Lời nói đầu.
Theo đánh giá của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX về định hướng
phát triển các thành phần và các vùng kinh tế ở nước ta 2001 – 2010, Đảng ta
khẳng định cần tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan
trọng và là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế; tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và một số cơ sở công
nghiệp quan trọng. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế,
đi đầu ứng dụng tiến bộ KHCN, nêu gương về năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong
những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng, xây dựng các công ty nhà nước đủ
mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh
trên thị trường trong nước và quốc tế.
Với vị trí của các doanh nghiệp đang ngày càng được khẳng định trong nền kinh
tế quốc dân, mà đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước thì nội dung đầu tư phát triển
đã trở thành 1 vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu. Trong thời gian qua đầu tư
phát triển trong doanh nghiệp đã đạt được những kết quả to lớn, đã đưa nền kinh
tế tiến thêm những bước thêm vững chắc hơn trên con đường công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên công tác thực hiện đầu tư phát triển có hiệu quả
hay không cũng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc trong các doanh nghiệp. Vì vậy,
trong khuôn khổ buổi thảo luận ngày hôm nay chúng tôi xin được đưa ra những
nhìn nhận về nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và những
đánh giá tình hình đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Từ đó
chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm để nâng cao hiệu quả đầu tư phát
triển trong doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước ta
hiện nay.
1
Nội dung.
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
I _ Các vấn đề cơ bản của đầu tư phát triển trong nền kinh tế nói chung và
trong doanh nghiệp nói riêng.
chu chuyển giữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế.
1.3;Vốn đầu tư:Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng:Vốn đầu tư
được hiểu là tiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất,kinh doanh dịch vụ là
tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong
quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở sẵn có
và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
1.4; Nguồn vốn đầu tư: Là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và
của xã hội.Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.
2;Vai trò của ĐTPT.
2.1; Trên gác độ vĩ mô
2.1.1. Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đên tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Về mặt lý luận,hầu hết các tư tưởng,mô hình và lý thuyêt về tăng trưởng kinh tế
đều trực tiếp hoặc gián thiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ vốn cho đầu tư là
một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất,cung ứng dịch vụ cho
nền kinh tế.Từ các nhà kinh tế học cổ đỉên như Adam smith trong cúôn “của cải
của các dân tộc” đã cho rằng vốn đầu tư là yếu tố qưuyết địng chủ yếu của số lao
động hữư dụng và hiệu quả .V iệc gia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phân quan
3
trọng ttrong việc gia tăng sản lượng quốc gia và sản lượng bình quân mỗi lao
động.Theo mô hình của Harrod-domar,mức tăng trưởng của nền kinhtế phụ thuộc
trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần.
g =∆Y/Y =∆Y/y*∆K/∆K=∆Y/∆K*∆K/Y=1/ICOR*I/Y
Từ đó cỏ thể suy ra:
∆Y=1/ICOR*I
Trong đó :
∆Y :mức gia tăng sản lượng
∆K:Mức gai tăng vốn đầu tư
I:Mức đầu tư thuần
Đầu tư và đặc biệt là ĐTPT trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng và năng lục
sản xuất,phục vụ của nền kinhtế và các đơn vị cơ sở.Chính vì vậy, đâu tư cũng là
điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của
quốc gia theo cơ cấu kĩ thuệt của đầu tư,trong giai đoạn vừa qua,tỷ trọng giá trị
máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư của VN chiếm khoảng 28%(xây duẹng
chiếm khaỏng 57%)
Cơ cấu này chưa phản ánh đúng yêu cầu CNH-HĐH,tuy nhiên nó cũng là con ssố
không nhỏ tạo ra năng lực công nghê cho toàn bộ nền kinh tế. Đối với đầu tư
nứoc ngoài,hoạt động của doanh nghiệp FDI thường gắn với các chương trình
chuyển gioa công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có thể là điểm đến của một
số công nghệ và phương thức dản xuất mới. Đối với chi đầu tư của nhà nươc cho
nghiên cứu khoa học và phát triên công nghệ mới mặc dù vẫn còn nhỏ về quy
mô,thấp về tỷ trọng (giai đoạn 2001-2005là 7,6 nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn
đầu tư toàn xã hội) nhưng ở đây cũng là một ttrong những biểu hiệ n của đầu tư
5
và ở mức độ nhận định nó cũng có tạo ra và tăng cường năng lực khoa học công
nghệ nước ta (đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp:
giống mới, công nghệ ren…)
2.1.4; Đầu tư vừa tác động đến tông cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh
tế.
