ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Phí Thị Nguyệt
Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở tỉnh Thái Bình
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số:
60 31 01
HÀ NỘI – 2008
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, có dân số đông với hơn 85 triệu
dân, trong đó lao động nông thôn chiếm 75% tổng lực lượng lao động của cả
nước. Khả năng tạo việc làm cho lao động nói chung và lao động nông thôn
nói riêng là vấn đề lớn còn rất khó khăn. Những năm gần đây, nhờ chính sách
đổi mới, cùng với việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá
đói giảm nghèo- việc làm, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống
đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt. Tuy nhiên, tình trạng
không có việc làm và thiếu việc làm, tình trạng thừa lao động ở nông thôn có
xu hướng gia tăng, điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã
hội, chính trị và an ninh quốc gia. Bởi vậy, giải quyết việc làm cho người lao
động, đặc biệt là lao động nông thôn đang là một vấn đề cấp bách cả lý luận
và thực tiễn, cần được quan tâm nghiên cứu. Đây là vấn đề cơ bản có tính
trước mắt vừa có tính lâu dài đối với sự phát triển bền vững, do đó đã được
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và coi đó là một trong những “giải
Hà Nội, 2002.
- Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các tỉnh vùng kinh tế trọng
điểm miền trung trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến
sĩ kinh tế của Trần Thị Bích Hạnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2003.
- Thị trường lao động- cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
2
- Nguồn lực và động lực phát triển kinh tế do GS.TSKH Lê Du Phong
chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Giải quyết việc làm cho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử
dụng đất, Hồng Minh, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 270, tháng 9/2005.
- Giải quyết việc làm ở Thanh Hoá - thực trạng và giải pháp, Lê Hồng
Sơn, Tạp chí Lao động và Xã hội số 291, tháng 7/2006.
- Vấn đề thừa lao động ở nông thôn Việt Nam hiện nay, TS. Nguyễn Bá
Ngọc, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 314+315, tháng 7/2007.
- Giải quyết về việc làm và ổn định đời sống dân cư vùng chuyển đổi
sử dụng đất nông nghiệp, PGS.TS Nguyễn Tiệp, Tạp chí Lao động và Xã hội,
số 322, tháng 11/2007.
- Nông nghiệp - nông dân - nông thôn do TS. Đặng Kim Sơn chủ biên,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008.
- Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hoá ở Hải Dương, đề tài khoa học cấp bộ năm 2007 do PGS. TS Nguyễn Thị
Thơm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2008.
- Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2007, Nxb thống kê Hà Nội, 2008.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn tỉnh Thái Bình chưa được các tác giả đề cập và giải quyết vấn đề
+ Văn kiện của Đảng và Nhà nước, văn kiện Đảng bộ tỉnh Thái Bình
+ Sách chuyên khảo về lao động và việc làm
+ Tài liệu giải quyết việc làm của tỉnh Thái Bình từ 2000 đến 2008
- Phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp duy vật biện chứngphương pháp luận nghiên cứu của kinh tế học chính trị, tác giả còn sử dụng
tổng hợp các phương pháp: lôgic kết hợp với lịch sử, phân tích tổng hợp,
thống kê đánh giá, so sánh…các phương pháp này được sử dụng phù hợp với
từng nội dung trong luận văn. Trong quá trình tập hợp tư liệu, thông tin và
4
nghiên cứu, xử lý số liệu, tác giả cố gắng kết hợp lý luận với thực tiễn việc
làm của lao động nông thôn ở tỉnh Thái Bình hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có thể cung cấp một số luận cứ khoa
học nhất định cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý của địa phương có
thể tham khảo, sử dụng trong việc giải quyết việc làm.
7.Về kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương 11 tiết.
Chương 1. Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về việc làm và giải quyết việc
làm ở nông thôn
Chương 2. Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở Thái Bình
Chương 3. Giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở Thái Bình trong những năm tới.
5
lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực
7
của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực thường được xem xét trên các mặt: thể
lực (tình trạng sức khoẻ, tầm vóc…) và trí lực (trình độ văn hoá, trình độ
chuyên môn – nghiệp vụ, năng lực phẩm chất…).
Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động có sự khác nhau ở các nước,
thậm chí khác nhau ở mỗi giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc trình độ
phát triển của nền kinh tế- xã hội. Đa số các nước quy định tuổi tối thiểu của
độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn tối đa là có sự khác nhau (60 tuổi hoặc 64
tuổi...). Ở Ôxtraylia không quy định tuổi về hưu và cũng không có giới hạn
tuổi tối đa. Ở Việt Nam theo quy định của Bộ Luật Lao động (2002) độ tuổi
này được quy định là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ .
Nguồn lao động: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động
đang tham gia làm việc và những người không có việc làm đang tích cực tìm
kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng được biểu hiện trên hai mặt số lượng và
chất lượng như nguồn nhân lực. Tuy nhiên, giữa nguồn nhân lực và nguồn lao
động có sự khác nhau. Sự khác nhau này là do trong thực tế có một bộ phận
dân số tuy trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động nhưng vì
nhiều lý do khác nhau họ chưa tham gia lao động. Đây là bộ phận ngoài lực
lượng lao động.
Lao động: Hiện nay có những quan niệm khác nhau về “lao động”, tuy
nhiên các quan niệm đều tập trung ở hai khía cạnh: thứ nhất, coi lao động là
hoạt động có mục đích, có ý thức, là phương thức tồn tại của con người. Thứ
hai, coi lao động chính là con người với sức khoẻ và trí tuệ nhằm tạo ra các
sản phẩm vật chất và tinh thần để thoả mãn các nhu cầu của đời sống con
người. Lao động không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người
Như vậy, nếu một hoạt động mà chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm quy
định của pháp luật thì không thể coi đó là việc làm. Mặt khác, có những hoạt
9
động lao động hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập thì cũng không
được thừa nhận là việc làm.
Tuy nhiên, trong thực tế có những hoạt động có ích cho gia đình, cho xã
hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập trực tiếp cho
người tham gia lao động chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của
người phụ nữ cho chính gia đình mình lại không được coi là việc làm. Chính
nhờ những người phụ nữ làm công việc nội trợ đã góp phần làm giảm một
khoản chi tiêu cho gia đình; họ tạo điều kiện cho chồng con yên tâm làm việc,
tăng thu nhập cho cả gia đình. Bởi vậy, thực chất lao động của người phụ nữ
làm công việc nội trợ ở đây cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia
đình.
Như vậy, quan điểm về việc làm cần được hiểu một cách đầy đủ hơn là
những hoạt động có ích, không vi phạm pháp luật, có thu nhập hoặc tạo điều
kiện làm tăng nguồn thu cho người khác và cho xã hội.
Trong kinh tế thị trường, số lượng việc làm phản ánh cung cầu về lao
động. Ngày nay, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới cầu lao
động và cơ cấu lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao trình độ, kỹ
năng cho phù hợp với tính chất và công việc của mình thì tình trạng thất
nghiệp, thiếu việc làm sẽ khó tránh khỏi. Hậu quả của thất nghiệp và thiếu
việc làm cho chính bản thân người lao động và xã hội là rất lớn. Đối với bản
thân người lao động, họ sẽ mất tiền lương, tiền công, ảnh hưởng đến mức
sống, họ sẽ mất đi cơ hội trau dồi tri thức và hao mòn kiến thức đối với những
lao động được đào tạo. Đối với xã hội, thất nghiệp và thiếu việc làm ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh của quốc gia.
thì khối lượng công việc nhiều và tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc hết vụ thì khối
lượng công việc giảm đột ngột và có lúc người nông dân không có việc làm.
Hiện nay, dân số ở khu vực nông thôn vẫn không ngừng tăng nhanh, trong khi
diện tích đất canh tác không tăng thậm chí có xu hướng giảm dần do công
11
nghiệp hoá và đô thị hoá, mặt khác với khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất bên cạnh việc làm cho năng suất lao động không ngừng
tăng nhanh sẽ giải phóng một lượng lớn lao động ra khỏi ngành nông nghiệp.
Nếu không tạo đủ chỗ làm việc cho người nông dân, đặc biệt là những lúc
nông nhàn thì sẽ dẫn đến hiện tượng người nông dân đổ xô ra các thành phố
lớn và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm một cách tự phát gây nhiều vấn
đề phức tạp cho việc quản lý lao động, tệ nạn xã hội gia tăng.
