LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta sau bao nhiêu năm bị kìm kẹp dưới sự trói buộc của kiểu quản
lý tập trung bao cấp, cuối cùng cũng được giải phóng bắt đầu từ chính sách Đổi Mới thời
điểm năm 1986. Đã gần ba thập kỷ qua đi, Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng
kể, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Cà phê, điều, gạo, hồ tiêu, dầu thô, thủy
sản,… Cùng nhiều mặt hàng khác đã có mặt ở nhiều nơi trên mặt địa cầu. Việc này khiến
thế giới biết đến chúng ta với cương vị của một nền kinh tế mới nổi, đang trên đà phát
triển mạnh mẽ thay vì một Việt Nam với đầy khói bụi, bom đạn và những tàn tích khác
của chiến tranh. Đó là một điều đáng mừng.
Tuy nhiên, để tham gia sân chơi thương mại đầy tính cạnh tranh với các quốc gia
khác, Việt Nam không chỉ cần những sản phẩm tốt, thị trường đầy tiềm năng và những
doanh nhân lấy chữ “tín” làm đầu. Chúng ta còn cần phải không ngừng học hỏi các vận
hành thị trường thương mại quốc tế, và cần thiết nhất Việt Nam cần tập dần thói quen
hành xử theo luật pháp, điều mà chúng ta có vẻ vẫn còn lạc nhịp so với phần còn lại của
thế giới.
Trong quá trình giao lưu thương mại quốc tế chúng ta cần có các công cụ pháp lý
để điều chỉnh, đó là các hợp đồng thương mại quốc tế. Việc nghiên cứu một cách có hệ
thống hợp đồng thương mại quốc tế là điều cần làm trong bối cảnh hiện nay. Như ta đã
được biết, cơ sở pháp lý của hợp đồng thương mại được ký và kết và thực hiện trên lãnh
thổ Việt Nam là toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, hợp đồng thương mại
quốc tế lại có phạm vi rộng hơn và thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Trong
đề tài tiểu luận này, nhóm sẽ tập trung đi sâu vào luật áp dụng, quá trình lựa chọn luật áp
dụng cũng như thời điểm lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thành, nhưng tiểu luận có thể vẫn còn
nhiều điểm thiếu sót. Vì vậy nhóm thực hiện mong muốn nhận được những lời phê bình,
nhận xét từ phía giảng viên hướng dẫn.
1
1. Luật áp dụng – Chức năng luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế
1.1. Tìm hiểu về luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế
Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hóa ngày càng phát triển đã khẳng định được
vai trò quan trọng của hợp đồng thương mại quốc tế. Tại Việt Nam, khi các hoạt động
ai hiểu hợp đồng bằng chính các bên tham gia hợp đồng.
1 Bành Quốc Tuấn, Xác định luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam-
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, [2010], Số 04, tr. 29-33
2 />2
1.2. Thông lệ về chọn luật áp dụng
Các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài được tự do lựa chọn luật áp dụng
cho quan hệ hợp đồng giữa họ là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng được thừa
nhận rộng rãi trên thế giới. Nguyên tắc này bắt đầu phát triển vào thế kỉ 20 và thịnh hành
ở Mỹ, châu Âu sau nhiều năm tranh luận. Phần lớn các hợp đồng quốc tế đều có điều
khoản chọn luật và điều khoản này đến nay đều được Tòa án xem xét khi có tranh chấp
xảy ra. Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng và Quy tắc Rome I
cũng cho phép các bên chọn luật điều chỉnh hợp đồng giữa họ. Nguyên tắc này được
pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Điều 769 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS).
3
Người Việt Nam trong một thời gian dài không có chữ viết riêng, phải vay mượn
chữ tàu rồi đọc chệch sang phiên âm Hán Việt, phần lớn dân chúng lại không biết chữ
làm cho việc hiểu biết và vận dụng hợp đồng phụ thuộc vào số ít người biết chữ. Vì vay
mượn cách viết và cách đọc vòng vo đó, chữ lại có thể hiểu theo nhiều nghĩa cho nên dựa
vào lời văn bản khế ước mà xét đoán nghĩa vụ không có truyền thống như phương Tây.
Trong bối cảnh đó hợp đồng không hiếm khi chỉ là ghi nhận một cách công thức những
nội dung giao ước giữa các bên
4
. Hợp đồng đối với nước ta là thứ đi sau của thế giới đặc
biệt là các nước phương Tây, vì thế việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng khi ký kết hợp
đồng vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia vẫn còn là những thứ khá mới mẻ.