Đầu tư (i)là một trong những bộ phận quan ttrọng của tổng cầu (AD=C+I+G-
M).Vì vậy khi quy mô đầu tư thay đổi cũng sẽ xó tác động trực tiếp đến quy mô
tổng cầu.Tuy nhiên tác động của đầu tu đến tổng ccầu là ngắn hạn.Khi tông cung
chưa kịp thay đổi,sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia
tăng của sản lượng và giá cả các yếu tố đầu vào.Trong dìa hạn khi các thành qủa
của dầu tư đã được huy động và phát huy tác dụng,năng lực sản xuất và cung
ưúng dịch vụ gia tăng thì tông cung cũng sẽ tăng lên.Khi đó sản lượng tiềm năng
sẽ tăng và đạt mức cân bằng ttrong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi
xuống.Sản lượng tăng ttrong khi giá cả giảm sẽ kchs thích tiêu dùng và hoạt động
sản xcuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế.
chất có ỹ nghĩa quyết định để thực hiện tốt nhất các chủ trương,chính sách phát
triển KTXH của đất nước.Ở VN đây là điều kiện vật chất để ổn định và củng cố
chế độ chính trị ,nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước cũng như không
ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Vốn ngân sách đầu tư hiện nay chia làm hai loại:
-Vốn ngân sách TW dung để đầu tư xây dựng các dự án(trồng rừng đầu
nguồn,rừng phòng hộ,các công trình chủ yếu của nền kinh tế…)
-Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương đầu tư vào những vấn
đề quan trọng của địa phương.
7
Trong những năm gần đây,quy mo vốn đầu tư nhà nước không ngừng gia tăng
nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau.Trong những năm 2001-2004 đầu tư cho
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm khoảng 25%,công nghiệp 7,9,GTVT và
bưu chính viễn thông28,7%.
Tuy nhiên nguồn vốn này có một số hạn chế như hiệu quả sử dụng thấp tỷ lệ
thất thoát cao,vốn đầu tư thường giàn trải,không trọng tâm trọng điểm,hệ thống
các cơ quan quản lý vốn ngân sách chồng chéo,chức nang không rõ giữa quản lý
nhà nước và quản lý kinh doanh.Do vậy chúng ta cần có một số giải pháp như
làm thế nào để tăng nền kinh tế cao và liên tục,tận thu chống thất thu thuế,phân
bổ NS cho chi đầu tư và chi thường xuyên cho hợp lý
-Nguồn vốn tín dụngđầu tư phát triển :
Tín dụng đầu tư là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay để đảm
bảo các khảon chi của ngân sách đồng thời nhà nước cũng là người cho vay để
đảm bảo các chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế.Là nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể
sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước .Ngoài ra nó còn có tác dụng khuyến khích
các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả đầu tư vì với cơ chế tín dụng các
doanh nghiệp vay vốn phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.Do có yếu tố ưu
đãi nên khuyến khích các DN đầu tư theo định hướng của nhà nước
Trong những năm gần dây đã sử dụng nguồn vốn này hỗ trợ cho các chương
giấy tờ có giá từ tay của một chủ thể này sang tay một chủ thể khác một cách đơn
thuần nếu nhìn nhận từ bên ngoài.Về thực chất,đây là quá trình vận động tư bản ở
hình thái tiền tệ -là quá trình chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.Thị
trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi
nguồn tiết kiệm của từng hộ dân cư,thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các
9
doanh nghiệp,các tổ chức tài chính,chính phủ TW và chính quyền địa phương tạo
ra một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế.Đây được coi là một lợi thế mà không
một phương thức huy động nào có thể làm được.Gần đây việc phát hành trái
phiếu doanh nghiệp ra công chúng đã huy động được một nguồn vốn đáng
kể.Kênh huy động này ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia.Tính đến cuối
tháng 11-2005 tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đạt trên 2000 tỷ đồng.Trong
đó hầu hết hầu hết các dơn vị phát hành đều là những tổn công ty lớn như tổng
công ty dầu khí phát hành 300 tỷ đồng,xây dựng song đà 200 tỷ đồng,điện lực
VN 200 tỷ đồng công nghiệp tàu thủy VN 1000tỷ đồng.
