ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN THỊ THUÝ HẰNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành
: Kinh tế chính trị
Mã số
: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Chính phủ
- CNH - HĐH:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- CNSH:
Công nghệ sinh học
- CSVN:
Cộng sản Việt Nam
- KHCB:
Khoa học cơ bản
- KHƯD:
Khoa học ứng dụng
- KHKT&CN:
Khoa học kỹ thuật và công nghệ
- NN&PTNT:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ
CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NAM ĐỊNH .................. 36
2.1. Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Nam Định ảnh hưởng đến phát
triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp ........... 36
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ................................................................................................. 36
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ...................................................................................... 37
2.2. Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp
ở Tỉnh Nam Định từ năm 1996 đến nay ................................................................ 40
2.2.1. Chủ trương của Đảng uỷ và chính quyền địa phương về phát triển khoa học
kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp. ........................................................... 40
2.2.2. Thực tiễn ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp tỉnh
Nam Định ............................................................................................................. 43
2.3. Đánh giá thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
nông nghiệp ở tỉnh Nam Định thời gian qua. ....................................................... 63
5
2.3.1. Những thành tựu cơ bản ........................................................................................ 63
2.3.2. Những tồn tại chủ yếu ........................................................................................... 67
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG
KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG
NGHIỆP Ở NAM ĐỊNH .................................................................................... 72
3.1. Định hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp và ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ trong nông nghiệp tỉnh Nam Định ........................ 72
3.1.1. Định hướng phát triển nông nghiệp và ứng dụng khoa học kỳ thuật và công
nghệ của tỉnh Nam Định đến năm 2015............................................................... 72
3.1.2. Mục tiêu cụ thể về ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong nông
nghiệp đến năm 2015 ........................................................................................... 75
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học kỹ thuật và công
và sinh học hóa sâu rộng đến mức nào. Chính vì lẽ đó mà Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định một trong những nội dung cơ bản của sự nghiệp công nghiệp
hóa đất nước những năm trước mắt là phải “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [1, tr.299]. Thực hiện đường lối đó, những
năm gần đây, nông nghiệp được tập trung nguồn vốn để trang bị thêm nhiều
phương tiện sản xuất hiện đại, nhờ đó đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả
về số lượng và chất lượng, trong đó nổi bật nhất là sự kiện Việt Nam từ một
nước thiếu lương thực triền miên trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo
lớn nhất thế giới. Người nông dân Việt Nam đã từng bước làm quen với việc ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, nâng cao khả năng
7
cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong và ngoài nước. Nam Định
được coi là một trong những địa phương đi đầu trong tiến trình chung đó.
Là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực đồng bằng sông Hồng, Nam
Định có nhiều điều kiện thuận lợi cả về tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát triển nền
nông nghiệp theo hướng hội nhập, bền vững. Tuy vậy, do nhiều khó khăn chủ
quan và khách quan, nên sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn,
nhất là trong việc tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại, do đó tiềm năng của
một vùng đất nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả, mức độ hội nhập với
các tỉnh và các nước còn thấp.
Để tiếp tục đưa nông nghiệp tỉnh Nam Định tiến lên một nấc thang mới,
đòi hỏi phải tìm được những giải pháp hữu hiệu hơn, phù hợp với bối cảnh nền
kinh tế đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho các cấp, các ngành ở địa phương (và cả trung
ương), nhất là các nhà nghiên cứu, phải tìm được những giải pháp hữu hiệu.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã chọn vấn đề “Ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn
Quốc, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005. Cuốn sách đã giới thiệu những mô hình
sản xuất nông nghiệp tiên tiến hiệu quả dựa trên kỹ thuật thâm canh và ứng dụng
KHKT&CN vào quá trình sản xuất tại một số địa phương điển hình ở cả ba miền
Bắc, Trung, Nam
- “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam” của Mai Thị
Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2006. Cuốn sách đã phân tích vai trò của công nghiệp chế biến đối với sự phát
triển nông nghiệp nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng; trên cơ sở phân
9
tích thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam qua 10 năm
(1995 - 2005), các tác giả rút ra những vấn đề có tính cấp bách đặt ra đối với sự
phát triển của công nghiệp chế biến nông sản hiện nay; đồng thời đề xuất các giải
pháp phát triển công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trị hàng nông sản Việt
Nam hiện nay.
