Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu.
Theo đánh giá của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX về định hướng
phát triển các thành phần và các vùng kinh tế ở nước ta 2001 – 2010, Đảng ta
khẳng định cần tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan
trọng và là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế; tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và một số cơ sở công
nghiệp quan trọng. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế,
đi đầu ứng dụng tiến bộ KHCN, nêu gương về năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong
những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng, xây dựng các công ty nhà nước đủ
mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh
trên thị trường trong nước và quốc tế.
Với vị trí của các doanh nghiệp đang ngày càng được khẳng định trong nền kinh
tế quốc dân, mà đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước thì nội dung đầu tư phát triển
đã trở thành 1 vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu. Trong thời gian qua đầu tư
phát triển trong doanh nghiệp đã đạt được những kết quả to lớn, đã đưa nền kinh
tế tiến thêm những bước thêm vững chắc hơn trên con đường công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên công tác thực hiện đầu tư phát triển có hiệu quả
hay không cũng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc trong các doanh nghiệp. Vì vậy,
trong khuôn khổ buổi thảo luận ngày hôm nay chúng tôi xin được đưa ra những
nhìn nhận về nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và những
đánh giá tình hình đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Từ đó
chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm để nâng cao hiệu quả đầu tư phát
triển trong doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước ta
hiện nay.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nội dung.
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế-xã hội,tạo ra việc làm và nâng cao đời
ssống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tư phát triển làm gian tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là sự
chu chuyển giữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế.
1.3;Vốn đầu tư:Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng:Vốn đầu tư
được hiểu là tiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất,kinh doanh dịch vụ là
tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong
quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở sẵn có
và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
1.4; Nguồn vốn đầu tư: Là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và
của xã hội.Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.
2;Vai trò của ĐTPT.
2.1; Trên gác độ vĩ mô
2.1.1. Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đên tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Về mặt lý luận,hầu hết các tư tưởng,mô hình và lý thuyêt về tăng trưởng kinh tế
đều trực tiếp hoặc gián thiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ vốn cho đầu tư là
một nhân tố quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất,cung ứng dịch vụ cho
nền kinh tế.Từ các nhà kinh tế học cổ đỉên như Adam smith trong cúôn “của cải
của các dân tộc” đã cho rằng vốn đầu tư là yếu tố qưuyết địng chủ yếu của số lao
động hữư dụng và hiệu quả .V iệc gia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phân quan
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trọng ttrong việc gia tăng sản lượng quốc gia và sản lượng bình quân mỗi lao
động.Theo mô hình của Harrod-domar,mức tăng trưởng của nền kinhtế phụ thuộc
trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần.
g =∆Y/Y =∆Y/y*∆K/∆K=∆Y/∆K*∆K/Y=1/ICOR*I/Y
Từ đó cỏ thể suy ra:
∆Y=1/ICOR*I
kinh tế cao,tăng trưởng nhanh trtên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến
hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý.Ngựoc lại tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với
việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định
hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn.
2.1.3; Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghê của đất nưứoc
Đầu tư và đặc biệt là ĐTPT trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng và năng lục
sản xuất,phục vụ của nền kinhtế và các đơn vị cơ sở.Chính vì vậy, đâu tư cũng là
điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của
quốc gia theo cơ cấu kĩ thuệt của đầu tư,trong giai đoạn vừa qua,tỷ trọng giá trị
máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư của VN chiếm khoảng 28%(xây duẹng
chiếm khaỏng 57%)
Cơ cấu này chưa phản ánh đúng yêu cầu CNH-HĐH,tuy nhiên nó cũng là con ssố
không nhỏ tạo ra năng lực công nghê cho toàn bộ nền kinh tế. Đối với đầu tư
nứoc ngoài,hoạt động của doanh nghiệp FDI thường gắn với các chương trình
chuyển gioa công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có thể là điểm đến của một
số công nghệ và phương thức dản xuất mới. Đối với chi đầu tư của nhà nươc cho
nghiên cứu khoa học và phát triên công nghệ mới mặc dù vẫn còn nhỏ về quy
mô,thấp về tỷ trọng (giai đoạn 2001-2005là 7,6 nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn
đầu tư toàn xã hội) nhưng ở đây cũng là một ttrong những biểu hiệ n của đầu tư
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và ở mức độ nhận định nó cũng có tạo ra và tăng cường năng lực khoa học công
nghệ nước ta (đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp:
giống mới, công nghệ ren…)
2.1.4; Đầu tư vừa tác động đến tông cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh
tế.
