Phát triển ngoại thương việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa luận văn ths kinh tế 5 02 01 - Pdf 33

I HC QUC GIA H NI
TRUNG TM O TO, BI DNG GING VIấN
Lí LUN CHNH TR

HONG TH HNG

Phỏt trin ngoi thng Vit Nam trong thi k
y mnh cụng nghip húa, hin i húa

luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

Hà nội - 2005


I HC QUC GIA H NI
TRUNG TM O TO, BI DNG GING VIấN
Lí LUN CHNH TR

HONG TH HNG

Phỏt trin ngoi thng Vit Nam trong thi k
y mnh cụng nghip húa, hin i húa
Chuyờn ngnh : Kinh t chớnh tr
Mó s

: 5.02.01

luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Nguyn Vn Nam



Đầu tư nước ngoài

EU:

Liên minh Châu Âu

FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT:

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

GDP:

Tổng sản phẩm quốc nội

KNNK:

Kim ngạch nhập khẩu

KNXK:

Kim ngạch xuất khẩu

KNXNK:

Kim ngạch xuất nhập khẩu

- Hoạt động ngoại thương; đó là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá.
- Hoạt động hợp tác kinh tế, kỹ thuật; bao gồm hợp tác đầu tư và hợp
tác khoa học - công nghệ.
- Hoạt động du lịch - dịch vụ; đó là các hoạt động vận tải, bảo hiểm,
ngân hàng... và hoạt động du lịch.
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động ngoại thương giữ vị trí
quan trọng, nó tạo điều kiện phát huy được lợi thế và tiềm năng của từng
nước trên thị trường quốc tế. Hoạt động ngoại thương của một nước được
đánh giá qua tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu, cán cân thương mại, cán cân
thanh toán, kết quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của đất nước, do đó
mà tác động đến tổng cầu của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế tăng trưởng
hoặc suy giảm.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động
ngoại thương nói riêng. Kết quả hoạt động xuất - nhập khẩu đã có ý nghĩa
quan trọng góp phần vào ổn định và phát triển kinh tế; góp phần cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế; góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH; góp phần đổi mới trang thiết bị
và công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao động, nâng
cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước; góp phần cải thiện
và nâng cao đời sống nhân dân…

2


Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động ngoại thương Việt Nam
những năm qua còn nhiều tồn tại, yếu kém; kết quả đạt được chưa tương xứng
với tiềm năng và nội lực của đất nước, với nhu cầu thế giới. Việc nghiên cưú
lý luận về phát triển ngoại thương trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh
tế quốc tế và đánh giá kết quả hoạt động ngoại thương những năm qua, tìm

Nam” của thạc sỹ Đoàn Quang Vinh.
- “Toàn cầu hoá - hai mặt thuận và nghịch đối với thương mại của Việt
Nam” của Nguyễn Thanh Nga - Viện nghiên cứu thương mại, Bộ thương mại.
- “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
Việt Nam giai đoạn 2001-2010, tầm nhìn đến 2020” - Đề tài độc lập cấp Nhà
nước do Bộ thương mại thực hiện 2000-2001, chủ nhiệm đề tài: PGS. TS.
Nguyễn Văn Nam...
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu ngoại thương Việt Nam từ
góc nhìn kinh tế chính trị: Khái quát lý luận về ngoại thương, nhất là vai trò
tác động của ngoại thương đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (có tính
đến xu hướng toàn cầu, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế); đánh giá thực
trạng hoạt động ngoại thương Việt Nam từ 1991 đến nay, tìm nguyên nhân, từ
đó đề xuất phương hướng, chính sách phát triển ngoại thương cho thời gian
tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích vai trò, tác động của ngoại
thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; đánh giá thực trạng
ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến nay, tìm nguyên nhân và cách khắc
phục tồn tại, yếu kém; Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và chính sách
phát triển ngoại thương cho thời gian tới.
* Nhiệm vụ.
Để đạt mục đích trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau:
- Khái quát lý luận về ngoại thương; phân tích vai trò, tác động của
ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (trong xu hướng
toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế).
- Phân tích thực trạng ngoại thương Việt Nam từ 1991 đến nay: Thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn chế đó.