Hiện nay, nước ta đã quy định về vấn đề chọn luật áp dụng trong nhiều văn bản, ví
dụ, các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không dân
dụng. Theo khoản 2 Điều 834 Bộ luật Dân sự, “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp
đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không
có thoả thuận khác”. Vậy, nếu các bên có thoả thuận về pháp luật áp dụng cho hợp đồng,
của nước đó có mối quan hệ với hợp đồng, các bên am hiểu và có lợi cho cả hai bên.
Về thời điểm chọn Luật áp dụng: Việc chọn luật áp dụng vào thời điểm nào do
các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tự do thỏa thuận. Trên tinh thần
của Công ước Viên 1980, các bên có thể tự do lựa chọn luật áp dụng tại thời điểm giao
kết hợp đồng bằng một điều khoản trong hợp đồng, hoặc các bên có thể sửa điều khoản
đó trong hoặc sau quá trình thực hiện hợp đồng, hoặc cũng có thể thay đổi việc chọn luật
áp dụng bằng hệ thống pháp luật khác so với sự lựa chọn ban đầu. Qua quy định này có
thể khẳng định thêm quyền tự do của các bên trong việc chọn luật áp dụng đối với hợp
đồng. Bên cạnh đó, công ước Viên 1980 cũng quy định sau khi kí kết hợp đồng các bên
mới chọn Luật áp dụng hoặc có sự thay đổi thì điều khoản vẫn có hiệu lực tính từ khi
giao kết. Trừ khi: 1. Nếu hợp đồng đã có hiệu lực về hình thức thì việc chọn hệ thống
pháp luật khác phải không làm ảnh hưởng tới hiệu lực về hình thức của hợp đồng. 2. Việc
chọn luật áp dụng mới không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba.
Về việc chọn đồng thời nhiều hệ thống pháp luật trong cùng một hợp đồng:
Chúng ta đều biết tính chất của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là những hợp
đồng lớn, có sự đan xen nhiều nghĩa vụ nhỏ hoặc tổng hợp của nhiều hợp đồng nhỏ khác
nhau, nên các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn một hệ thống pháp luật áp dụng cho toàn
bộ hợp đồng hoặc cũng có thể lựa chọn các hệ thống pháp luật khác nhau để áp dụng cho
4
từng vấn đề trong hợp đồng. Điều này có nghĩa là các bên tự do trong việc lựa chọn đồng
thời nhiều hệ thống pháp luật trong cùng một hợp đồng.
Trên thực tế khi giao kết hợp đồng quốc tế, các bên có thể xây dựng một điều
khoản riêng về chọn luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng. Điều này có ý nghĩa trong
việc đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý, tránh các rủi ra mà các bên không thể dự báo
trước được. Điều khoản chọn luật phải thể hiện ý chí thống nhất của các bên về việc áp
dụng luật nào để giải quyết trong trường hợp có tranh chấp. Có thể coi điều khoản chọn
luật áp dụng có giá trị pháp lý độc lập không phụ thuộc vào việc hợp đồng có hiệu lực
hay không. Ngoài ra, các bên có thể ghi nhận việc chọn luật của mình từ chính một tình
huống xảy ra trong thực tế. Như quy định cụ thể tại Đoạn 2, Điều 3.1 Công ước viên
1980 quy định: Việc lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng phải được thực hiện một
Việt Nam sẽ được áp dụng đối với hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam, hợp
đồng được giao kết ở Việt Nam và được thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam. Theo khoản 2
Điều 29 Bộ luật Hàng Hải 2005 “ việc cầm cố, việc thế chấp tàu biển tại Việt Nam được
giải quyết theo Pháp luật Việt Nam. Điều này có nghĩa là trong những trường hợp này,
các bên không có quyền tự do thảo thuận lựa chọn luật áp dụng mà buộc phải tuân theo
quy định của Pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, trong một số trường hợp, các bên chỉ được chọn pháp luật nước ngoài khi
Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể. Theo như Điều 5, Luật Đầu tư 2005 “đối
với hoạt động đầu tư nước ngoài, trong trường hợp Pháp luật Việt Nam chưa có quy định,
các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng của nước ngoài và tập quán đầu tư
quốc tế”, trong Luật Thương mại cũng quy định “ trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp
luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì
Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán Quốc tế để giải quyết tranh chấp”. Như vậy,
đối với những vấn đề có liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên chỉ
được lựa chọn luật áp dụng là pháp luật nước ngoài khi pháp luật Việt Nam chưa có quy
định. Đối với những trườngng hợp cụ thể pháp luật Việt Nam có điều chỉnh thì các bên
không được quyền lựa chọn luật áp dụng pháp luật nước ngoài.