Các công trình trên và nhiều công trình khác chưa nêu ở đây, nhìn chung
đã đề cập đến những khía cạnh của khoa học - công nghệ nông nghiệp trong
phạm vi cả nước cùng với một số giải pháp, ứng dụng thiết thực, cụ thể.
Liên quan đến đề tài luận văn còn có các công trình nghiên cứu về địa bàn
tỉnh Nam Định. Đó là:
- "Nghiên cứu quy hoạch vùng sản xuất khoai tây Hà Lan xuất khẩu từ
giống tạo bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật", năm 2002, đề tài
NCKH cấp tỉnh, do Hoàng Duy Khánh làm chủ nhiệm. Nội dung đề tài là nghiên
cứu xác định vùng phát triển khoai tây giống tạo từ phương pháp nuôi cấy mô
thực vật phục vụ xuất khẩu, trên cơ sở đó đề xuất các phương án phát triển cây
khoai tây Hà Lan xuất khẩu.
- "Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất khoai tây Hà Lan chất lượng
cao sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào cung cấp cho vùng khoai
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nam Định .
12
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nông nghiệp và khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
nông nghiệp ở Nam Định 1996 cho đến nay.
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ
thuật và công nghệ trong nông nghiệp ở tỉnh Nam Định.
13
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1. Khoa học kỹ thuật, công nghệ và vai trò của nó đối với sự phát
triển nông nghiệp
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản nhằm cung
cấp các sản phẩm về lương thực và thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến.
vệ thực vật, thu hoạch và sau thu hoạch..
Căn cứ vào trình độ ứng dụng KHKT&CN vào sản xuất nông nghiệp,
người ta chia các giai đoạn phát triển của nông nghiệp thành nông nghiệp truyền
thống và nông nghiệp hiện đại. Trong đó nông nghiệp truyền thống được hiểu là
nền nông nghiệp mà quá trình sản xuất được thực hiện theo những kinh nghiệm
từ trước truyền lại. Nền nông nghiệp truyền thống là nền nông nghiệp sử dụng
sức lao động cơ bắp và công cụ thủ công, vì vậy phụ thuộc rất chặt vào điều kiện
tự nhiên, năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra đơn điệu và không đáp ứng
đủ nhu cầu của con người. Còn nông nghiệp hiện đại là một nền nông nghiệp đã
được CNH, tức là quá trình sản xuất nông nghiệp sử dụng những thành tựu của
công nghiệp (máy móc, phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất theo
qui trình kỹ thuật hiện đại...), tạo ra năng suất lao động cao, khối lượng nông sản
hàng hoá lớn, chất lượng tốt. Sản phẩm đầu ra của nông nghiệp hiện đại chủ yếu
dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hoá bán ra trên thị trường hay xuất
khẩu.
15
Nền nông nghiệp truyền thống chủ yếu sản xuất ra lương thực cho con
người hay làm thức ăn cho vật nuôi thì trong nền nông nghiệp hiện đại, ngoài
những thứ đó còn sản xuất ra các loại sản phẩm khác nữa như: sợi dệt (sợi bông,
sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mêtan, dầu sinh học...), da thú, cây cảnh, sinh vật
cảnh, chất hoá học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống (kể
cả các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như thuốc lá, côcain... ).
Thế kỉ XX đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
việc cơ giới hoá và sinh học hoá trong nông nghiệp. Các sản phẩm sinh hoá nông
nghiệp gồm các hoá chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm,
phân đạm...
Ngày nay con người còn đang hướng tới không chỉ một hệ thống nông
thống khoa học được chia thành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ
thuật. Khoa học kỹ thuật là tên gọi chung của những khoa học cụ thể được hình
thành trên cơ sở ứng dụng tri thức lý thuyết của các khoa học cơ bản vào trong
hoạt động thực tiễn, chủ yếu là sản xuất vật chất và dịch vụ bằng con đường tạo
ra những phương tiện kỹ thuật và phương pháp công nghệ thích hợp.Trong đó
mỗi loại khoa học đều có phần cơ bản (KHCB) và phần ứng dụng (KHƯD). Nếu
như khoa học cơ bản nghiên cứu nhận thức hiện thực khách quan như nó vốn có
thì khoa học ứng dụng lại vạch ra những con đường, những biện pháp, thủ thuật,
hình thức để ứng dụng tri thức khách quan vào thực tiễn, nhằm phục vụ lợi ích
con người. Sự khác nhau giữa KHCB và KHƯD là ở chỗ KHCB hướng tới việc
loại bỏ hoàn toàn nhân tố chủ quan để nhận thức chính xác các qui luật khách
quan của thế giới bên ngoài và những điều kiện tác động của chúng; còn KHƯD
thì lại chú ý tới nhân tố chủ quan (đến mục đích và phương tiện đạt được mục
17
đích) và việc hiện thực hoá nó trong cuộc sống. Khoa học trong nông nghiệp dĩ
nhiên cũng bao gồm cả KHCB và KHƯD.