4

Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò, tác động của ngoại thương trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam, có tính đến xu hướng hội nhập
kinh tế khu vực và quốc tế - cơ hội và thách thức.
Thời gian giới hạn từ 1991 đến nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Ý nghĩa lý luận
- Đề tài làm rõ vai trò của ngoại thương đối với việc đẩy mạnh CNH,
HĐH

6


- Sự cần thiết phát triển ngoại thương để đẩy mạnh CNH, HĐH trong
xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
- Làm rõ cơ hội và thách thức của việc phát triển ngoại thương Việt
Nam trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
* Ý nghĩa thực tiễn.
- Đánh giá kết quả hoạt động ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến
nay; tìm nguyên nhân của thành tựu và hạn chế
- Đề xuất phương hướng, chính sách và giải pháp cơ bản để phát triển
ngoại thương trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.
- Luận văn có thể được dùng làm đề tài tham khảo cho giáo viên và học
sinh, sinh viên khi giảng dạy và nghiên cứu về hoạt động ngoại thương Việt
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Ngoại thương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Chương 2: Thực trạng ngoại thương Việt Nam từ năm 1991 đến nay .

ngoại thương mới phát triển rộng rãi. Ngoại thương vừa là tiền đề, vừa là kết
quả của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các cuộc cách mạng lớn diễn
ra trong thương nghiệp ở thế kỷ XVI, XVII gắn liền với những phát kiến địa
lý đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của tư bản thương nghiệp. Đó là một
trong những nhân tố của tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, và góp phần thúc đẩy

9


phương thức sản xuất phong kiến chuyển sang phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Thị trường thế giới mở rộng, hàng hoá lưu thông tăng thêm nhiều,
các nước châu Âu đua tranh làm chủ các sản phẩm của châu Á và tài nguyên
phong phú của châu Mỹ... Tất cả những điều đó đã góp một phần căn bản vào
việc phá vỡ các giới hạn phong kiến của nền sản xuất. Mặt khác, tính tất yếu
nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phải sản xuất trên một
qui mô ngày càng lớn hơn để tăng thu lơị nhuận. Điều đó thúc đẩy thị trường
thế giới phải không ngừng mở rộng; ngoại thương ngày càng phát triển. ở thế
kỷ XVI, XVII, lúc đầu tham gia vào mậu dịch quốc tế chỉ có một số ít các
nước tư bản chủ nghĩa phát triển hơn, dần dần, do sự phát triển mạnh của lực
lượng sản xuất và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, ngày càng có nhiều
nước ở nhiều trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thuộc nhiều khu
vực lãnh thổ khác nhau cùng tham gia vào mậu dịch quốc tế. Ngoại thương
phản ánh quá trình tham gia phân công lao động quốc tế của một nước.
1.1.2. Một số lý thuyết cơ bản về thương mại quốc tế
1.1.2.1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Lý thuyết này xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVIII, xây dựng trên cơ sở
lý thuyết về buôn bán tự do được phát triển vào thế kỷ này. Năm 1776, trong
tác phẩm “Sự giàu có của các dân tộc”, Adam Smith đã quan niệm các nước
thu được lợi ích lớn nhất khi tham gia trao đổi các loại hàng hoá có thể sản
xuất với hiệu quả tối đa. Điểm then chốt của lập luận này là ở chỗ các loại chi

Sản phẩm

Chi phí sản xuất (ngày công lao động)
Việt Nam

Nga

Thép (1 đơn vị)

25

16

Quần áo (1 đơn vị)

5

4

Xét theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thép và quần áo đều có
chi phí cao hơn Nga. Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không có khả

11


năng xuất khẩu sản phẩm này sang Nga. Song nếu xét theo chi phí so sánh thì
lại có cách nhìn khác (xem bảng 1.2).
Bảng 1.2: Chi phí so sánh
Sản phẩm



(Qb – 9)

C

Qa

A

Độ dốc (-4,5)

Độ dốc (-5)

12


0

Tb (Tb+2) Ta

Thép

Sơ đồ 1: Lợi thế của Việt Nam khi có ngoại thương
Trong sơ đồ này, đường PPF phản ánh khả năng sản xuất thép và quần
áo của Việt Nam.
- Khi chưa có ngoại thương, điểm A (nơi tiếp xúc giữa đường PPF và
tiếp tuyến có độ dốc là (-5) phản ánh giá so sánh thép của Việt Nam) phản
ánh đồng thời khả năng sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam A(Ta, Qa).
- Khi có ngoại thương, Việt Nam sẽ bán quần áo sang Nga và mua thép
từ Nga về. ở đây có vấn đề là giá trao đổi sẽ được thực hiện như thế nào.