1.1.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
Lao động nông thôn phần lớn làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, mọi hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh của họ đều gắn liền với
đối tượng cây trồng, vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng
biệt. Vì vậy, lao động nông nghiệp nông thôn có những đặc điểm riêng, không
giống với lao động làm việc ở khu vực thành thị và ở các lĩnh vực kinh tế
khác.
1.1.2.1 Cung lao động tăng nhanh
Cung lao động nông nghiệp nông thôn về cơ bản là do cung dân số
quyết định. Xuất phát từ nhiều lý do: trình độ dân trí, quan niệm, phong tục
tập quán… dẫn đến một thực tế là tốc độ gia tăng dân số ở khu vực nông thôn
thường cao hơn nhiều so với khu vực thành thị.
Thực tiễn tăng dân số ở các nước trên thế giới và trong từng quốc gia
cho thấy chức năng sinh đẻ duy trì nòi giống thường không vận động cùng
chiều với trình độ phát triển và hoàn cảnh kinh tế. Hiện tượng phổ biến là: ở
Trong 8 vùng của cả nước ngoại trừ vùng Đông Nam bộ có cơ cấu ngành
nghề của các hộ nông thôn khá tiến bộ 64,2% nông nghiệp và 35,8% còn lại là
phi nông nghiệp, các vùng Tây nguyên và vùng núi phía Bắc cơ cấu ngành
nghề của các hộ mang tính thuần nông nặng và chuyển dịch rất chậm, tỷ lệ
13
giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp của Tây nguyên là 91,1% và 7,1%;
vùng Đông Bắc là 88,4 và 8,6%; Tây Bắc là 93% và 5,97 [47, tr.30].
1.1.2.3 Chất lượng lao động của nông thôn thấp
Nếu xét trên góc độ trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật và
thể lực của người lao động, có thể nói rằng vẫn còn khoảng cách khá xa về
mặt chất lượng lao động giữa nông thôn và thành thị. Khoảng cách này còn
lớn hơn khi xem xét ở các loại lao động có trình độ cao.
Ở Việt Nam theo các số liệu thống kê lao động - việc làm cho thấy,
trình độ văn hoá phổ biến của lao động nông thôn là ở mức tốt nghiệp tiểu học
và trung học cơ sở. Số người có trình độ này chiếm tới trên 60% lao động ở
nông thôn. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao động sẽ tăng nếu người
nông dân có trình độ học vấn ở mức độ nào đó, và nếu tốt nghiệp phổ thông
mức tăng này là 11%. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: lao động không có
trình độ chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn với
85% năm 2004, mặc dù giảm 7% so với năm 1996(với 92%); số lao động
được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học và tương đương ở nông thôn chỉ
chiếm 1,5%. Số lao động được đào tạo nghề gồm sơ cấp và công nhân kỹ
thuật là 2,3%, trung cấp kỹ thuật là 2,4%. Trong số 8 vùng nông thôn, những
vùng có trình độ học vấn thấp cũng chính là những vùng có tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo thấp, vùng Tây bắc chỉ có 2,3%, Tây Nguyên là 3,41% [47, tr.
25].
Về mặt thể lực, mặc dù thể lực và chiều cao của lao động có tăng lên do
quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói
riêng chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
1.1.3.1 Nhóm các nhân tố liên quan đến quá trình tạo ra tư liệu sản xuất
15
- Tài nguyên thiên nhiên: Để giải quyết việc làm phải có tư liệu sản
xuất tức là phải có đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao động
của sản xuất nông nghiệp là những nhân tố có tính chất tự nhiên, sẵn có đó là
tài nguyên thiên nhiên mà trước hết là đất đai, rừng biển.
Tài nguyên thiên nhiên vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao
động. Vì thế, nó là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là
cơ sở quan trọng đầu tiên để tạo việc làm cho người lao động. Nếu một quốc
gia, một địa phương ở vào vị trí địa lý thuận lợi có đất đai màu mỡ, phì nhiêu,
tài nguyên khoáng sản phong phú thì chắc chắn sẽ có nhiều điều kiện thuận
lợi hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động. Ngược lại, người lao
động sống ở những nơi bất lợi như khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, vùng
núi, hải đảo…thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm và giải quyết việc làm
tại chỗ.