2.2:-Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng
lưu chuyển vốn quốc tế đó là quá trình chuyển giao nguồn lựuc tài chính giữa các
quốc gia trên thế giới .Theo tính chất lưư chuyển của vốn ,có thể phân loại các
nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
-Tài trợ phát triển chính thức ODF:nguồn vốn này bao gồm viện trợ phát triển
chính thức ODA và các hình thức tái trợ phát triển khác .Dòng vốn này phải qua
chính phủ quốc gia tiếp nhận hoặc được bảo lãnh chính thức,dòng vốn phải đáp
ứng cho đầu tư phát triển,duy trì và tạo mới để đảm bảo sự hoạt động của nền
kinh tế và các cơ sở,nó không bao hàm các nguồn vốn mang tính chất nhân đạo
như cứu nạn thiên tai…mà nó mang tính chất dài hạn,trong đó ODA chiếm phần
lớn trong ODF .
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển.So với
các hình thức tài trợ khác ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF
cho đâu tư và phát triểnb không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các
11
nước phát triển.Nguồn vốn này khác cơ bản với các nguồn vốn nước ngoài khác
là việc tiếp nhận này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.Thay vì nhận lãi
xuất trên vốn đầu tư,nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án
đầu tư hoạt động có hiệu quả.Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài
nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành
nghề mới,đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật,công nghiệp hay cần
nhiều vốn.Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình
CNH,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu
tư.Do vậy để sử dụng hiệu quả vốn đầu FDI tùy thuộc chủ yếu vào cách thức huy
động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không phải ở ý đồ của
người đầu tư.
Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng,nguồn vốn FDI còn đóng góp
vào bù dắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế.Theo đánh giá,tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp nứớc ngoài vào GDP
có xu hướng tăng dần qua các năm.Năm 1992 la 2% htì năm 1996 là 7,9% và đến
năm 1999 là 10,3%.Bên cạnh đó nó còn đóng góp vào ngân sách một phần đáng
kể .Đặc biệt nó góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt
hơn hệ thống cơ sở hạ tầng giao thong vận tải,bưu chính viễn thông …dần dần
hình thành khu công nghiệp,khu chế xuất,khu công nghiệp cao góp phần thực
hiện CNH-HDH và đô thị hóa các khu vực phát triển,hình thành các khu dân cư
mới,tạo việc làm cho ngừoi lao động tại các địa phương.
-Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hóa ,mối lien kết ngày càng
tăng của của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc gia đã tạo ra
vẻ đa dạng của các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu
chuyển trên phạm vi toàn cầu.Thực tế cho thấy,mặc dù tất cả các nguồn vốn đều
có sự gia tăng về khối lượng nhưng luồng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán
có mức tăng nhanh hơn các luồng vốn khác.
12
.Chi phí xây dựng,sửa chữa nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng.
.Chi phí mua sắm,lắp đặt thiết bị ,dụng cụ mua sắm phương tiện vạn chuyển
.Chi phí khác.
+Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm :
.Chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất như chi phí mua nguyên vật liệu,trả
luơng người lao động,chi phí điện nước …
.Chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông gồm có sản phẩm dở dang tồn
kho,hàng hóa bán chịu,vốn bằng tiền.
+Chi phí chuản bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứucơ hội đầu tư,chi phí
nghiên cưu tiền khả thi,chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án đầu tư.
+Chi phí dự phòng.
+Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Qua phân tích trên ta thấy tăng
số lượng vốn là rất quan trọng nhưng thường có giới hạn về nguồn còn nâng cao
hiệu quả đầu tư quan trọng hơn nhiều vì vừa hết ít vốn vừa gần như không có giới
hạn.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư trên cơ sở giảm suất đầu tư xuống là nhiệm vụ rất
khó khăn bởi.Muốn vậy ,cần có giải pháp quyết liệt ở tất cả các khâu của quá
trình đầu tư và đặc biệt quan tâm đến khu vực vốn đầu tư nhà nước.