Đầu tư (i)là một trong những bộ phận quan ttrọng của tổng cầu (AD=C+I+G-
M).Vì vậy khi quy mô đầu tư thay đổi cũng sẽ xó tác động trực tiếp đến quy mô
tổng cầu.Tuy nhiên tác động của đầu tu đến tổng ccầu là ngắn hạn.Khi tông cung
chưa kịp thay đổi,sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia
vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước.Đầy là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng
cho họat động đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam thời gian qua.
_Nguồn vốn ngân sách nhà nuớc :Đây là nguồn đầu tư chủ yếu,quyết định sự
phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội.Là nền tảng để thực hiện
CNH-HĐH đất nước.Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến hoạt
động đầu tư này.Đặc biệt là ở các nước đang phát triển như nước ta là yếu tố vật
chất có ỹ nghĩa quyết định để thực hiện tốt nhất các chủ trương,chính sách phát
triển KTXH của đất nước.Ở VN đây là điều kiện vật chất để ổn định và củng cố
chế độ chính trị ,nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước cũng như không
ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Vốn ngân sách đầu tư hiện nay chia làm hai loại:
-Vốn ngân sách TW dung để đầu tư xây dựng các dự án(trồng rừng đầu
nguồn,rừng phòng hộ,các công trình chủ yếu của nền kinh tế…)
-Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương đầu tư vào những vấn
đề quan trọng của địa phương.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong những năm gần đây,quy mo vốn đầu tư nhà nước không ngừng gia tăng
nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau.Trong những năm 2001-2004 đầu tư cho
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm khoảng 25%,công nghiệp 7,9,GTVT và
bưu chính viễn thông28,7%.
Tuy nhiên nguồn vốn này có một số hạn chế như hiệu quả sử dụng thấp tỷ lệ
thất thoát cao,vốn đầu tư thường giàn trải,không trọng tâm trọng điểm,hệ thống
các cơ quan quản lý vốn ngân sách chồng chéo,chức nang không rõ giữa quản lý
nhà nước và quản lý kinh doanh.Do vậy chúng ta cần có một số giải pháp như
làm thế nào để tăng nền kinh tế cao và liên tục,tận thu chống thất thu thuế,phân
bổ NS cho chi đầu tư và chi thường xuyên cho hợp lý
-Nguồn vốn tín dụngđầu tư phát triển :
Tín dụng đầu tư là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay để đảm
năm 2004 đạt 69,5 tỷ đồng ,ngoài ra tính đến cuối năm 2004 tổng số doanh
nghiệp dân doanh đăng kí hoạt động lên tới 160000 doanh nghiệp với xấp xỉ qui
mô vốn là 140-150 nghìn tỷ đồng .