- Vốn và Khoa học - công nghệ: Vốn làm tăng thêm đầu vào và tăng
thêm đầu ra của quá trình sản xuất do đó làm tăng thêm việc làm và tăng thu
nhập. Theo tổng kết của các nhà kinh tế, các yếu tố làm tăng thu nhập khoảng
1/2 ở các nước phát triển và khoảng 1/4 đến 1/3 ở các nước đang phát triển là
do các yếu tố vật chất tăng lên. Vốn là tiền đề để đồng thời đạt được 3 mục
tiêu cơ bản của nền kinh tế là tăng trưởng, việc làm đầy đủ và phân phối công
bằng hợp lý. Muốn có việc làm đầy đủ thì nền kinh tế phải tăng trưởng. Nền
kinh tế tăng trưởng phải có đầu tư.
Sự phát triển của khoa học - công nghệ sẽ làm xuất hiện nhiều ngành
nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế mới, do đó nó sẽ tạo mở thêm nhiều việc làm mới
công nghiệp hoá, đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ thì đội ngũ lao động chất
lượng thấp này không kịp thích ứng, và đã trở thành sức ép rất lớn về vấn đề
giải quyết việc làm.
17
Việc khống chế mức gia tăng dân số, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có
nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch
vụ xã hội sẽ giảm áp lực đối với giải quyết việc làm
Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị cũng gây ra nhiều áp lực lớn
đối với giải quyết việc làm. Khoảng cách chênh lệch lớn về kinh tế- xã hội
giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân gây nên sự di chuyển này. Nhất là
trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá thì dòng di cư này càng mạnh
hơn. Để có thể thu hút hết số lao động này phải nhanh chóng tạo ra một số
lượng lớn chỗ làm việc. Đồng thời có chiến lược chính sách phát triển kinh tế
xã hội ở nông thôn đặc biệt là kinh tế nông thôn, nâng cao điều kiện sống cho
cư dân nông thôn.
- Giáo dục và đào tạo: Giáo dục - đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng nguồn lao động và do đó nó có ảnh hưởng đến việc làm và giải quyết
việc làm. Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập nhằm nâng cao
kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời. Giáo dục đào tạo
tốt sẽ tạo ra một lực lượng lao động có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao, có phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc tốt, có cơ cấu theo
trình độ và ngành nghề phù hợp với cầu về lao động điều đó sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho giải quyết việc làm. Ngược lại, khi người lao động không được
giáo dục - đào tạo, không được trang bị những kiến thức và kỹ năng làm việc
phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động thì sẽ gây khó khăn cho vấn đề
giải quyết việc làm.
Nước ta hiện nay giáo dục đào tạo còn nặng về lý thuyết, sinh viên ít
mạng lưới y tế còn hạn chế kém phát triển nên việc chăm lo tới sức khoẻ của
lực lượng lao động này còn rất hạn chế. Khi trình độ của họ đã thấp cộng với
sức khoẻ yếu kém thì sẽ ảnh hưởng đến giải quyết việc làm.
1.1.3.3 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ chế chính sách
19
Các nước đang phát triển phần lớn là các nước có xuất phát điểm thấp
(nghèo, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật thấp….) đặc biệt là trong lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn. Do đó, nếu người nông dân tự giải quyết việc làm
cho mình là điều rất khó khăn. Vì vậy, cần phải có sự quan tâm giúp đỡ của
nhà nước cũng như cộng đồng.
Chính sách vĩ mô của Nhà nước, nhóm nhân tố này có tác động rất quan
trọng trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Các nhóm chính sách
tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lao động nông thôn như
là; chính sách phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; chính sách tín
dụng ưu đãi; chính sách đất đai (giao đất dài hạn, khoán); chính sách thuế;
chính sách đào tạo nguồn nhân lực.
