Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp dệt-may có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, vừa là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội, vừa có khả năng
thu hút, tạo việc làm cho nhiều lao động nhất trong các ngành công nghiệp.Từ
những năm qua, dệt-may còn là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai trong
cả nước, công nghiệp dệt-may luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm trong
chính sách phát triển chung của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Ngày nay, các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam không ngừng được
phát triển cả về sản lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị kim ngạch xuất khẩu
trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị
trường thế giới. Những thành tựu của công nghiệp dệt-may đóng góp vào sự
nghiệp kinh tế-xã hội ở nước ta đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp trong sự
nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế hơn,
các sản phẩm dệt may còn nhiều bất cập so với nhu cầu phát triển. Chẳng hạn
như: Chất lượng vải của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, giá cao hơn
so với vải nhập khẩu, giá trị gia tăng của sản phẩm dệt may thấp…...Hơn nữa,
trong xu thế quốc tế hoá hiện nay, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên
ASEAN (5/1995), APEC (11/1998) và đang tiến tới gia nhập tổ chức WTO trong
năm nay. Như vậy, các sản phẩm dệt may của Việt Nam vừa có điều kiện để mở
rộng, xâm nhập thị trường tiêu thụ, vừa chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trong môi
trường cạnh tranh quốc tế.Sau ngày 1/1/2005, Hiệp định dệt may quốc tế ATC
hết hiệu lực hoàn toàn, do đó các nước thành viên WTO không bị ràng buộc về
hạn ngạch, điều này gây khó khăn lớn cho Việt Nam.
Vậy, làm thế nào để không bỏ lỡ cơ hội, vượt qua thử thách, làm thế nào để
khai thác lợi thế, khắc phục mặt yếu kém là nhiệm vụ đặt ra cho ngành dệt may
Việt Nam.Tiến hành đầu tư phát triển là giải pháp hữu hiệu để hoạt động sản xuất
có hiệu quả, nâng cao khả năng phát triển của ngành dệt may. Xuất phát từ vấn đề
đó, em đã quyết định chọn đề tài :”Tình hình đầu tư phát triển trong ngành
dệt may Việt nam”.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế, đề tài của em còn nhiều thiếu sót, rất
2. Tình hình đầu tư vào tài sản cố định hữu hình ................................................................... 23
2.1. Đầu tư vào máy móc thiết bị và công nghệ ................................................................. 23
2.2. Đầu tư vào nguồn nguyên vật liệu ............................................................................... 26
3. Tình hình đầu tư vào tài sản vô hình ................................................................................... 28
3.1. Đầu tư vào thương hiệu ............................................................................................... 28
3.2. Đầu tư vào nguồn nhân lực .......................................................................................... 29
PHẦN III: ....................................................................................................................................... 32
GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ................ 32
1. Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới. .................................. 32
2. Giải pháp đầu tư .................................................................................................................. 33
2.1. Giải pháp thu hút vốn đầu tư cho ngành dệt may ....................................................... 33
2.2. Đầu tư vào công nghệ, trang bị máy móc. ................................................................... 34
2.3. Đầu tư vào nguyên vật liệu cho ngành dệt may .......................................................... 36
2.4. Đầu tư vào thương hiệu ............................................................................................... 38
2.5. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực ................................................................................ 39
......................................................................................................................................................... 41
KẾT LUẬN ..................................................................................................................................... 42
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
PHẦN I:
LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
I. Lý luận chung về đầu tư
1. Khái niệm, đặc điểm chung về đầu tư, đầu tư phát triển
1.1. Khái niệm đầu tư, đầu tư phát triển
* Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn), tài sản
vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…)và nguồn nhân lực có
không ổn định về tư nhiên, chính trị , kinh tế…
* Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn như
các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới. Điều này nói lên giá trị lớn của các
thành quả đầu tư phát triển.
*Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Dó đó, các điều kiện về địa lý, địa
hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng
sau này của các kết qua đầu tư. Chính vì vậy nên trong quá trình nghiên cứu tiền
khả thi và khả thi cần phải tiến hành khảo sát, nghiên cứu một cách cụ thể, tỉ mỉ
địa hình, địa chất, điều kiện tư nhiên của nơi tiến hành đầu tư. Đó là điều kiện
quan trọng để các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển phát huy tác dụng .
* Hoạt động đầu tư phát triển có tính rủi ro cao, đầu tư càng lớn thì tính rủi
ro càng cao nhưng lợi nhuận đem lại cũng lớn. Điều đó đòi hỏi chủ đầu tư cần có
những biện pháp để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư để đem lại hiệu quả
đầu tư cao, đạt được mục đích.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Với những đặc điểm đó, có thể thấy mọi thành quả cũng như hậu quả của
quá trình đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định về mặt thời
gian và không gian. Do vậy để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu
quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư. Sự chuẩn bị
này được thể hiện qua việc soạn thảo các dự án đầu tư để đem lại chất lượng tốt.
2. Vai trò của đầu tư phát triển
Từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lý thuyết kinh tế, cả lý
thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu
tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng
trưởng. Vai trò này của đầu tư được thể hiện ở các mặt sau đây :
2.1. Trên giác độ vĩ mô
2.1.1 . Đầu tư vừa tác động đến tổng cung , vừa tác động đến tổng cầu
Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần
thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác
động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
2.1.3 . Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng
trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% so với GDP tuỳ
thuộc vào ICOR của mỗi nước.
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn
vốn đầu tư . Nếu không có sự đầu tư thoả đáng sẽ không có tăng trưởng kinh tế.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Ở các nước phát triển,
ICOR thường lớn, từ 5- 7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để
thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Còn ở các nước
chậm phát triển ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên cần sử dụng
lao động để thay thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ.
Kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiêụ quả đâu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường ICOR trong
nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp. ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ
chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp
thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đề
đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư đủ để được một tỉ lệ tăng thêm sản phẩm quốc
dân dự kiến. Thực tế đã được chứng minh ở nhiều nước đang phát triển, phát
triển về bản chất được coi là vần đề đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư đủ dể được
một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến. Thực tế đã được chứng minh ở
nhiều nước, đầu tư đóng vai trò như một “cú huých ban đầu”, tạo đà cho sự cất
cánh của nền kinh tế (các nước NICs, các nước Đông Nam Á). Rõ ràng hoạt động
2.2.1.Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các
cơ sở vật chất-kĩ thuật của các cơ sơr này hao mòn, hư hỏng. Để duy trì được sự
hoạt động bình thường cần định kỳ tiến hành sửa chữa hoặc thay thế mới, cũng
có nghĩa là phải đầu tư.
2.2.2. Đối với các cơ sở vô vị lợi
Để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật
chất-kĩ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả các hoạt động
và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
3. Nguồn vốn đầu tư phát triển
Nguồn vồn đầu tư là tập chung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh
tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. Xét về bản chất, nguồn
hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể
huy động được để dưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao
gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3.1. Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và
phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước
và của xã hội. Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết
kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái
sản xuất xã hội.
3.1.1 . Nguồn vốn nhà nước
* Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà
nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các
dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án
của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho
Đồng thời có khoảng vài vạn doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp nhà nước đang và
sẽ đi vào hoạt động, phần tích luỹ của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp
đáng kể vào tổng qui mô vốn của toàn xã hội.
3.1.3 . Thị trường vốn
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của
các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung của các nguồn vốn trung và
dài hạn cho các chủ đầu tư – bao gồm cả nhà nước và các loại hình doanh nghiệp.
Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom
mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa
phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Đây được coi là một
lợi thế mà không một phương thức huy động vốn nào có thể làm được.
