Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh lữ hành tại Công ty Cổ phần đầu tư
thương mại du lịch Hà Nội.” Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
3
thư giãn, để làm việc hay nhiều lý do khác nữa. Để kết nối nhu cầu đó với
những điểm đến du lịch kinh doanh du lịch lữ hành Việt Nam đã bắt đầu phát
triển mạnh. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cả thế giới như sát lại
gần nhau hơn thì nhu cầu tham quan càng lớn và cơ hội cho lữ hành quốc tế lại
tăng lên gấp nhiều lần.Nắm bắt được vấn đề đó, trong khoảng 10 năm trở lại
đây rất nhiều các doanh nghiệp lữ hành đã ra đời, hình thành nên một mạng
lưới tổ chức và phân phối chương trình du lịch rộng khắp Hà Nội và các địa bàn
kinh tế trọng điểm.Tại Hà Nội, các doanh nghiệp, đại lý lữ hành có ở rất nhiều
khu vực và đóng góp lớn cho sự phát triền chung của toàn ngành du lịch.Ngoài
những công ty mang tính chất tập đoàn lớn như Hanoi tourist hay những công
ty nhà nước có sự phát triển lâu đời, các doanh nghiệp lữ hành còn lại thường
có quy mô không lớn lắm và cạnh tranh với nhau khá quyết liệt trên thị trường,
đặc biệt là du lịch outbound và nộiđịa.
Là một quốc gia có diện tích khoảng 329.241 km2 với 3260km bờ biển cộng
với dân số của chúng ta khoảng 78.685.000 người, Việt Nam là nước có tiềm
năng rất lớn về du lịch khá phong phú và đa dạng. Nước ta là nước có nhiều
danh lam thắng cảnh nổi tiếng và có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, nhiều
di tích với kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Và đây chính là đặc điểm có sự cuốn
hút mạnh mẽ đối với khách du lịch trong và ngoài nước.
Từ khi chính phủ ra nghị quyết số 05CP về việc thành lập tổng công ty du
lịch Việt Nam như một cơ quan độc lập ngang bộ và có 14 Sở du lịch được
thành lập ở những nơi có tài nguyên du lịch phong phú nhất và hoạt động sôi
nổi nhất. Kể từ đó đến nay ngành du lịch của Việt Nam mới thực sự được Nhà
nước chú trọng và đầu tư xây dựng phát triển. Nước ta là nước có khí hậu ôn
hoà mát mẻ, tài nguyên du lịch phong phú, tình hình an ninh chính trị ổn định,
trong đó tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy sự phát triển du lịch.
Trong một vài thập kỷ gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền
kinh tế Việt Nam nói chung đã và đang đạt được nhũng thành tựu to lớn, cơ sở
hiện nay, mảng kinh doanh lữ hành của Công ty không mang lại lợi nhuận,
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
5
khắc phục những mặt yếu kém trong chiến lược kinh doanh dài hạn để mang lại
cho khách hàng sản phẩm tốt nhất và đem lại lợi ích cho Công ty.
Phạm vi nghiên cứu : Với lượng kiến thức còn hạn chế, em chỉ nghiên cứu và
tìm hiểu trong nội bộ công ty về mảng kinh doanh lữ hành, đánh giá hiệu quả
hoạt động kinh doanh và đưa ra một số giải pháp khắc phục.
Đối tượng nghiên cứu : Đi sâu nghiên cứu mảng hoạt động kinh doanh du
lịch lữ hành trong Phòng Du lịch.
Phương pháp nghiên cứu : Bằng các phương pháp đánh giá, phân tích hồi
quy, thống kê, phỏng vấn trực tiếp
,
xử lý số liệu bằng các công thức trên
Microsoft Excel.
Em xin cam đoan những tài liệu, thông tin em đưa ra trong bản chuyên đề
thực tập tốt nghiệp không sao chép mà dựa vào kết quả nghiên cứu độc lập trên
cơ sở tham khảo tài liệu và sự hướng dẫn của giáo viên.