Thứ ba, các bên được quyền lựa chọn Luật áp dụng nước ngoài, nhưng việc áp
dụng và hậu quả của việc áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
Luật Việt Nam. Cụ thể, tại Điều 750 BLDS 2005 quy định “Pháp luật nước ngoài cũng
được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận
đó không trái với các quy định của Bộ luật này và các quy định của các văn bản pháp luật
khác của nước CHXHCNVN”. Điều này cũng được quy định tương tự trong pháp luật
Thương Mại 2005.
7
1.4. Cách chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế
1.4.1. Lựa chọn áp dụng Điều ước quốc tế
Theo nguyên tắc chung, điều ước quốc tế được áp dụng trong những trường hợp:
7 />hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-theo-9187/
6
Pháp luật của tất cả các quốc gia đều cho phép các bên trong hợp đồng thương mại
quốc tế sử dụng tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của họ
phát sinh từ hợp đồng. Ví dụ, khoản 2 điều 5 Luật thương mại 2005 quy định, các bên
8 Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [2011], tr. 29
7
trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước
ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc
tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Và đây cũng à một cách
thức để giải quyết xung đột pháp luật – phương pháp thực chất thống nhất, làm cho việc
ký kết, thực hiện hợp đồng trở nên nhanh chóng, đơn giản và hiệu quả hơn, đáp ứng được
yêu cầu linh hoạt của hoạt động thương mại.
9
Tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng. Vì vậy, những
vấn đề gì hợp đồng đã quy định thì tập quán thương mại quốc tế không có giá trị, hay nói
cách khác, hợp đồng thương mại quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán
thương mại quốc tế. Khi áp dụng, cần chú ý là do tập quán thương mại quốc tế có nhiều
loại nên để tránh sự nhầm lẫn hoặc hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó, cần
phải quy định cụ thể tập quán đó trong hợp đồng.
Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên phải chứng minh nội dung của
tập quán đó. Do đó, nếu các bên có thể tìm hiểu thông tin về tập quán đó trước khi bước
vào đàm phán sẽ rất thuận lợi. Các thông tin đó các bên có thể tìm hiểu thông qua sách
báo, tài liệu hoặc ở các văn bản của các Phòng Thương mại, ở các Thương vụ của Việt
Nam ở nước ngoài…
Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, cần phải tiến hành phân loại tập quán
quốc tế. Nếu có tập quán chung và tập quán riêng thì tập quán riêng có giá trị trội hơn. Ví
dụ, FOB Incoterms 2000 là tập quán chung. FOB cảng đến (shipment to destination) của
Hoa Kỳ là tập quán riêng nên FOB shipment to destination của Hoa Kỳ sẽ được ưu tiên
áp dụng. Nếu có tập quán mặt hàng và tập quán ngành hàng thì tập quán mặt hàng sẽ
được ưu tiên áp dụng.
thương mại 2005 quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác các bên được coi là mặc
nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó
mà các bên đã biết hoặc không thể không biết nhưng không được trái với quy định của
pháp luật.
12
1.4.4. Lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia
Khi nào luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế?
Luật quốc gia được chọn là luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế khi:
Thứ nhất, trong hợp đồng thương mại quốc tế có quy định.
Có hai cách quy định. Cách thứ nhất là các bên quy định về luật áp dụng ngay từ
giai đoạn đàm phán, ký kết hợp đồng, bằng cách chỉ rõ trong hợp đồng rằng luật của một
11 Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [2011], tr. 41 - 42
12 Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [2011], tr. 42 - 43
9
nước nào đó sẽ được áp dụng cho hợp đồng. Trường hợp này gọi là các bên đã quy định
trong hợp đồng điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng. Ví dụ, “Mọi vấn đề không được
quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng này sẽ được giải quyết theo luật
Việt Nam” hoặc“Các vấn đề phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này được giải
quyết theo luật nước người bán”. Khi tranh chấp phát sinh, các bên và tòa án có thể dựa
vào luật Việt Nam hoặc luật nước người bán để giải quyết.