là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao [36, tr.587]. CNH là con đường tất yếu để xây dựng cơ sở vật chấy kỹ
thuật cho chủ nghiã xã hội ở nước ta. Thực chất CNH chính là chuyển lao
động thủ công thành lao động cơ khí chủ yếu trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, CNH có hai nội
dung chủ yếu là: Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật để trang bị kỹ
thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và
phân công lại lao động xã hội. Đảng ta đã xác định nội dung cơ bản của CNH,
HĐH từ nay đến năm 2010 là:
- Con đường CNH, HĐH nước ta cần phải và có thể rút ngắn bằng kết
hợp hài hoà giữa phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt, gắn CNH với
HĐH bằng phát triển những công nghệ hiện đại, đặc biệt công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH.
Sự chuyển dịch này phải dựa trên cơ sở phát huy thế mạnh, lợi thế so sánh của
đất nước, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, mở rộng thị trường
trong nước và ngoài nước.

14


- Huy động các nguồn lực đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông
thôn. Đưa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp phát triển lên một trình độ
mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh
học, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tăng giá trị trên một diện tích
đất canh tác; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá, đồng thời áp
dụng các công nghệ tin học, sinh học; giải quyết tiêu thụ nông sản; đầu tư cho
phát triển hạ tầng nông thôn; phát triển nhiều ngành nghề chế biến truyền

công nghệ mới, công nghệ sinh học…[37, tr.587].
Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam đã xác định rõ: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [11, tr.80].
Nội dung của CNH, HĐH ở Việt Nam được Đại hội IX của Đảng nhấn
mạnh “...Hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN... xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả và nâng cao sức cạnh
tranh. Hoàn chỉnh một bước cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng... Tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tăng nhanh XK, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài. Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, thực hiện các cam kết song
phương và đa phương…; duy trì ổn định các cân đối vĩ mô…; nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; …ứng dụng nhanh các công nghệ
tiên tiến hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức… [12, tr.262-263].
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, khẳng định tụt hậu là nguy cơ lớn nhất,
vượt và thoát nguy cơ này là thách thức hàng đầu của Việt Nam. Điều này có
nghĩa là chúng ta cần phải phát triển rút ngắn thời gian. Quan điểm này đã
được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX là: “Đẩy mạnh CNH,
HĐH xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước
công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phát huy cao độ nội lực,

16


đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững…” [12, tr.2]. Mục tiêu của chiến
lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 - 2010) là: Đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của

được cùng với thế giới. Lúc này chính từ hội nhập kinh tế quốc tế , thông qua
thương mại tư do nền sản xuất và kinh doanh trong nước sẽ tìm được câu trả
lời chính xác cho sự lựa chọn mình sẽ phải làm gì ? làm bao nhiêu ? và làm
như thế nào ?. Một trong những kết quả của những trả lới chính xác này là
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế nói chung, hàng hoá, dịch vụ Việt Nam nói riêng.
Những lợi ích của ngoại thương có thể được nhìn nhận như những lợi ích về
chất bởi lẽ chúng giúp nâng cao được chất lượng của nền kinh tế: tăng trưởng
cao nhưng bền vững vì mức tăng trưởng cao của năng suất lao động xã hội
trong khi sử dụng ít hơn nguồn lực (bao gồm cả việc thoả mãn được yêu cầu
bảo vệ môi trường- sự phá huỷ môi trường có thể coi như là tiêu hao về nguồn
lực).
- Về lượng: ngoại thương giúp tăng qui mô tiêu dùng trong khi không
phải tiêu hao thêm nguồn lực của đất nước, lợi ích này của ngoại thương thu
được chủ yếu dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh, trong đó có khai thác lợi
ích kinh tế nhờ qui mô. Chỉ có thông qua ngoại thương, lợi thế so sánh của đất
nước mới có thể chuyển thành lợi ích tiêu dùng, đẩy khả năng tiêu dùng của
đất nước vươn xa, ra ngoài giới hạn của nền sản xuất. Khối lượng của cải lớn
hơn có thể được tiết kiệm để đầu tư trở lại, mở rộng qui mô sản xuất. Đây
chính là tích luỹ cần thiết trong giai đoạn ban đầu của CNH, bù đắp cho
những thiếu hụt trong những nước có xuất phát điểm thấp như Việt Nam.
Ngoại thương giúp đẩy mạnh CNH, HĐH, đến lượt nó CNH, HĐH lại
tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại thương phát triển.
Qua phân tích một số lý thuyết về thương mại quốc tế ở phần trên cho
thấy, ngoại thương ra đời và phát triển xuất phát từ lợi thế so sánh và cũng
được dẫn dắt bởi lợi thế so sánh. Một đặc điểm quan trọng nhất của lợi thế so