Em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đình Hoà đã giúp đỡ em hoàn
thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Mekong - Cần Thơ tại thành phố Cần Thơ, chương trình du lịch về cội nguồn
năm 2008 tại Yên Bái, Phú Thọ… Các doanh nghiệp du lịch hiện nay đang tăng
cường hoạt động phục vụ khách du lịch như thúc đẩy chương trình dịch vụ du
lịch, mở rộng mạng lưới các điểm mua sắm, ăn uống đạt chuẩn du lịch, hoàn
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
7
chỉnh chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành du lịch với đề tài chương
trình quảng bá, xúc tiến du lịch và chương trình xúc tiến, hợp tác phát triển du
lịch với các tỉnh khác.
Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đặc biệt
là trong điều kiện Việt Nam đã trở thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại
thế giới từ tháng 1/2007 thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh lữ hành quốc tế để thu hút khách du lịch quốc tế vào Việt Nam là
một đòi hỏi cấp thiết.
Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam nếu không có đủ năng lực
tiếp cận thị trường quốc tế và khu vực, thiếu một chiến lược cạnh tranh linh
hoạt sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ nước ngoài và sẽ bị
loại ra khỏi cuộc chơi trong việc tiếp cận thị trường và thu hút khách du lịch
quốc tế.
1.1.1.2. Định nghĩa kinh doanh lữ hành
Trong vấn đề này, việc phân định rõ ràng giữa du lịch và lữ hành là một công
việc cực kỳ cần thiết. Nếu như không phân định được rõ ràng thì việc hiểu thấu
đáo nó sẽ bị sai lệch, từ đó mà các doanh nghiệp xác định sai sứ mệnh của
mình. Tuy nhiên, ở đây em chỉ xin đề cập tới 2 khía cạnh hiểu về du lịch và lữ
hành.
• Hiểu theo nghĩa rộng
Nếu như hiểu theo nghĩa rộng này thì lữ hành ( travel ) bao gồm tất cả
những hoạt động di chuyển của con người và các hoạt động có liên quan tới các
hoạt động di chuyển đó. Vậy khi phạm vi đề cập là như vậy thì trong hoạt động
toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch “. Kinh doanh lữ hành bao gồm
kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế.
+ Kinh doanh lữ hành nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa và phải có đủ ba điều kiện.
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện
chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế và phải có đủ năm điều kiện.
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
9
Kết luận : theo định nghĩa này thì kinh doanh lữ hành tại Việt Nam được
hiểu theo nghĩa hẹp và được xác định một cách rõ ràng rằng sản phẩm của kinh
doanh lữ hành đó chính là chương trình du lịch.
1.1.1.3. Phân loại kinh doanh lữ hành
• Theo tính chất hoạt động
Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm có các loại : Kinh
doanh đại lý lữ hành, kinh doanh chương trình du lịch và kinh doanh tổng hợp.
+ Kinh doanh đại lý lữ hành
Với những đại lý lữ hành thì hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ cho các công
ty lữ hành. Nó làm trung gian tiêu thụ và bán sản phẩm một cách cực kỳ độc
lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất để hưởng hoa hồng theo mức phần trăm mà
đại lý bán ra. Một yêu cầu đặt ra với các đại lý lữ hành là không được quyền
làm gia tăng giá trị của sản phẩm khi chuyển giao từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh
vực tiêu dùng du lịch mà chỉ hưởng lợi từ việc bán sản phẩm của nhà sản xuất,
tuỳ theo mức phần trăm mà các nhà cung cấp thoả thuận với đại lý. Và vì thế
các nhà kinh doanh coi đó là loại hình kinh doanh thực hiện nghĩa vụ “ chuyên
gia cho thuê “ mà không bị chịu bất kỳ một rủi ro hay bất lợi nào, chỉ bán sản
phẩm hộ nhà sản xuất và hưởng hoa hồng. Nhưng không phải ai cũng làm được
đại lý lữ hành mà các yếu tố để làm một nhà đại lý cũng cực kỳ khắt khe, một
trong những thành tố quan trọng trong lĩnh vự kinh doanh này đó là phải có vị
trí địa lý , hệ thống đăng ký, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
bán. Đây là hoạt động kinh doanh gộp cả hai hình thức: kinh doanh đại lý lữ
hành và kinh doanh chương trình du lịch, là kết quả trong quá trình phát triển
và thực hiện liên kết dọc, liên kết ngang của các chủ thể kinh doanh du lịch. Vì
thế các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành tổng hợp được gọi là các
công ty du lịch.
