Lời mở đầu
Chính sách Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta, đã thực hiện được từ những năm 60 của Thế kỷ XX. Trải qua nhiều năm với
những sửa đổi, bỏ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm xã hội đã
đóng góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng
thời góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Người ta ví “ Cuộc sống không có
bảo hiểm như cầu thang không có tay viện”. Nhận thức được tầm quan trọng của BHXH
trong hệ thống an sinh quốc gia (ASXH ) quốc gia. Trong những năm vừa qua việc triển
BHXH đã từng bước đi vào cuộc sống thông qua việc thực hiện có hiệu quả các chế độ
hưa trí, ốm đau, thai sản ….
Qũy BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói là vai trò
quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH, có ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định
của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thể nào để nâng cao được hiệu quả trong việc
thu - chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người
quan tâm nghiên cứu đến hoạt động BHXH.
Thanh Hoá là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ có diện tích tự nhiên lớn và dân cư
đông bao gồm: 27 huyện thị trong đó có 2 thị xã và một thành phố. Là một tỉnh có
truyền thống về lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, năm trên con đường huyết mạch từ
Bắc chí Nam. Là một người con của đất Thanh Hóa và là sinh viên khao Bảo hiểm
trường Đại học Kinh tế quốc dân nên em đã trọn đề tài “Bàn về quản lý thu chi chi
BHXH tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2003 – 2008 “ . Qua bài viết này em xin nêu lên và
đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ
BHXH.
Chương I: BHXH và quỹ BHXH
I. BHXH:
1. Khái niệm và bản chất:
1.1. Khái niệm:
BHXH là quá trình tổ chức, sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn
tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động dưới sự quản lý,
điều tiết của Nhà nước, nhằm đảm bảo phần thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc
biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
2. Đối tượng, chức năng, bản chất:
2.1. Đối tượng:
Dù có lịch sử ra đời từ rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn rất nhiều quan
điểm chưa thống nhất, hay có sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng
tham gia BHXH.
Theo khái niệm của BHXH :” BHXH là quá trình tổ chức, sử dụng một quỹ tiền
tệ tập trung được tồn tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao
động dưới sự quản lý, điều tiết của Nhà nước, nhằm đảm bảo phần thu nhập để thỏa
mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của người lao động và gia đình họ, khi họ gặp
những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động như bị mất việc làm, ốm đau
bệnh tật, tai nạn, tuổi già…” vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất
đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng
lao động, mất việc làm.
Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tùy
theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả
hoặc một bộ phận người lao động. Nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì
đối tượng tham gia càng được mở rộng hơn.
2.2. Chức năng:
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:
Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự đảm
bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao
động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy
định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc
mất thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ
thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy
định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quy định nhiệm vụ, tính chất và cả
xảy đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh
chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn
giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn
định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang
tính tất yếu khách quan.
BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và thời gian.
Điều này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH,
người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời
gian, đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời có tính dịch vụ. Tính
kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lúy, có
hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện ở việc BHXH được sử dụng nhằm đảm bảo ổn
định cho những người lao dộng và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó
thông qua họa động dịch vụ tài chính ( thông qua nguồn vốn nhàn rỗi )
3. Những nguyên tắc về BHXH:
3.1. Là sự đảm bảo về mặt xã hội:
Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của BH, nó vừa mang giá trị vật
chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này được thể hiện trước hết là sự đảm bảo về vật chất
( qua các chế độ BHXH ). Mức đảm bảo về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng tới sự phát tiển của BHXH,
BHXH là lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực tế có thu nhập là cơ sở để
đảm bảo cho quãng đời không tham gia và lao động ( mất sức lao đông hay cao tuổi).
3.2. BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện:
Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu. Như vậy, nhà nước đóng
vai trò tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động hiểu được
nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH. Điều này được thể
chế hóa trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự
nguyện có ý nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loại hình và chế độ bảo hiểm, mà
người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hế thống BHXH của một số
nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện và
Điều này được thể hiện trong nội dung và điều kiện tham gia từng chế độ về BHXH.
Xét trên góc độ khác, công bằng được đặt trong các quan hệ xã hội giữa những người
tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa bàn, nghành nghề khác
nhau…dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm.