Trước hết ở khâu quy hoạch chúng ta phải quy hoạch đồng bộ,phải kết hợp
quy hoạch theo ngành và theo cùng lãnh thổ tránh trùng chéo,dàn trải,đồng thời
phải có tầm nhìn để tránh việc vay vốn đầu tư xây dựng đưa vào hoạt động chưa
được mấy năm,chưa trả đựợc nợ đã phải di chuyển khỏi khu vực đông dân hoặc
không gần nguồn nguyên liệu ...
Khắc phục tình trạng công trình dự án chưa có kế hoạch,thiết kế chưa được
duyệt,chưa có vốn đã thi công gây ra nợ đọng triền mien,rồi cũng lại đến tay nhà
14
nước!Ngay cả nguồn huy động trái phiếu các địa phương cũng phải thiết kế trả
nợ,tránh dồn vào ngân sách trung ương.
Khắc phục tình trạng thất thoát trong đầu tư xây dựng hiện đang ở mức rất lơn
mà báo chí,chính phủ.quốc hội đac đề cập rất nhiều.Khắc phục tình trạng khép
cho có hiệu quả cao nhất,phải nghiên cứu thị trường…
Vốn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư nên ảnh hưởng đến chi phí
sử dụng ,quản lý vốn (thời gian,chi phí ,kết quả,chất lượng) và khả năng cạnh
tranh trên thị trường nếu vốn nằm khê đọng quá dài thì sẽ bỏ lỡ thời cơ và cơ hội
cạnh tranh.
b,Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài :
-Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khia các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường kéo dài trong nhiều năm tháng.Nó phụ thuộc vào
giai đoạn thực hiện đầu tư.
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi đủ vốn hoặn thanh
lý tài sản cũng kéo dài .Điều này chịu tác động của cung cầu thị trường ,của các
yếu tố đầu vào hay đầu ra của dự án.
-Thời gian thực hiện đầu tư dài còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không dự
đoán ảnh hưởng đến quá trình thực hiện :môi trường ,điều kiện tự nhiên .pháp
lý.kinh tế ,chính trị.Điều này có thể thany đổi kết quả và hiệu quả của đầu tư.
c,Hơn nữa thời gian của hoạt động đầu tư phát triển kéo dài nên mang tính rủi ro
cao.Vì vậy cần phải phân tích kỹ để loại trừ hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro
như:-Trong trường hợp rủi ro nhất thì hiệu quả của dự án là bao nhiêu;những rủi
ro nào có thể xảy ra nhất.
16
-Trong trường hợp thuận lợi nhất thì hiệu quả đạt được bao nhiêu để bù lại
trong trường hợp rủi ro.
Tuy nhiên đối với những yéu tố rủi ro bất định ,bất khả kháng thì chúng ta phải
chấp nhận
d,Các thành quả của các hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm,có khi hang năm ,hang ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như
các công trình nổi tiếng thế giới (Kim tự tháp cổ Aicập,Nhà thờ La Mã ở
Rôm,Vạn lý thường thành ở Trung Quốc,Ăngcovat của Cămpuchia…)Điều này
nói lên giá trị lớn của các thành quả hoạt động đầu tư phát triển .
e,Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ
mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi xuất định trước hoặc cổ tức tuỳ thuộc vào
kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị sử dụng vốn.
Đặc điểm của đầu tư tài chính :
+Làm tăng tài sản tài chính của chủ đầu tư.tái sản đó là tiền,cổ phiếu mà sau
thơì gian kinh doanh sẽ thu được tiền.
+Không trực tiếp làm tăng tài sản hữư hình của nền kinh tế.
+Hiện tượng đầu tư đựoc xem là hiện tượng đầu tu chuyển dịch cụ thể làm
chuyển quyền sở hữu và chuyển quyền sử dụng .
+Đầu tư tài chính là một kênh huy động vốn rất quan trọng của ĐTPT.
b., Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó chủ đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng
sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận.
Đặc điểm của đầu tư thương mại:
+Không trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (Trừ hoạt động ngoại
thương).Và thương mại làm tăng giá trị của tài sản.
+Trong đầu tư thương mại có sự chuyển giao quyền sở hữu.
18
+Đầu tư thương mai làm tăng tài sản tài chính của chủ đầu tư.
+Đầu tư thương mại là điều kiện quan trọng và là cầu nối để thúc đẩy ĐTPT.