Cách thứ hai là các bên thoả thuận lựa chọn luật quốc gia là luật áp dụng cho hợp
đồng sau khi ký kết hợp đồng, thậm chí khi tranh chấp phát sinh. Cách này được các bên
áp dụng khi trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế mà các bên đã ký trước đó không
có điều khoản về luật áp dụng. Trong thực tế, cách này là rất khó áp dụng vì các bên khó
có thể đạt được một sự nhất trí về việc chọn luật áp dụng khi mà tranh chấp đã phát sinh:
người bán thì chỉ muốn áp dụng luật của nước nào bảo vệ được quyền lợi cho mình trong
khi đó người mua cũng chỉ muốn áp dụng luật của nước bảo vệ được quyền lợi cho mình.
Trong trường hợp này, hai bên chỉ đạt được sự thống nhất khi luật được lựa chọn là luật
giải quyết đầy đủ các vấn đề phát sinh trong thực tiễn thực hiện hợp đồng. Do vậy, vấn đề
chọn luật áp dụng cho một quan hệ cụ thể được đặt ra. Vậy luật nào sẽ được áp dụng cho
một quan hệ hợp đồng nhất định, xác định luật áp dụng trong giao kết hợp đồng có yếu tố
nước ngoài thường dựa trên các yếu tố nào?
Thực tế hiện nay, khi đàm phán hợp đồng, người ta thường dựa trên các chi tiết
sau để tìm ra luật áp dụng:
- Dựa vào điều khoản Trọng tài chỉ ra địa điểm của một hội đồng xét xử mà thực
sự có thể phải quyết định nghĩa vụ pháp lý nội bộ;
- Địa điểm các bên thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của họ;
- Địa điểm mà các điều khoản hợp đồng đã được đàm phán và hợp đồng đã được
ký kết;
- Dựa vào việc sử dụng ngôn ngữ nhất định trong hợp đồng hoặc trong quan hệ
thư từ trước khi ký kết hợp đồng hoặc các chứng từ, tài liệu kèm theo trong quá trình thực
hiện hợp đồng;
- Tham khảo các điều khoản luật hay thể chế pháp luật của một hệ thống pháp luật
nào đó;
- Sử dụng các điều khoản mẫu của một trong hai bên;
- Sự thỏa thuận về một địa điểm nào đó cho việc tiến hành thanh toán (địa điểm
thanh toán) cũng có thể được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hợp
đồng…
1.5. Điều kiện để luật do các bên lựa chọn có hiệu lực
13 />11
- Việc chọn luật không trái với điều ước quốc tế mà quốc gia của các bên là thành
viên. Ví dụ, bên cạnh quyền tự do chọn luật, Điều 3 công ước Rôme 1980 qui định
luật của nơi có bất động sản sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng
- Việc chọn luật và việc áp dụng hệ thống pháp luật được chọn không trái với hệ
thống pháp luật quốc gia của các bên. Tại Việt nam nội dung này được thể hiện ở 2
nội dung cơ bản:
Các bên chỉ có quyền chọn luật để điều chỉnh các quan hệ mà pháp luật Việt nam
cho phép chọn luật.
pháp luật trong pháp luật quốc gia để chọn luật áp dụng. Ví dụ, nếu các bên không thỏa
thuận luật áp dụng, chỉ chọn Tòa án Pháp sẽ chọn luật áp dụng dựa trên các qui định
trong Điều ước quốc tế hay Pháp luật Quốc gia. Pháp qui định chọn pháp luật của nơi có
mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng. Việt Nam qui định chọn pháp luật của nơi thực
hiện hợp đồng: Trong trường hợp các bên trong hợp đồng không thỏa thuận chọn luật áp
dụng thì phụ thuộc vào quan điểm của từng hệ thống pháp luật mà luật được áp dụng có
thể là:
• Luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất trong hợp đồng : Liên minh châu Âu
(EU) và Anh Mỹ áp dụng nguyên tắc này (bất động sản)
• Luật nơi thực hiện hợp đồng : Việt Nam áp dụng
• Luật nơi giao kết hợp đồng : Italia…
• Cần dựa vào tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
• Điều ước quốc tế ( trừ Nga và Hàn Quốc không có qui định chọn luật )
Chú ý:
Điều 769 Bộ luật Dân sự quy định ngoại lệ:
- Hợp đồng có đối tượng là bất động sản
- Hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt nam
Trong pháp luật Việt Nam không có qui định: Trường hợp việc xác định nơi thực
hiện hợp đồng, chỉ có qui định xác định nơi thưc hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng.