-Vốn của hộ gia đình:Là phần thu nhập của hộ gia đình không bị tiêu dùng
được tiết kiệm để đầu tư và tiền tích luỹ từ các hoạt động kinh doanh mà không
phải là công ty.
c,-Thị trường vốn:
Là nơi diễn ra các hoạt động mua,bán chứng khoán và các giấy ghi nợ trung
hạn và dài hạn.Đây không phải là các sự việc mua đi bán lại hay chuyển đổi các
giấy tờ có giá từ tay của một chủ thể này sang tay một chủ thể khác một cách đơn
thuần nếu nhìn nhận từ bên ngoài.Về thực chất,đây là quá trình vận động tư bản ở
hình thái tiền tệ -là quá trình chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.Thị
trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi
nguồn tiết kiệm của từng hộ dân cư,thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp,các tổ chức tài chính,chính phủ TW và chính quyền địa phương tạo
ra một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế.Đây được coi là một lợi thế mà không
một phương thức huy động nào có thể làm được.Gần đây việc phát hành trái
phiếu doanh nghiệp ra công chúng đã huy động được một nguồn vốn đáng
kể.Kênh huy động này ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia.Tính đến cuối
tháng 11-2005 tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đạt trên 2000 tỷ đồng.Trong
đó hầu hết hầu hết các dơn vị phát hành đều là những tổn công ty lớn như tổng
công ty dầu khí phát hành 300 tỷ đồng,xây dựng song đà 200 tỷ đồng,điện lực
VN 200 tỷ đồng công nghiệp tàu thủy VN 1000tỷ đồng.
2.2:-Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng
lưu chuyển vốn quốc tế đó là quá trình chuyển giao nguồn lựuc tài chính giữa các
quốc gia trên thế giới .Theo tính chất lưư chuyển của vốn ,có thể phân loại các
nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
liền với các ràng buộc về chính trị xã hội.Mặc dù vậy thủ tục vay tương đối khắt
khe,thời gian trả nợ nghiêm ngặt,mức lãi xuất cao là những trở ngại không nhỏ
đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi xuất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong
kinh doanh ngân hàng ,nguồn vốn tín dụng của các NHTM thường được sự dụng
chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn.Một bộ phận
của nguồn vốn này có thể dung để đầu tư phát triển.Tỷ trọng của nó có thể gia
tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài,đặc biệt là tăng trưởng
xuất khẩu của nước đi vay là sang sủa.Đối với VN việc tiếp cận với các nguồn
vốn này vẫn còn khá hạn chế.
-Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI).Đây là nguồn vốn quan trọng
cho đâu tư và phát triểnb không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước phát triển.Nguồn vốn này khác cơ bản với các nguồn vốn nước ngoài khác
là việc tiếp nhận này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.Thay vì nhận lãi
xuất trên vốn đầu tư,nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án
đầu tư hoạt động có hiệu quả.Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài
nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành
nghề mới,đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật,công nghiệp hay cần
nhiều vốn.Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình
CNH,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu
tư.Do vậy để sử dụng hiệu quả vốn đầu FDI tùy thuộc chủ yếu vào cách thức huy
động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không phải ở ý đồ của
người đầu tư.
Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng,nguồn vốn FDI còn đóng góp
vào bù dắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế.Theo đánh giá,tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp nứớc ngoài vào GDP
có xu hướng tăng dần qua các năm.Năm 1992 la 2% htì năm 1996 là 7,9% và đến
năm 1999 là 10,3%.Bên cạnh đó nó còn đóng góp vào ngân sách một phần đáng
như sau:
+Những chi phí tạo ra tài sản cố định(mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn cố
định).
+Những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiềnlà vốn lưu
động) và các chi phí thường xuyêngắn với một chu kỳ hoạt động của tài sản cố
định vừa được tạo ra.
+Những chi phí chuẩn bị đầu tưchiếm khoảng 0,3-15%vốn đầu tư.
+Chi phí dự phòng.
-Trên giác độ quản lý vi mô tại các cơ sở,những khoản mục trên đây lại được
tách thành những khoản chi tiết hơn:
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm:
.Chi phí ban đầu cho đất đai.
.Chi phí xây dựng,sửa chữa nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng.
.Chi phí mua sắm,lắp đặt thiết bị ,dụng cụ mua sắm phương tiện vạn chuyển
.Chi phí khác.
+Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm :
.Chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất như chi phí mua nguyên vật liệu,trả
luơng người lao động,chi phí điện nước …
.Chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông gồm có sản phẩm dở dang tồn
kho,hàng hóa bán chịu,vốn bằng tiền.
+Chi phí chuản bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứucơ hội đầu tư,chi phí
nghiên cưu tiền khả thi,chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án đầu tư.
+Chi phí dự phòng.
+Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Qua phân tích trên ta thấy tăng
số lượng vốn là rất quan trọng nhưng thường có giới hạn về nguồn còn nâng cao
hiệu quả đầu tư quan trọng hơn nhiều vì vừa hết ít vốn vừa gần như không có giới
hạn.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư trên cơ sở giảm suất đầu tư xuống là nhiệm vụ rất
Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia
,là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật
chất ,kỹ thuật của nền kinh tế.Đối với cơ sở sản xuất ,kinh doanh dịch vụ ,hoạt
động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm
cơ sở vật chất kỹ thuật mới ,duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất ,kỹ thuật
hiện có.và vì thế ,là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của các
doanh nghiệp.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư
khác ,đó là:
a, Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong
suốt quá trình thực hiện đầu tư.Đây là cái giá phải trả khá lớn của hoạt động đầu
tư phát triển
Bởi trong suốt quá trình đầu tư nó vẫn nằm dưới dạng các công trình dở
dang .Do vốn lớn nên các nhà đầu tư cần phải cân nhắc lựa chọn đầu tư vào đâu
cho có hiệu quả cao nhất,phải nghiên cứu thị trường…
Vốn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư nên ảnh hưởng đến chi phí
sử dụng ,quản lý vốn (thời gian,chi phí ,kết quả,chất lượng) và khả năng cạnh
tranh trên thị trường nếu vốn nằm khê đọng quá dài thì sẽ bỏ lỡ thời cơ và cơ hội
cạnh tranh.
b,Hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài :
-Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khia các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường kéo dài trong nhiều năm tháng.Nó phụ thuộc vào
giai đoạn thực hiện đầu tư.
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi đủ vốn hoặn thanh
lý tài sản cũng kéo dài .Điều này chịu tác động của cung cầu thị trường ,của các
yếu tố đầu vào hay đầu ra của dự án.
-Thời gian thực hiện đầu tư dài còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không dự
đoán ảnh hưởng đến quá trình thực hiện :môi trường ,điều kiện tự nhiên .pháp
hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị .
Sự chuẩn bị này đựoc thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư(lập dự án
đầu tư)có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án dược soạn thảo với chất
lượng tốt.Đó là quá trình thực hiện đầu tư và quá trình vận hành khai thác .
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Qúa trình thực hiện đầu tư ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm ,đến giá
thành chi phí xây dựng (giá đất) như chọn những nơi địa hình bằng phẳng sẽ
giảm đựoc chi phí san bằng ..
-Qúa trình vận hành khai thác ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn cao nếu địa
lý thuận lợi.Phải cân đối giữa giá thành xây dựng công trình ,chi ohí vận chuyển
và chi phí cung cấp sản phẩm với khả năng tiêu thụ yếu tố đầu ra.
-Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm còn ảnh hưởng đến dân cư,địa bàn,môi trường
sống .
5;Phân biệt ĐTPT với các loại hình đầu tư khác.
Từ sự phân tích trên đây ,xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư
mang lại chúng ta có thể phân biệt các loại đầu tư sau đây:
a, Đầu tư tài chính:là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư bỏ tiền ra để cho vay hoặc
mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi xuất định trước hoặc cổ tức tuỳ thuộc vào
kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị sử dụng vốn.
Đặc điểm của đầu tư tài chính :
+Làm tăng tài sản tài chính của chủ đầu tư.tái sản đó là tiền,cổ phiếu mà sau
thơì gian kinh doanh sẽ thu được tiền.
+Không trực tiếp làm tăng tài sản hữư hình của nền kinh tế.