Kết luận: Qua tìm hiểu những dặc điểm và nội dung của đầu tư thương mại và
đầu tư tài chính ta thấy được điểm khacs nhau cơ bản và quan trọng của hai loại
hình đầu tư này với ĐTPT, đó là chỉ có ĐTPT mới trực tiếp làm tăng tài sản cho
nền kinh tế quốc dân.
II- Các vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước:
1) Đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế thị thường.
-Hoạt động kém hiệu quả của các DNNN.
DNNN là các cơ sở kinh doanh do nhà nứoc sở hữư hoàn toàn hoặc một
phần.Quyền sở hữu thuộc về nhà nước là dặc trưng cơ bản nhất ,phân biệt DNNN
với các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân. Đặc trưng này quy định sự kiểm
soát của chính phủ bao gômd quyền chủ đạo và quyền can thiệp vào hoạt động
kinh doanh.
ngăn chặn ngăn chặn độc quyền của khu vực tư nhân trong một ngành công
nghiệp nào đó có khả năng gây thiêt hại chung cho xã hội. Đó là mục tiêu phân
phối lại thu nhập quốc dân,tạo công ăn việc làm và cung cấp hàng hoá cho những
thiệt hại kinh tế.
Sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà sản phẩm của chúng được tiêu dùng
mang tính xã hội không thương mại hoá như giao thông đường thuỷ,những công
thình kiến trúc mang tính lịch sử,bảo vệ phong cảnh thiên nhiên…Những sản
phẩm náy được coi là thuộc về cộng đồng ,chính phủ phải chi phí đảm bảo giao
thông đường thuỷ,bảo tồn các di tích lịch sử và phong canh thiên nhiên,khu vực
tư nhân không thể cung cấp vì nó không có quyền sở hữu chúng ,vì vậy DNNN
phải đảm nhiệm.
20
Chính phủ phải luôn có trách nhiệm trước những ngành thuộc kết cấu hạ
tầng ,tạo cơ sở cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tếb trong đó có khu vực tư
nhân,sản xuất những hàng hoá này đòi hỏi cũng lớn,vốn thu hồi chậm nên không
hấp dânc các khu vực tư nhân.Chính vì phái đảm nhận việc cung cấp những loại
hàng hoá này nên thu nhập tài chính của DNNN thường được đánh giá thấp hơn
thu nhập thực tế,vì không tính đến những lợi ích bên ngoài doanh nghiệp.
3) Cơ chế kích thích các DNNN .
So với doanh nghiệp tư nhân,DNNN nhiều khi là gánh nặng đối với một nền
kinh tế thị thường,vì một mặt chúng sử dụng các nguồn lực một các kém hiệu
qủa,gây lãng phí cho đất nước,và mặt khác,chúng rút cạn ngân sách của chính
phủ dẫn đến những hậu qủa xấu nhiều mặt đối với kinh tế vĩ mô.
Về cơ chế kích thích để nâng cao hiệu quả của các DNNN:
-Trong các doanh nghiệp tư nhân với mục tiêu ưư tiên là lợi nhuận dài hạn thì
việc tìm ra được cơ chế kích thích không có bằng trong DNNN.Lợi nhuận cao
thường gắn với lợi ích,thành tích mà cán bộ quản lý,công nhân được hưởng.Bởi
vậy do cạnh tranh khốc liwtj và quyền lợi được hưởng trực tiêp do lợi nhuận
đem lại khiến cho doanh nghiệp tư nhân coi đó là cơ chế kích thich trực thiếp và
có hiệu quả.
a) Hàng dự trữ
Ta thường có thể nói một cách đơn giản hàng dự trữ của doanh nghiệp bao gồm
tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Tuy nhiên trên thực tế
để nghiên cứu kỹ về vấn đề này cần phải tiếp cận nó ở những góc độ khác nhau
và đặt trong những mối quan hệ cụ thể.
Nguyên nhân cần thiết phải đầu tư vào dự trữ:
22
Xuất phát từ vai trò của hàng dự trữ đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, ta có thể nó được sử dụng để đảm bảo sự ổn định cho sản xuất vcà đáp
ứng nhu cầu của khách hàng. Vì vậy đàu tư vào hàng dự trữ lag việc không thể
thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp: Dựa trên cơ sở lý
luận, vai trò của hàng dự trữ có bốn mặt chủ yếu, biểu hiện cụ thể ở bốn loại hàng
tồn kho cơ bản:
- Quay vòng tồn kho: mỗi khi sản xuất và đặt hàng là một lần đặt ra số lượng lô
nhất định, mà không phải là mỗi lần một lô, kiểu tồn kho được hình thành từ tính
chu kỳ của số lượng lô được gọi là quay vòng tồn kho.