1.6. Chức năng của luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế có hai chức
năng cơ bản:
Thứ nhất, là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp. Có thể thấy trên thực tiễn, việc
lựa chọn luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có ý nghĩa trong việc đảm bảo an toàn về
mặt pháp lý, tránh các rủi ro không tiên liệu trước. Điều khoản chọn luật này đã thể hiện
ý chí thống nhất của các bên trong việc lựa chọn pháp luật nước nào để điều chỉnh nội
dung hợp đồng hoặc áp dụng luật nào để giải quyết khi có tranh chấp. Thật vậy, không
một chuyện gia pháp lý nào có thể tự tin mà nói rằng, khi đàm phán soạn thảo hợp đồng
13
họ có thể dự liệu tất cả mọi tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng
bên cần thỏa thuận chọn nhiều hệ thống pháp luật và một hệ thống pháp luật chỉ áp dụng
điều chỉnh một phần của hợp đồng. Thậm chí ngay cả khi thỏa thuận chọn luật áp dụng
cho toàn bộ hợp đồng vẫn có trường hợp các bên lựa chọn nhiều luật áp dụng cho hợp
14 Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [2011], tr. 27
14
đồng để phòng ngừa tình huống một hệ thống pháp luật không điều chỉnh hết các vấn đề
của hợp đồng. Bộ luật Dân sự 2005 không có quy định về vấn đề này, nhưng một số văn
bản pháp luật chuyên ngành lại quy định hợp đồng có thể được chi phối bởi hai hay nhiều
hệ thống pháp luật khác nhau. Ví dụ, khoản 1 Điều 17 Luật người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định: “Hợp đồng cung ứng lao động phải phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động…”. Như vậy, Hợp
đồng cung ứng lao động đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp
luật của nước tiếp nhận lao động. Vì vậy, Bộ luật Dân sự 2005 cần quy định thống nhất
về quyền của các bên được chọn luật áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ hợp đồng và
quyền được lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật khác nhau áp dụng cho một quan hệ hợp
đồng thương mại quốc tế.
Thỏa thuận lựa chọn áp dụng điều ước quốc tế. Trong thực tế, có một số điều ước
quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên. Ví dụ: Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chẳng hạn. Vậy các bên có quyền thỏa thuận lựa
chọn áp dụng cho hợp đồng hay không? Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu pháp
luật Việt Nam khi xem xét các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, dường như
pháp luật Việt Nam, mặc dù không cấm, nhưng không quy định về quyền được thỏa
thuận lựa chọn một điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa phải là thành viên để áp dụng
cho hợp đồng thương mại quốc tế
15
. Cụ thể: khoản 4 Điều 759 BLDS 2005 quy định:
“Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn
bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều
điều khoản của hợp đồng. Trường hợp thỏa thuận lựa chọn không đáp ứng quy định về
hình thức sẽ bị vô hiệu”.
16
2. Tại sao phải chọn luật áp dụng trong giai đoạn ký kết hợp đồng?
2.1. Giai đoạn ký kết hợp đồng
Trong giai đoạn ký kết hợp đồng, như đã biết, các bên trong hợp đồng sẽ phải
hoàn thành rất nhiều công việc để cùng hướng đến mục đích chung đó là sự trùng hợp về
ý chí. Sau khi chấp nhận để đến với đàm phán, các bên sẽ phải tiếp tục những công việc
như soạn thảo các điều khoản để đưa ra hợp đồng. Nhìn vào các hợp đồng dân sự có yếu
tố nước ngoài, ngoài những nội dung cơ bản được đề cập như mọi hợp đồng, đó là đối
tượng, chất lượng, số lượng, giá cả, phương thức thanh toán thì thường xuất hiện điều
khoản luật áp dụng (applicable law)
17
. Hợp đồng đân sự nói chung, và hợp đồng thương
mại nói riêng khi giao kết với thương nhân nước ngoài điều quan trọng đều là phải chọn
luật áp dụng cho hợp đồng. Một trong những vấn đề trong những vấn đề thương thuyết
trong quá trình thỏa thuận là “luật nào sẽ được áp dụng cho giao dịch này”?