3.2. Nguồn vốn nước ngoài
3.2.1 . Nguồn vốn ODA
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước
ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. ODA có các điều
kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian cho vay dài, khối lượng vốn vay tương đối lớn
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
và ODA còn có yếu tố không hoàn lại. Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi
này thường đi kèm các điều kiện tương đối khắt khe ( tính hiệu quả của dự án,
thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…)Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp
dẫn này, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không
việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành một gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền
kinh tế.
3.2.2 . Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn
vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng
buộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường
là tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở
4.1.1. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất
kĩ thuật cho doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng nâng cao năng lực sản xuất cho
doanh nghiệp. Hoạt động xây dựng cơ bản có 2 phần, đó là:
*Hoạt động xây dựng là quá trình lao động để tạo ra những sản phẩm xây
dựng, nó bao gồm các hoạt động: thăm dò, khảo sát, thiết kế, xây dựng mới, xây
dựng lại công trình, cải tạo, mở rộng nâng cấp, hiện đại hoá chương trình, sửa
chữa lớn nhà cửa, máy móc thi công có nhiều điều kiện đi kèm.
*Hoạt động lắp đặt máy móc, thiết bị: công tác lắp đặt thiết bị máy móc là
quá trình lắp đặt thiết bị máy móc như nền hoặc bệ máy cố định để máy và thiết
bị có thể hoạt động được nhưng không bao gồm công tác lắp đặt các thiết bị là
một bộ phận kết cấu của nhà cửa, vật kiến trúc.
Để tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, doanh nghiệp cần tiến hành
qua 3 bước: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
trong đó hoạt động xây dựng, lắp đặt nằm trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
4.1.2. Đầu tư mua sắm tài sản cố định cho sản xuất
Một doanh nghiệp muốn sản xuất ra sản phẩm, cần phải có máy móc, thiết bị
để phục vụ cho quá trình sản xuất. Do đó cần tiến hành hoạt động mua sắm tài
sản cố định chứ không thể tự sản xuất ra được. Việc xác định thời gian và sản
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lượng mua sắm tài sản cũng phụ thuộc điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
Trong một số trường hợp, hàng hoá mua sắm về mới lập tức đưa vào sử dụng,
một số khác thì được mua sắm ở thị trường sau đó vận chuyển đến doanh nghiệp.
Thông qua việc mua sắm này, doanh nghiệp có thể đảm bảo cho quá trình sản
xuất ra một cách liên tục, giảm một cách hợp lý nhiều khoản chi phí, cho phép
mua nguyên vật liệu một cách hợp lý, kinh tế nhất
4.1.3. Đầu tư sửa chữa lớn tài sản cố định
Sau một thời gian hoạt động, tài sản cố định có thể bị hư hỏng làm ảnh hưởng
đến quá trình sản xuất. Để doanh nghiệp hoạt động bình thường, ta cần đầu tư vào
hữu thứ công nghệ hiệu quả đó. Doanh nghiệp có thể mua công nghệ tĩnh hoặc
động. Khi doanh nghiệp mua công nghệ tĩnh thì những cải tiến mới của doanh
nghiệp không được cung cấp, không được quyền sử dụng mà họ chỉ được quyền
sử dụng công nghệ như tại thời điểm mua. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể mua
dưới hình thức động: công nghệ luông được cải tiến khi người bán công nghệ vẫn
tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu cải tiến công nghệ.
*Nghiên cứu phát triển kỹ thuật công nghệ: Đối với những doanh nghiệp mà
sản phẩm của họ sản xuất và kinh doanh là những công nghệ, thì những phát
minh sáng chế của họ là những tài sản trí tuệ mà họ sở hữu. Còn với doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh những sản phẩm không phải là công nghệ thì những
cải tiến kỹ thuật, công nghệ chưa chắc đã tạo ra một công nghệ mới nhưng ít nhất
nó cũng tạo ra sự phù hợp của công nghệ với điều kiện sản xuất, ít nhiều tạo lợi
thế cho doanh nghiệp.