- Lượng tồ kho dự phòng: hay còn gọi là lượng tồn kho bảo hiểm, là lượng tồn
kho nhất định mà nhà sản xuất chuẩn bị để ứng phó với tính không ổn định của
nhu cầu và tính không ổn định của cung ứng, nhằm tránh sự tổn thất do thiếu
hàng gây nên. Nếu như nhà sản xuất có thể dự toán được về sự thay đổi về nhu
cầu trong tương lai hoặc có thể xác định được số lượng và thời gian hàng tương
ứng, thì không cần phải thiết lập lượng tồn kho dự phòng. Số lượng tồn kho dự
phòng ngoài việc chịu ảnh hưởng của sự bất ổn định về nhu cầu và cung ứng, còn
liên quan đến việc doanh nghiệp hy vọng đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách
hàng. Đây là nhân tố xem xét chính khi đưa ra quyết sách cề lượng tồn kho dự
phòng.
- Tồn kho vận chuyển: là sự tồn kho giữa hai đơn vị công tác hoặc hai tổ chức
tiêu thụ gần nhau, bao gồm lượng tồn kho trong quá trình vận chuyển và lượng
tồn kho tạm dừng giữa hai nơi. Tồn kho vận chuyển được quyết định bởi số
lượng lô vận chuyển và thời gian vận chuyển.
cầu sản xuất bên trong doanh nghiệp gội là nhu cầu phụ thuộc, hay còn gọi là
nhu cầu sản xuất. Nhu cầu độc lập có tính tuỳ cơ ứng biến cho nên chỉ có thể dựa
24
trên dự đoán để tính toán. Nhu cầu phụ thuộc có tính xá định, đặc trưng thay đổi
theo thời gian đã được biết trước, vì vậy không cần dự đoán mà chỉ cần xác định
theo kế hoạch sản xuất. Đáp ứng sự khác nhau về mặt tính tồn kho của hai loại
nhu cầu. Tức là do tính chất tuỳ cơ của nhu cầu độc lập mà ta cần phải thiết lập
lượng tồn kho dự phòng nhằm tránh tổn thất do thiếu hàng. Do tính xác định của
nhu cầu phụ thuộc, về mặt lý thuyết thì không cần thiết lập lượng tồn kho dự
phòng, hơn nữa lý tưởng nhất là tất cả những lượng tồn kho sản xuất đều nên ơe
dạng bán thành phẩm. Chính sự khác nhau này đã quy định số lượng từng loại
hàng dự trữ ở những thời điểm khác nhau của chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Đồng thời khẳng định lại vai trò rất quan trọng của hàng dự trữ và vấn đề
khống chế hàng dự trữ trong việc quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí, ổn định sản
xuất và đáp ứng nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng.
Đầu tư vào hàng dự trữ có thể có thể được phân thành 2 loại chi phí chủ yếu sau:
- Chi phí bảo tồn hàng được tạo bởi:
+ Chi phí cơ hội sử dụng vốn: thông thường được xác định dựa trên tỷ lệ lãi suất
đầu tư, trong tình huống đơn giản hoá, có thể sử dụng tỷ lệ lãi suất với kỳ hạn
tương ứng để thay thế.
+ Chi phí bảo hiểm và chi phí hao mòn cơ sở hạ tầng kho bãi…
+ Chi phí mất mát, hư hỏng và không có hiệu quả của hàng tồn. Chi phí về mặt
này sữ có sự chênh lệch rất lớn dựa trên tính chất khác nhau của hàng tồn, ví dụ
như lỗi của hàng điện tử tương đối cao, mà chi phí tổn thất của thực phẩm lại còn
cao hơn.
Do chi phí cơ hội của vốn và chi phí hỏng hóc, mất hiệu quả luôn chiếm đa số tỷ
lệ của phí bảo tồn. Vi vậy các doanh nghiệp thường theo thói quen, đem chi phí
bảo tồn thể hiện là hình thức tỷ lệ thuận với giá cả mua bán của đơn vị hàng tồn.
- Chi phí đặt hàng:
25