18
16 />dan-s-co-yu-t-nc-ngoai&catid=2%3Ax-phuc-thm-v-tan-hoang-phat-khong-hy-an-la-sai&Itemid=18&lang=vi
17 Nguyễn Bá Bình, Việc xác định cơ quan giải quyết tranh chấp và chọn luật áp dụng đối với hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, [2008], số124, tr. 15 - 19
18 Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Đào, Luật Kinh doanh Quốc tế, NXB Đồng Nai, [2000], tr. 228
16
Thương nhân Việt Nam, ngoài lựa chọn pháp luật của Việt Nam, khi buôn bán với
doanh nhân nước ngoài, nhất là các thương vụ quốc tế vượt ra ngoài biên giới, các bên có
thể thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng là luật nước ngoài, các công ước (ví
dụ Công ước Viên về mua bán hàng hoá 1980) hoặc các nguyên tắc của pháp luật hợp
đồng (ví dụ các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004), với điều
kiện pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế không trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam
Khi tiến hành thương thảo ký kết hợp đồng thương mại quốc tế trên bàn đàm phán
thì cả hai bên đều có một khoản thời gian để tiến hành xem xét về hợp đồng (các quy
định về quyền và nghĩa vụ mà hai bên đưa ra), cũng như có thời gian cân nhắc kĩ lưỡng
trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng trong hợp đồng, để từ đó chọn được luật áp dụng
một cách thống nhất từ ý kiến chung của cả hai bên một cách dễ dàng hơn so với khi có
những vấn đề phát sinh mà lại không có luật điều chỉnh. Bởi khi phát sinh vấn đề trong
việc thực hiện hợp đồng, cũng như có tranh chấp phát sinh thì hai bên đều muốn bảo vệ
lợi ích của mình nên khó có thể tìm ra tiếng nói chung một cách nhanh chóng để giải
quyết mọi vấn đề phát sinh, chính vậy mà việc ngồi vào bàn đàm phán để lựa chọn pháp
luật giải quyết là rất khó. Trong khi đó kinh tế thì biến đổi từng ngày, từng giờ nó tác
động mạnh mẽ đến hoạt động thương mại, mà việc tốn nhiều thời gian để giải quyết tranh
chấp sẽ gây những tổn thất cho cả hai bên trong hợp đồng thương mại quốc tế. Chính vậy
có câu hỏi đặt ra là “Tại sao chúng ta không chọn luật lúc kí kết để điều chỉnh các vấn đề
phát sinh khi mà chúng ta có thể?”.
Việc lựa chọn luật áp dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng còn giúp cho việc thực
hiện hành vi trong hợp đồng được xuyên suốt, không gián đoạn, không trái với pháp luật
- vì vốn dĩ pháp luật mỗi quốc gia sẽ có những quy định khác nhau, việc tuân theo pháp
luật của nước này thì có thể sẽ trái với pháp luật của nước kia. Ta đã biết chức năng chính
của việc chọn luật áp dụng là nhằm “định hướng cho việc thực hiện hành vi” mà muốn
định hướng tốt thì chúng ta phải tiến hành xây dựng nên những vi phạm điều chỉnh xoay
quanh việc thực hiện hành vi đó trước khi hành vi được tiến hành thực hiện. Điều này
giúp cho việc thực hiện hành vi được định hướng một cách rõ ràng. Khi không lựa chọn
luật áp dụng thì cứ như người mù, họ không định hướng được lối đi của mình, cũng như
phương hướng mà họ cần đi để đạt được mục đích của họ và sẽ dẫn tới hoang mang vì
không biết lựa chọn của mình là đúng hay sai và việc hoang mang này có thể làm rối họ,
làm cho họ có tâm lý lo lắng rồi dẫn đến những hệ lụy không đáng có. Cũng giống như
hình ảnh người mù thì việc không xác định phương hướng, trạng thái hoang mang cũng
sẽ gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng trong hoạt động thương mại nói chung, và
đây là một hợp đồng thương mại quốc tế nó không chỉ ảnh hưởng tới lợi nhuận của hai
bên mà còn có thể gay ra tình trạng nghiêm trọng hơn đó là làm rối loạn các giao dịch
24
- Cần phải thể hiện rõ ràng của điều khoản chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Theo quy định
tại Khoản 1 Điều 3 Công ước Rome thì “Sự chọn luật phải được thể hiện hoặc chứng tỏ
với sự chắc chắn hợp lý (Reasonable certainty) bằng các điều khoản của hợp đồng hoặc
hoàn cảnh của vụ việc”
25
.