Nhóm chính sách phát triển những lĩnh vực, những ngành mà có khả
năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: chính sách phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách phát triển kinh tế trang trại chính
sách phát triển du lịch; chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới; chính
sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; chính sách gia công
xuất khẩu; chính sách khôi phục và phát triển các ngành nghề, làng nghề
truyền thống…
Các chính sách tạo việc làm cho các đối tượng là người có công như:
thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ; những đối tượng yếu thế như người nghèo,
người tàn tật…
Các chính sách liên quan đến những vấn đề thuộc tổ chức sản xuất kinh
đầu tư). Trong khi đó cầu lại ảnh hưởng đến quy mô sản xuất và mức độ việc
làm.
Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu sản xuất, theo Keynes cần phải tăng
chi phí đầu tư, tăng tiêu dùng sản xuất, tăng cầu về tư liệu sản xuất. Keynes
cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm. Song khối
21
lượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn đầu tư của nhà tư bản, ý muốn đầu tư
lại phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận hay là hiệu quả giới hạn của tư bản. Khi
hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì họ không
tích cực đầu tư. Khi đó quy mô sản xuất sẽ bị thu hẹp, dẫn đến nền kinh tế trì
trệ, khủng hoảng và thất nghiệp tăng. Theo Keynes, để thoát khỏi tình trạng
này phải điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng. Muốn vậy, Nhà nước phải
có chương trình đầu tư quy mô lớn để sử dụng số tư bản nhàn rỗi và lao động
thất nghiệp. Số người này khi nhận được thu nhập sẽ tham gia vào thị trường
mua sắm hàng hoá, do đó sức cầu tăng lên, giá hàng tăng lên, hiệu quả tư bản
cũng tăng lên. Điều đó khuyến khích doanh nhân mở rộng sản xuất. Theo
nguyên lý “số nhân” này mà nền kinh tế tiếp tục được phát triển, khủng hoảng
và thất nghiệp được ngăn chặn.
1.2.2 Lý thuyết tạo việc làm của Arthus Lewis
Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là di chuyển lao động giữa hai khu
vực, tức là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực
công nghiệp. Do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát
triển nên quá trình này sẽ tạo ra nhiều việc làm. Bởi vì, trong khu vực nông
nghiệp đất đai chật hẹp, lao động dư thừa. Số lao động này không có việc làm
nên không có thu nhập. Vì vậy, việc di chuyển một bộ phận lao động từ khu
vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp sẽ có 2 tác dụng: một là, chuyển
bớt được lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp, chỉ để lại số lao động đủ để
thấp và tỷ lệ nghèo cao. Những ngành nghề cần khuyến khích phát triển bao
gồm: tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ, chế biến nông sản, xây dựng cơ
sở hạ tầng, dịch vụ cho sản xuất và cho đời sống, dịch vụ công (giáo dục, y tế,
khuyến công, khuyến nông…), tăng tỷ lệ làm công ăn lương và tỷ lệ thời gian
lao động nông thôn.
1.3 Sự cần thiết giải quyết việc làm cho người lao động
23
1.3.1 Con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội và
là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế xã hội
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin sự phát triển của mỗi hình
thái kinh tế xã hội được đánh dấu bằng sự phát triển của lực lượng sản xuất,
trong đó yếu tố quyết định đến sự phát triển của lực lượng sản xuất đó chính
là con người. Với vai trò to lớn của con người trong lực lượng sản xuất, các
chính sách của Đảng và nhà nước ta là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân
tố con người với tư cách là mục tiêu và động lực của cách mạng. Con người là
nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào để phát triển.
- Lý thuyết phát triển kinh tế coi con người là yếu tố quyết định tăng
trưởng kinh tế.
- Ngân hàng thế giới nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn con người như
là phương tiện để giảm đói nghèo bằng cách tăng khả năng tạo thu nhập và
tạo điều kiện cho các chương trình phát triển, thể hiện có hiệu quả hơn.
- Bài học của các nước Đông Á: mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên
có hạn, nhưng nhờ chiến lược con người, đầu tư cho con người nên đã có
bước phát triển thần kỳ trong 4 thập kỷ qua, xử lý quan hệ vốn vật chất và vốn
con người có mối liên hệ bổ sung lẫn nhau trong quá trình tăng trưởng và
phát triển.
Như vậy, tiềm năng con người với trí tuệ là tài sản quý giá nhất, là