+Hiện tượng đầu tư đựoc xem là hiện tượng đầu tu chuyển dịch cụ thể làm
chuyển quyền sở hữu và chuyển quyền sử dụng .
+Đầu tư tài chính là một kênh huy động vốn rất quan trọng của ĐTPT.
b., Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó chủ đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng
sau đó bán lại với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận.
Đặc điểm của đầu tư thương mại:
Có thể là các DNNN buộc phải thoả mãn yêu cầu tiêu dùng trong nước với giá
ưu đãi ,phải đáp ứng các tiêu chuẩn dịch vụ nào đó ở bất kỳ đâu do nhà nước yêu
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầu,cũng có thể bị yêu cầu chỉ được vay vốn từ một số định chế cho vay nào đó
hoặc từ những nguồn cho vay trong nước nào đó.Do đó cũng có thể phải đầu tư
phù hợp với kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi nhuận để thực hiện những
mục tiêu xã hội.
Bên cạnh đó,sự kiểm soát lỏng lẻo trong khu vực DNNN do sở hữu nhà nước
(đôi lúc mang nghĩa vô chủ),vì thế mỗi công nhân,người lao động thường không
có mối liên hệ lợi ích đối với DNNN,vì không thấy sự ảnh hưởng nhiều vì thế
không có cá nhân nào thấy cần phải có sự giám sát, điều hành,quản lý.
2) Sự cần thiết của DNNN trong nền kinh tế thị trường .
Theo sự phân tích trên,DNNN gần như hoạt động kém hiệu quả so với hoạt động
của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường.Tuy vậy ,nó vẫn tồn tại và
vận động,phát triển trong nền kinh tế.
Ngoài lý do tạo cho chính phủ “một quả đấm mạnh” để giả quyết các vấn đề
kinh tế xã hội to lớn trong những giai đoạn dặc biệt như cạnh tranh,khủng hoảng
kinh tế…sự tồn tại và phát triển các DNNN chủ yếu còn do các mục tiêu phi
thương mại của chính phủ nhằm điều tiết đời sống kinh tế xã hội . Đó là mục tiêu
ngăn chặn ngăn chặn độc quyền của khu vực tư nhân trong một ngành công
nghiệp nào đó có khả năng gây thiêt hại chung cho xã hội. Đó là mục tiêu phân
phối lại thu nhập quốc dân,tạo công ăn việc làm và cung cấp hàng hoá cho những
thiệt hại kinh tế.
Sản xuất những hàng hoá và dịch vụ mà sản phẩm của chúng được tiêu dùng
mang tính xã hội không thương mại hoá như giao thông đường thuỷ,những công
thình kiến trúc mang tính lịch sử,bảo vệ phong cảnh thiên nhiên…Những sản
phẩm náy được coi là thuộc về cộng đồng ,chính phủ phải chi phí đảm bảo giao
thông đường thuỷ,bảo tồn các di tích lịch sử và phong canh thiên nhiên,khu vực
tư nhân không thể cung cấp vì nó không có quyền sở hữu chúng ,vì vậy DNNN
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không hấp dẫn so với tham vọng chính trị của họ.Do đó cơ chế kích thích của
DNNN còn hạn chế rất nhiều.
4) Chế độ trách nhiệm.
Chế độ trách nhiệm của DNNN ít nhất gồm hai khâu:
Thứ nhất: là sự phân quyền và trách nhiệm giữa các ngành của chính phủ có
thẩm quyền . đối với DNNN (sự phân quyền).
Thứ hai: Đó là hệ thống thông tin tỏng hệ thống tồn tại mỗi thành viên phải có
trách nhiệm báo cáo một cách độc lập và thích hợp,chính xác.
Hệ thống trách nhiệm bao gồm 3 loại thành phần:
-Ban quản trị của DNNN-những người chuyên điều hành hạot động của doanh
nghiệp.là những người am hiểu những vấn đề và những yêu cầu của sự điều hành
trongkhu vực riêng của họ.