2.3. Hệ quả của việc không lựa chọn luật trong giai đoạn ký kết
Ta đã biết, bằng việc cung cấp một cơ chế đảm bảo thực hiện hợp đồng dự kiến sẽ
được thực hiện trong tương lai, luật hợp đồng bảo đảm cho các bên tham gia hợp đồng có
22 Dẫn chiếu là hiện tượng trong đó pháp luật nước ngoài, đã được chỉ định bởi quy phạm xung đột của pháp luật ở
nước có Tòa án có thẩm quyền xét xử để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, lại chỉ định ngược lại
pháp luật của nước có Tòa án có thầm quyền xét xử hay pháp luật nước thứ ba.
23 Lẩn tránh là hiện tượng đương sự dùng những biện pháp cũng như thủ đoạn để thoát khỏi hê thống pháp luật đáng
lẽ phải được áp dụng điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm tới hệ thống pháp luật khác có lợi hơn.
24 Nguyễn Ngọc Lâm, Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế nhân dạng tranh chấp, biện pháp ngăn
ngừa và phương pháp giải quyết, NXB Chính trị quốc gia, [2010]
25 />Rome-1980-den-Quy-tac-Rome-I-va-nhin-ve-Viet-Nam#ixzz2R03ygLM3v
19
thể đưa ra những kế hoạch hoặc dự kiến đầu từ dựa vào những gì người khác đã hứa hẹn
với họ
26
. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về luật quốc gia áp dụng hay nếu
xuất phát từ hợp đồng cũng không thể xác định rõ ràng rằng, các bên không đặt quyền và
nghĩa vụ của mình dưới sự điều chỉnh của quốc gia nào, thì xuất phát từ nguyên tắc xung
đột có thể áp dụng: luật quốc gia nơi thực hiện nghĩa vụ chủ yếu được thực hiện; luật
quốc gia nơi ký kết hợp đồng; luật có mối quan hệ mật thiết với hợp đồng; luật nước
người bán; luật tòa án; luật tiền tệ.
27
Có thể lấy một ví dụ, về việc áp dụng hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi, mà chính xác
điều khoản quan trọng bậc nhất trong hợp đồng thương mại quốc tế. Bởi, luật áp dụng áp
hưởng đến quá trình giải quyết tranh chấp cùng với định hướng cho hành vi của các bên
trong hợp đồng. Tuy nhiên, hiện nay tầm quan trọng của luật áp dụng vẫn chưa được
đánh giá đúng mức. Từ đó, dẫn đến những bất lợi không đáng có cho phía Việt Nam
trong quá trình giao lưu thương mại quốc tế. Hơn nữa, nếu phía nước ngoài có ý đồ lừa
đảo, việc thiếu hiểu biết về luật áp dụng tiềm ẩn nguy cơ thiệt hại cho Việt Nam.
Trong tiểu luận trên đây, nhóm thực hiện chúng tôi đã tập trung nghiên cứu hai
vấn đề quan trọng đó là: luật áp dụng (bao gồm cách chọn, điều kiện để chọn luật áp
dụng cùng với chức năng của nó) và thời điểm để chọn luật áp dụng.
Việc thay đổi nhận thức về luật áp dụng không phải là một việc làm khó nếu như
có sự quan tâm hợp lý từ phía các cơ quan chức năng cùng với giới luật sư và các chuyên
gia pháp lý. Một khi nhận thức được thay đổi thì chúng ta sẽ chủ động hơn trong việc
chọn luật, có khả năng thỏa thuận được luật áp dụng phù hợp với nhu cầu và mong muốn
của phía doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, giao dịch thương mại quốc tế sẽ tránh được
những mâu thuẫn không đáng có như trước đây xuất phát từ việc chọn luật. Và dĩ nhiên,
nếu thương mại phát triển ổn định, thời khắc để Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc
năm châu sẽ không còn xa nữa.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Danh mục văn bản pháp luật
1.1. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
1.2. Luật Thương mại 2005
1.3. Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.4. Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980 về luật áp dụng cho nghĩa
vụ hợp đồng
2. Tài liệu tham khảo
2.1. Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật
Hợp đồng Thương mại Quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh, [2011]
2.2. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Đào, Luật Kinh doanh Quốc tế,
3.1.
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.
3.6.
23