiểu bất bình đẳng về thu nhập giữa nông thôn và
thành thị là sự chênh lệch về thu nhập (của các cá nhân hay hộ gia đình) giữa
nông thôn và thành thị.
Đây có thể là chênh lệch tuyệt đối hay chênh lệch về tỷ lệ thu nhập giữa
thu nhập bình quân đầu người hay hộ gia đình của khu vực thành thị so với
nông thôn.
thị và nhóm 1 nông thôn. Đây là so sánh thu nhập bình quân đầu người của
nhóm có thu nhập cao nhất ở thành thị so với nhóm có thu nhập thấp nhất ở
nông thôn, phản ánh phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ở các
“cực thu nhập”. Sự chênh lệch này càng tăng phản ảnh sự bất bình đẳng tăng.
- Tỷ lệ hộ nghèo của thành thị so với nông thôn: Tỷ lệ này cao phản
ánh thu nhập giữa nông thôn và thành thị có khoảng cách nhất định.
- So sánh chi tiêu bình quân chung đầu người ở thành thị và chi tiêu
bình quân chung đầu người ở nông thôn (do thu nhập là nguồn gốc của chi
tiêu, chi tiêu phải dựa trên thu nhập có được, nên việc so sánh chi tiêu cũng
phản ánh sự bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và thành thị).
Hoặc đi sâu vào so sánh chi tiêu bình quân đầu người cho các mặt
hàng cụ thể ở thành thị và ở nông thôn: Chi tiêu cho hàng hóa thiết yếu, cho 21
hàng hóa sa sỉ, cho giáo dục, y tế, giải trí… Nếu khoảng cách về chi tiêu của
thành thị và nông thôn cho hàng hóa sa sỉ, giáo dục, y tế, giải trí… càng lớn
thì phản ảnh sự bất bình đẳng thu nhập giữa hai khu vực này càng lớn. Hoặc
tỷ lệ của mức chi cho hàng hóa thiết yếu so với tổng chi, tổng thu nhập càng
lớn cho thấy đời sống càng thấp kém.
- Ngoài ra, để phản ánh sự bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và
thành thị, chúng ta còn có thể so sánh chênh lệch về tài sản giữa cư dân nông
thôn và thành thị. So sánh tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông thôn và đầu tư vào
khu vực thành thị, so sánh tỷ lệ đầu tư của khu vực FDI, đầu tư của tư nhân,
đầu tư của Nhà nước vào từng khu vực nông thôn, thành thị.
1.2. Tầm quan trọng của việc giải quyết bất bình đẳng thu nhập
giữa nông thôn và thành thị
Phát triển bền vững cần hội đủ ba yếu tố:
- Tổng sản phẩm thực chia đầu người gia tăng đều đặn năm này qua
năm khác (nhất là khi nền kinh tế còn trong vòng phát triển).
Bên cạnh đó, các chuyên gia (Berg, Ostry, và Zettelmeyer) của Quỹ
Tiền tệ Quốc tế cũng chỉ ra hệ quả tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đối với
quá trình tăng trưởng của một nền kinh tế. Phân tích các đợt tăng trưởng
(được định nghĩa bằng khoảng thời gian từ khi nền kinh tế bắt đầu tăng tốc
tăng trưởng cho đến khi nó bắt đầu hạ tốc) của 140 quốc gia, các tác giả đã
kết luận rằng sự phân phối thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng
quyết định chiều dài của các đợt tăng trưởng. Các nước ở châu Phi và châu
Mỹ Latinh, những nơi mà có tỷ lệ bất bình đẳng tương đối cao, thường có
những đợt tăng trưởng ngắn hơn so với những nơi khác. Theo đây thì cải thiện 23
tỷ lệ bất bình đẳng là một yếu tố cần thiết nếu một nước muốn có một khoảng
thời gian tăng truởng dài hơn.
Trong xu hướng thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng bền vững và
công bằng hiện nay, vấn đề bất bình đẳng thu nhập càng cần được phải được
giải quyết. Lý do là vì một xã hội với tỷ lệ bất bình đẳng cao không những tạo
ra sự bức xúc trong dân chúng mà còn cản trở sự tích lũy vốn con người, cản
trở quá trình xây dựng một tầng lớp trung lưu to lớn và vững mạnh có khả
năng dịch chuyển xã hội một cách tích cực.
Hơn nữa, bất bình đẳng thu nhập là một nguyên nhân quan trọng đưa
đến bất bình đẳng về cơ hội. Tình trạng này xảy ra khi một bộ phận người dân
trong xã hội không có khả năng để tiếp cận các dịch vụ và hàng hóa cốt yếu
nhằm nâng cao kiến thức và sức khỏe của mình để có thể có cơ hội thăng tiến
trong xã hội. Tình trạng bất bình đẳng cơ hội cao cũng sẽ góp phần duy trì bất
bình đẳng thu nhập, kéo theo những hệ lụy như đã đề cập.