4.2.2. Đầu tư xây dựng và phát triển thương hiệu
*Thương hiệu là các dấu hiệu hay một loại dấu hiệu hoặc tổng hợp các dấu
hiệu này gắn với hàng hóa hoặc dịch vụ, là biểu hiện bên ngoài. Dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ của một (hay một nhóm) người này với hàng hoá, dịch vụ
của một (hay một nhóm) người khác.
Hiện nay, trên thị trường có quá nhiều sản phẩm, nhiều công ty do đó xây
dựng cho mình một thương hiệu tức là xây dựng được sự thành công cho doanh
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiệp. Thương hiệu là phương tiện để cạnh tranh, nó thông báo sự hiện diện của
nó với hàng hoá, dịch vụ cùng loại khác, tạo ấn tượng ban đầu cho người mua.
Đồng thời, thương hiệu định hướng khách hàng, duy trì phát triển khách hàng.
Đa số người tiêu dùng quen mua hàng hoá quen thuộc, một nhãn hiệu uy tín sẽ
chiếm được cảm tình của người mua. Mặt khác, thương hiệu mang lại những lợi
ích nổi bật cho doanh nghiệp, nó đem lại thu nhập lớn hơn so với sản phẩm cùng
loại không có thương hiệu, nó thu hút được vốn đầu tư, có ưu thế trong định giá.
Do đó, để phát triển sản xuất có hiệu quả, doanh nghiệp phải xây dựng cho
độ cao thì các doanh nghiệp phải tổ chức cuộc thi để lựa chọn. Tuy nhiên, việc
tuyển chọn được lao động giỏi tương đối khó vì nó phụ thuộc vào tính chủ quan
của người ra điều kiện thi tuyển và chấm tuyển. Hình thức này được áp dụng
nhiều ở doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn doanh
nghiệp nhà nước thì nó mang tính hình thức do họ không có chế độ ưu đãi và giữ
lao động giỏi lại làm việc lâu dài cho doanh nghiệp.
- Đào tạo cho đội ngũ lao động trong doanh nghiệp: trang bị kiến thức phổ
thông, chuyên nghiệp và kiến thức quản lý. Theo hình thức đào tạo nguồn nhân
lực có đào tạo mới áp dụng người lao động chưa có nghề hoặc thực hiện công
việc này. Đào tạo lại áp dụng cho người đã có nghề song nghề này không phù
hợp với sự phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra, có đào tạo nâng cao trình độ
lành nghề, nâng cao kiến thưc và kinh nghiêm để người lao động có thể làm được
việc phức tạp. Song song với hình thức trên, đầu tư vào đào tạo cho đội ngũ lao
động còn một số phương pháp đào tạo trực tuyến thông qua mạng Internet, đào
tạo thông qua chương trình lập sẵn bằng máy tính, đào tạo phụ…
- Nâng cao điều kiện làm việc cho người lao động. Điều này trước đây không
được doanh nghiệp chú ý nhưng trong thực tế nó có vai trò khá quan trọng trong
sản xuất. Vì khi người lao động có điều kiện làm việc tốt họ mới yên tâm làm
việc, phát huy hết khả năng của mình trong công việc giúp doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả hơn. Trong đó, tiền lương tăng sẽ khuyến khích người lao động
hăng hái hơn trong công việc, người lao động tăng khả năng chi trả cho các nhu
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cầu cuộc sống từ đó có thể yên tâm làm việc. Mặt khác, bảo hộ lao động giúp
người lao động an tâm làm việc tránh được rủi ro trong lao động.
4.2.4. Đầu tư vào tài sản vô hình khác
Đầu tư vào tài sản vô hình khác có thể được hiểu gồm nội dung sau:
- Đầu tư vào quyền sử dụng đất: là toàn bộ chi phí doanh nghiệp chi ra liên
quan đến việc sử dụng đất gồm chi phí thuê, đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí
san lấp, lệ phí trước bạ.