18





thách thức đối với lợi thế trong sản xuất lúa gạo của ta thật là không nhỏ và
không dễ vượt qua.
Trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, với nền sản xuất còn
thấp, chỉ có thể phát triển nền kinh tế đất nước bằng con đường mà Đảng ta đã
khẳng định, đó là thực hiện CNH, HĐH. Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ
khoá VII của Đảng ta khẳng định: Nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng
hàng đầu trong thời gian tới là đẩy tới một bước CNH, HĐH đất nước, coi
CNH, HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước
xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập chủ
quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoại thương sẽ góp phần quan trọng
thực hiện nhiệm vụ này và thực hiện thành công CNH, HĐH. Và chính ngoại
thương sẽ không thể phát triển được nếu không có một nền kinh tế hiện đại
dựa trên nền tảng của CNH, HĐH. Với mối quan hệ chặt chẽ giữa ngoại
thương với CNH, HĐH thì ngoại thương cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Đẩy mạnh XK, tăng tích luỹ vốn cho tái sản xuất mở rộng, phục vụ
đắc lực cho phát triển rút ngắn CNH.
- NK các yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh
và hình thành những lợi thế so sánh mới thông qua việc NK các công nghệ
cao.
- NK hợp lý để tiết kiệm tiêu dùng, hướng dẫn tiêu dùng có hiệu quả,
tạo cơ sở để phát triển sản xuất công nghiệp.
1.2. Kinh nghiệm phát triển ngoại thƣơng trong quá trình CNH ở
một số nƣớc
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á
Từ nhiều thập kỷ nay, khi tiến hành CNH để thoát khỏi tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu, các quốc gia chậm phát triển đều phải giải quyết vấn đề
tạo vốn và tích luỹ vốn, trong đó có nguồn từ bên ngoài như thu nhâp từ XK,


các nước Đông nam Á với các nước tư bản Phương Tây [32].

21


Nguồn lợi thu được từ XK sản phẩm có lợi thế về điều kiện tự nhiên đã
góp phần không nhỏ vào quá trình tích luỹ vốn ban đầu cho CNH ở các nước
Đông Nam Á.
1.2.1.2. Ưu tiên những ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao
để tận dụng nguồn lao động dồi dào vào sản xuất hàng xuất khẩu
Khi bắt đầu chiến lược CNH hướng về XK, trong các yếu tố của quá
trình sản xuất ngoài tài nguyên thiên nhiên thì lao động dồi dào và giá rẻ là
một lợi thế lớn của một số nước Đông Nam Á. Cùng với vốn đầu tư, lợi thế
về lao động nếu được sử dụng triệt để có thể tạo ra những bước phát triển
nhanh về kinh tế. Vì vậy các nước Đông Nam Á bắt đầu bằng việc xây dựng
những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động (chủ yếu thuộc công nghiệp
chế biến tvà chế tạo hàng tiêu dùng mang tính chất gia công lắp ráp cho các
công ty nước ngoài), nhờ đó tạo ra nhiều việc làm, đồng thời khai thác lợi thế
lao động rẻ để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế
giới.
Ở Inđôlêxia nhóm hàng XK chiếm vị trí quan trọng và tăng nhanh trong
những năm 1980 là hàng dệt và may mặc. Giá trị các mặt hàng này trong tổng
KNXK từ 0,4% năm 1980 đã tăng lên 17,8% năm 1982. Malaixia lại tập trung
khai thác và chế biến gỗ XK. Năm 1993, Malaixia đã XK 5,44 triệu m3 gỗ xẻ,
thu 4,4 tỷ ringgit (khoảng 1,7 tỷ USD). Nếu tính chung gỗ chế biến và đồ gỗ
XK thì năm 1993 Malaixia thu tới 12,2 tỷ ringgit (khoảng 4,7 tỷ USD) tăng
16% so với năm 1992. Trong số các ngành công nghiệp chế biến mũi nhọn
của Thái Lan, công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản và công nghiệp dệt
chiếm vị trí quan trọng. Thái Lan là một trong số nước hàng đầu thế giới về
XK gạo với mức XK 4-5 triệu tấn/năm, gạo Thái Lan đã cạnh tranh được trên

Sự không thành công của chiến lược thay thế NK đã buộc các nước
ASEAN phải thay đổi chiến lược vươn ra thị trường ngoài nước. Dung lượng
lớn cũng như biến động phức tạp của thị trường ngoài nước đã đặt các nước
ASEAN trước nhiệm vụ phát triển sản xuất XK, nâng cao năng lực cạnh tranh
để đạt được qui mô sản xuất tối ưu.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status