Khoảng cách giàu nghèo quá lớn đem lại rất nhiều tác động tiêu cực
như đói nghèo, tệ nạn xã hội, và quan trọng hơn cả là về lâu dài một phần lớn
dân số sẽ bị thiệt thòi về mảng giáo dục và đào tạo.
Như vậy việc giải quyết sự bất bình đẳng thu nhập giữa nông thôn và
phúc lợi xã hội thì chủ yếu do sự đóng góp của mỗi thành viên khác nhau về
sức lao động, vốn, cùng với hiệu quả kinh tế khác nhau dẫn tới sự phân phối
thu nhập khác nhau; những người có cố gắng trong lao động, đóng góp nhiều
vốn, đạt được hiện quả kinh tế cao sẽ mang lại thu nhập cao.
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ tài sản
+ Do vốn góp: người có nhiều vốn đầu tư khác nhau, khi chia lợi nhuận
được hưởng khác nhau theo phần vốn đóng góp. 25
+ Hành vi tiêu dùng: mức độ tiêu dùng và tiết kiệm của mỗi cá nhân sẽ
ảnh hưởng lớn đến của cải tích lũy được.
+ Do kết quả kinh doanh: đối với các cá nhân đầu tư kinh doanh chấp
nhận rủi ro có kết quả kinh doanh khác nhau tạo ra sự khác biệt về tài sản của
họ.
- Nguyên nhân có nguồn gốc từ lao động
+ Do khả năng lao động, xu hướng chung của những người có sức
khỏe, có khát vọng, có trí tuệ, có trình độ học vấn cao sẽ nhận được mức thu
nhập cao hơn.
+ Do cường độ làm việc: khi cố định các yếu tố khác nếu cường độ làm
việc, mức thu nhập sẽ tăng và ngược lại.
+ Khác nhau về nghề nghiệp, tính chất công việc: đây là yếu tố quan
trọng quyết định sự khác biệt về tiền lương. Thông thường công việc phổ
thông, ít kỹ năng được trả lương thấp hơn công chuyên môn có hàm lượng
chất xám cao.
- Hiệu quả kinh tế: bên cạnh việc có nhiều người đạt hiệu quả kinh tế
cao, thu được lợi nhuận lớn do tài giỏi, biết làm kinh tế, thì cũng có mội số
người khác do may mắn nên thu được lợi lớn hoặc gặp rủi ro, kém may mắn
mà không có hiệu quả kinh tế, làm ăn thua lỗ.
- Những cơ hội trong cuộc sống: bất bình đẳng về cơ hội cũng đo lường
phát triển, cùng với việc đạt hiệu quả kinh tế cao tại những nơi này nên đã
nhận được mức đầu tư lớn hơn vùng nông thôn, mang lại thu nhập cao cho
các khu vực thành thị này. 27
Mức đầu tư công vào nông nghiệp và phát triển nông thôn khá khiêm
tốn, nếu không muốn nói là một nghịch lý lớn khi so với mức đầu tư ồ ạt vào
một số ngành công nghiệp bị thua lỗ. Vì nguồn lực là hữu hạn cho nên khi nó
bị lãng phí ở một thành phần kinh tế thì những thành phần kinh tế khác bị
chèn ép.
- Những nguyên nhân khác như sự phân biệt đối xử trong xã hội do sự
khác biệt về vùng địa lý; ảnh hưởng của rủi ro thiên tai; sự tham nhũng; sự
quan tâm khác nhau của Nhà nước với các vùng miền, khu vực…
Vùng nông thôn đa phần là đồi núi, giao thông không thuận lợi, trong
khi khu vực thành thị phần lớn là đồng bằng, ở vị trí địa lý thuận lợi, thuận
tiện cho việc đi lại, thông thương, điều đó tạo cho khu vực thành thị năng
động hơn so với khu vực nông thôn, kinh tế phát triển, gây nên sự chênh lệch
về thu nhập.
Khu vực nông thôn nơi thành phần kinh tế chủ yếu là nông, lâm, ngư
nghiệp, lĩnh vực này chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết. Ngoài ra, bản thân khu
vực thành thị thường là những nơi được lựa chọn có điều kiện thời tiết, khí
hậu ôn hòa, ít bị ảnh hưởng của thiên tai. Do vậy ảnh hưởng rủi ro của thiên
tai cũng tác động đến sự bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị.
Tài sản của Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước tập trung chủ yếu ở
các khu đô thị, quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước cùng với tệ
nạn tham nhũng đã làm quyền lợi kinh tế thường rơi vào tay những thành
phần quyền chức hay những người thiếu trách nhiệm với xã hội. Họ là những
người nắm thông tin, lợi dụng quá trình chuyển hoá từ công hữu sang tư hữu
để nắm giữ nhiều cổ phần, cổ phiếu trong các doanh nghiệp, thu vén những