Kỹ thuật là kinh nghiệm, kỹ năng, các thao tác, các cơ cấu, các máy móc,
các hệ thống, các phương pháp và phương tiện quản lý, khai thác, bảo vệ, xử lý
vật chất, năng lượng và thông tin được xây dựng nhằm phục vụ các nhu cầu trực
tiếp của xã hội... Kỹ thuật hiện đại gắn bó chặt chẽ với khoa học đặc biệt là trong
điều kiện tiến bộ KHKT hiện nay, nó ngày càng trở thành lực lượng vật chất của
tri thức, thể hiện ở tự động hoá, hoá học hoá và sinh học hoá nền sản xuất [16].
Khoa học kỹ thuật hiện đại có đặc điểm cơ bản là tính biến đổi rất nhanh của nó,
do đó những người hoạt động trong lĩnh vực này không chỉ nắm vững các kĩ
năng của công việc đang làm mà quan trọng hơn là phải có kiến thức sâu rộng
mới có thể nắm bắt được những thành tựu mới của kỹ thuật.
Công nghệ là tổng hợp các phương tiện, phương pháp, cách thức biến đổi
trồng, vật nuôi, vi sinh vật, điều kiện khí hậu, đất đai gắn với quá trình phát sinh
và phát triển của cây trồng, vật nuôi. KHKT&CN trong nông nghiệp bao gồm
các yếu tố cơ bản sau:
Thuỷ lợi hoá:
Thuỷ lợi hoá là việc chinh phục và sử dụng nguồn nước vào sản xuất nông
nghiệp nhằm hạn chế và tiến tới khắc phục nạn hạn hán, lũ lụt, khai thác các
nguồn và cung cấp nước cho cây trồng vật nuôi theo yêu cầu kỹ thuật sản xuất
nông nghiệp. Nói cách khác, mục tiêu của công tác thuỷ lợi là nhằm đảm bảo chủ
động tưới tiêu cho 100% diện tích, trên cơ sở đó để tăng năng suất cây trồng và
năng suất đất đai. Công tác thuỷ lợi gồm 3 vấn đề cơ bản: trị thuỷ các dòng sông
lớn, xây dựng các công trình chứa nước, dẫn nước (tiêu và tưới), xây dựng và
19
thực hiện các chế độ tưới tiêu theo yêu cầu sinh lý từng giai đoạn sinh trưởng và
phát triển cây trồng. Thuỷ lợi hoá nông nghiệp còn góp phần thau chua, rửa mặn,
cải tạo đất đai, nâng cao độ phì của đất, đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng
nhanh.
Cơ khí hoá:
Cơ khí hoá là quá trình đưa máy móc cơ khí vào sản xuất nông nghiệp,
thay thế một phần hoặc toàn bộ công cụ thủ công dùng sức người và gia súc,
nhằm tăng năng suất và giảm nhẹ cường độ lao động. Cơ giới hoá nông nghiệp
có nhiều mức độ: cơ giới hoá từng phần (cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đập….) hay
từng công đoạn (làm đất, thu hoạch, chế biến) đến cơ giới hoá liên hoàn đồng bộ
qui trình sản xuất một cây trồng, vật nuôi, nông sản. Trình độ cơ giới hoá có thể
thấp (kết hợp sức máy với sức người và gia súc) hoặc cao (dùng máy).
Điện khí hoá:
Điện khí hoá là quá trình sử dụng rộng rãi điện năng vào sản xuất nông
nghiệp. Đây là một nội dung chủ yếu của cách mạng khoa học - kỹ thuật và công
nghiệp hoá nền kinh tế. Tầm quan trọng của điện khí hoá đã được Lênin
lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực nông nghiệp, những thành tựu của
công nghệ tin học ngày càng được ứng dụng nhiều hơn. Nhờ công nghệ tin học,
các hoạt động mua (các yếu tố đầu vào) - bán (các sản phẩm hàng hoá) trở nên
thuận tiện hơn và hiệu quả hơn. Hiện nay mạng Internert đã nối về tận các địa
bàn nông thôn và hiện tượng nông dân sử dụng mạng trong kinh doanh đã trở
nên khá phổ biến. Chỉ thị 58 - CT/TW của Ban chấp hành Trung ương về đẩy
mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước đã khẳng định: "Cần khẩn trương xây dựng các chương trình
22
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, kết hợp công nghệ thông tin với
công nghệ sinh học để phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn, đặc biệt xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển vùng sâu, vùng
xa", tiếp tục "đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và
phát triển công nghệ thông tin" [36].