-Là chính phủ-quyết định các mục tiêu dài hạn và mục tiêu phi thương mại.
Thứ 3:là quốc hội-đại diện cho quyền lợi của công nhân quyết định toứi hậu về
ngân sách và chi ngân sách.
Do vây,3 hệ thống này hoạt động theo đúng quyền hạn,trách nhiệm của nó,tránh
sự hoạt động quá quyền hạn và bộ phận của nó.Hoạt động do quyền hạn chồng
chéo đẫn đến sự rối loạn trong điều hành.
III- Nội dung của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
1 _ Đầu tư vào hàng dự trữ và tạo ra tài sản cố định.
a) Hàng dự trữ
Ta thường có thể nói một cách đơn giản hàng dự trữ của doanh nghiệp bao gồm
tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Tuy nhiên trên thực tế
để nghiên cứu kỹ về vấn đề này cần phải tiếp cận nó ở những góc độ khác nhau
và đặt trong những mối quan hệ cụ thể.
Nguyên nhân cần thiết phải đầu tư vào dự trữ:
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cần thiết của tồn kho theo thời kỳ ngoài nguyên nhân về mùa vụ còn xuất phát từ
việc bảo đảm sự ổn định cho sản xuất. Do vậy, nguyên nhân quyết định lượng tôn
kho dự định theo thời kỳ, ngoài chi phí mang tính cơ hội của việc khan hàng hết
hàng, còn phải xét đến chi phí tăng thêm khi sản xuất ổn định (chi phí khấu hao,
khi thiết bị sản xuất ngừng nghỉ, lương công nhân rảnh rỗi và các chi phí phát
sinh khác…).
Dựa trên cơ sở thực tiễn, vai trò của hàng dự trữ được biểu hiện trong mối quan
hệ giữa việc khống chế lượng hàng dự trữ trong kho và hai loại nhu cầu: nhu cầu
độc lập và nhu cầu phụ thuộc:
-Nhucầu độc lập: là nhucầu do thị trường quyết định .Ví dụ như : nhucầu đối với
các thành phẩm như xe ô tô, máy giặt gia dụng và linh kiện dễ hỏng nhưu tấm
phanh xe, vòng đệm cao su. Những nhu cầu này lúc nào thì sẽ nảy sinh? mỗi lần
bao nhiêu? Không theo kế hoạch sắp xếp của doanh nghiệp, nó được gọi là nhu
cầu độc lập. Tuy nhiên với phạm vi xao động và xu hướng thay đổi nhất định
trong một khoảng thời gian cùng những đặc trưng thay đổi, nhu cầu này có thể dự
đoán thông qua những số liệu lịch sử và các nhân tố tương quan khác.
- Nhu cầu phụ thuộc:Là nhu cầu do nhu cầu của sản phẩm cuối cùng hoặc hạng
mục khác quyết định, nó có thể đoán trước và có thể khống chế được. Ví dụ như:
với một số lượng máy giặt cần sản xuất cho trước, thì số lượng nhu cầu của
nguyên vật liệu hoặc linh kiện như thùng giặt, máy định giời, động cơ điện, hoàn
toàn có thể được quyết định căn cứ vào linh kiện, vì vậy nó được gọi là nhu cầu
phụ thuộc.
Tóm lại: Nhu cầu xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp hay từ thị trường là nhu
cầu độc lập, còn gọi là nhu cầu khách hàng, những nhu cầu này nảy sinh từ yêu
cầu sản xuất bên trong doanh nghiệp gội là nhu cầu phụ thuộc, hay còn gọi là
nhu cầu sản xuất. Nhu cầu độc lập có tính tuỳ cơ ứng biến cho nên chỉ có thể dựa
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trên dự đoán để tính toán. Nhu cầu phụ thuộc có tính xá định, đặc trưng thay đổi
theo thời gian đã được biết trước, vì vậy không cần dự đoán mà chỉ cần xác định