4. Những quan điểm cơ bản về BHXH:
Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:
- BHXH là một trong những chính sách XH cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện
trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi
quốc gia
- Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt
giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
- Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm và nghĩa vụ BHXH đối với người mà họ
sử dụng.
+ Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.
+ Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình
sử dụng.
- Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:
+ Tình trạng sức khỏe, thương tật, thông qua dám định y khoa
+ Ngành nghề công tác của người lao động
+ Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
+ Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
+ Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia
+ Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
- Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ
chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH
II. Quỹ BHXH:
1. Khái niệm:
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước. Quỹ có
mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao
động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro. Chủ thể của quỹ
hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhât cho rằng, phải căn cứ vào mức lương
cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải
căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ
nền kinh tế quôc dân để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải
chiệu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp
gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng
góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu
cho quỹ BHXH hoặc chiệu toàn bộ chi phí quản lý BHXH v.v…
Mức đóng góp của một số nước trên thế giới
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng góp của
người lao động so
với tiền lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của
người sử dụng lao
động so với quỹ
lương (%)
CHLB Đức
CH Pháp
Indonexia
Philipin
Malaixia
Bù thiếu
Bù thiếu
Bù thiếu
Bù thiếu
Chi toàn bộ chế độ
ốm đau, thai sản
14,8 – 18,8
có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:
+ Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có
cơ sỡ xác định mức đóng phí.
+ Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng.
+ Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi
từ mức hưởng BHXH này có thể xác định mức phí phải đóng.
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại khá phức
tạp vì nó liên quan đến cả người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Liên
quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên
tắc: Cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được
cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH xác định theo công thức:
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó:
P – Phí BHXH
F
1
– Phí thuần tuý trợ cấp BHXH
F
2
– Phí dự phòng
F
3
– Phí quản lý
quan hệ giữa chính sách BHXH với chính sách kinh tế còn thể hiện thông qua mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế
tự thân nó không dẫn tới tiến bộ xã hội và càng không dẫn tới công bằng xã hội một
cách trực tiếp, mặc dù tăng trưởng kinh tế ở một mức độ nào đó có thể thúc đẩy tiến bộ
xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải qua khâu phân phối mới đưa các chính sách BHXH
nói riêng và phúc lợi xã hội nói chung tới các tầng lớp dân cư. tăng trưởng kinh tế là
một điều kiện quan trọng để thực hiện chính sách BHXH có hiệu quả. Ngược lại khi
xem xét chính sách BHXH dưới góc độ một chính sách kinh tế khi hoạch định chính
sách BHXH không hợp lí, xây dựng mức đóng BHXH không phù hợp sẽ làm nâng giá
thành sản phẩm lên cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm, hạn chế tăng trưởng kinh
tế. Tuy nhiên giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách BHXH cũng có sự mâu thuẫn. Qúa
trình nâng cao hiệu quả kinh tế thường xuất hiện các hiện tượng cố tình không thực hiện
chính sách BHXH cho người lao động như đóng BHXH không đứng mức thu nhập, kí
hợp đồng lao động ngắn hạn, trang bị bảo hộ lao động không đảm bảo gây ra tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp. Việc giải quyết hài hoà mối quan hệ này phụ thuộc vào bản
chất chế độ chính trị xã hội và năng lực quản lí của Nhà nước trong việc tạo điều kiện
tối ưu sự kết hợp sự phát triển kinh tế với việc thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của xã
hội gắn liền tiến bộ xã hội với sự phát triển toàn diện con người.
4.2. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội:
Chính sách xã hội là một vấn đề rộng lớn, được cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp
luật, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã
hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về
đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân... chính sách xã hội bao trùm lên mọi
cuộc sống của con người. Trong hệ thống các chính sách xã hội thì BHXH là một chính
sách quan trọng. Chính sách BHXH và các chính sách xã hội khác có mối quan hệ biện
chứng với nhau, các chính sách này hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết các vấn đề xã hội.
Thực hiện tốt các chính sách xã hội sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách BHXH và
ngược lại thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ góp phần thực hiện tốt các chính sách xã
hội khác. Chẳng hạn như chính sách tiền lương là cơ sở để xác định mức đóng BHXH,
vì vậy mức tiền lương phải đảm bảo đủ trang trải các nhu cầu cơ bản của người lao