1.1.2. Vai trò của khoa học kỹ thuật và công nghệ đối với sự phát triển
nông nghiệp
1.1.2.1. Tăng hệ số sử dụng của đất đai
Khoa học công nghệ không chỉ có vai trò làm tăng năng suất và chất lượng
nông sản phẩm mà còn có vai trò làm tăng hệ số sử dụng đất, nhờ đó cũng làm
tăng sản lượng nông nghiệp. Trước đây, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển,
sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên thì người nông dân chỉ
gieo trồng 2 vụ/năm, thậm chí có nơi điều kiện thời tiết khắc nghiệt thì chỉ trồng
được một vụ. Nhưng khoảng 50 năm, đặc biệt là 30 năm gần đây, nhờ sự phát
triển của KHCN và ứng dụng rộng rãi những thành tựu của chúng vào sản xuất
mà thời gian làm đất, thời gian sinh trưởng của cây được rút ngắn lại, nhờ đó
người nông dân đã có thể gieo trồng đến 3 - 4 vụ, thậm chí là 5 - 6 vụ/ năm.
Theo đó sản lượng nông nghiệp cũng tăng lên tương ứng. Chẳng hạn, tại Việt
Nam vào những năm 1970 - 1980, đất nông nghiệp còn nhiều nhưng do trình độ
nghiệp. Trong giai đoạn 2000 - 2006, sản xuất nông nghiệp của các tỉnh miền
Bắc đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 4%, đưa giá trị sản xuất nông
nghiệp từ 41.300 tỷ đồng năm 2000 lên gần 51.900 tỷ đồng vào năm 2006.
Nhờ áp dụng các tiến bộ trong lĩnh vực chọn, tạo giống mà nhiều cây
trồng ở nước ta có năng suất, chất lượng chạm trần, tức là tương đương với cây
trồng, vật nuôi cùng loại ở các nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến. Các
giống cây trồng này hầu hết đều có phẩm chất tốt, được gieo trồng ở nhiều vùng
24
sinh thái trong cả nước và cho năng suất cao hơn các giống cũ từ 10 đến 15%,
góp phần đưa sản lượng nông nghiệp tăng cao. Nhiều tiến bộ kỹ thuật sản xuất
được áp dụng rộng rãi như kỹ thuật sạ hàng cho phép tiết kiệm được 40 - 60% số
hạt giống; tổ chức bón phân theo bảng so màu, giúp tiết kiệm được 15 - 20%
lượng phân đạm và hạn chế số lần phun thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ
sức khoẻ người lao động. Việc áp dụng tiến bộ của khoa học vào quy trình chăm
bón - thu hoạch bảo quản, đặc biệt là chương trình phát triển công nghiệp chế
biến cũng được thực hiện có hiệu quả. Mặt khác do cải thiện được chất lượng
nên giá bán nông sản ở thị trường trong nước và quốc tế cũng tăng đáng kể.
Cũng nhờ áp dụng thành tựu KHCN, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn
nuôi có xu hướng tăng với tốc độ cao. Quá trình nghiên cứu, lai tạo giống tốt đã
giúp đàn lợn tăng 6%/năm, đàn bò tăng 5,6%/năm. Thành công trong nghiên cứu
các công thức lai giữa bò nội và bò ngoại đã tạo ra con lai F1 có năng suất thịt
cao hơn đàn bò vàng Việt Nam 20 - 50%, phát triển được đàn bò lai hướng thịt
với các giống Charolais, Hereford,… đàn bò sữa tăng bình quân hơn 20%/năm.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học nông nghiệp cũng đã nghiên cứu lai tạo và khảo
nghiệm thành công các cặp lợn lai có tỷ lệ nạc từ 56 đến 60%. Mặc dù trọng
lượng thịt tăng lên nhưng lượng thức ăn cho 1 kg tăng trọng lại giảm từ 3,8 - 4,3
kg xuống 2,8 - 3kg.