• Theo phương thức và phạm vi hoạt động
+ Kinh doanh lữ hành gửi khách
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
11
Theo hoạt động kinh doanh này thì kinh doanh lữ hành gửi khách bao gồm
cả gửi khách quốc tế, gửi khách nội địa. Đây là loại hình kinh doanh mà hoạt
động của nó là tổ chức thu hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách
hàng đến tận nơi sử dụng. Để hình thức kinh doanh này đạt hiệu quả cao thì yêu
cầu đặt ra là phải diễn ra tại nơi có cầu du lịch lớn, khi cầu du lịch tại nơi đó
lớn thì các công ty này mới có đủ khách hàng để gửi khách tới nơi du lịch. Các
doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành gửi khách được gọi là công ty gửi
khách.
+ Kinh doanh lữ hành nhận khách
Kinh doanh lữ hành nhận khách bao gồm cả nhận khách quốc tế và nhận
khách nội địa. Đây là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây
dựng các chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để
bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho
khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách. Loại hình kinh doanh này chỉ
phát triển và càng ngày càng mở rộng khi nó diễn ra tại nơi có nhiều tài nguyên
du lịch nổi tiếng. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành loại này được gọi là các
công ty nhận khách.
+ Kinh doanh lữ hành kết hợp
Là hình thức kết hợp giữa kinh doanh lữ hành nhận khách và kinh doanh lữ
hành gửi khách. Những doanh nghiệp kinh doanh loại hình kết hợp này phải là
Đại lý lữ hành
Kinh doanh chương
trình du lịch
Văn
phòng
du
lịch
Đại lý
bán lẻ
Kinh
doanh
lữ
hành
gửi
khách
Kinh
doanh
lữ
hành
nhận
khách
Kinh
doanh
lữ
hành
kết
hợp
Kinh
doanh
lữ
đối mặt với tính biến động cao và phạm vi ảnh hưởng của môi trường kinh
doanh. Là một bộ phận cấu thành nên ngành kinh doanh du lịch, kinh doanh lữ
hành có những đặc điểm chung của ngành, song cũng có những đặc điểm riêng
biệt về vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động. Kinh doanh lữ hành thực sự là
một mảng kinh doanh rất khó và mới mẻ tại Việt Nam, nên ở Việt Nam, doanh
nghiệp lữ hành được hiểu: là đơn vị có tư cách pháp nhân, hoạch toán độc lập,
được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp
đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du
lịch.
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
14
Nếu như trước kia, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành phải mua dịch vụ
từ các nhà cung cấp dịch vụ như : khách sạn, nhà hàng, hãng hàng không, tàu
hoả, ngân hàng…thì trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển như vũ bão của các
ngành kinh tế khác đã đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện nay, các
công ty lữ hành không chỉ là người bán sản phẩm của nhà cung cấp dịch vụ du
lịch mà chính họ là người sản xuất ra các sản phẩm du lịch. Vì vậy, ta có thể
định nghĩa một cách đầy đủ nhất về doanh nghiệp kinh doanh lữ hành như sau :
“ Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi
nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du
lịch cho khách du lịch. Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các
hoạt động trung gian bán sản phẩm của nàh cung cấp du lịch hoặc thực hiện các
hoạt động kinh doanh tổng hợp khác, đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch của
khách từ khâu đầu đến khâu cuối cùng “.
Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khác nhau chủ yếu dựa vào các khía
cạnh sau :
• Quy mô và địa bàn hoạt động
• Đối tượng khách
• Dịch vụ tư vấn, thiết kế lộ trình
• Dịch vụ bán vé xem biểu diễn nghệ thuật, tham quan, thi đấu thể thao và
các sự kiện khác.
Nếu như khách du lịch đi vượt ra khỏi phạm vi quốc gia họ đang sinh sống
thì thường ngày nay, họ sẽ mua các sản phẩm của các hãng lữ hành mà nổi bật
là các dịch vụ trung gian. Được mua nhiều nhất trong gói sản phẩm dịch vụ
trung gian khi đi du lịch nước ngoài sẽ là vé máy bay.
1.1.2.2. Chương trình du lịch
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
16
Nhắc đến một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thì điều đầu tiên mà khách
hàng lưu tâm đó là chương trình du lịch. Vì vậy có thể khẳng định rằng, chương
trình du lịch là sản phẩm chủ yếu hay đặc trưng của một doanh nghiệp lữ hành.
Để có một chương trình du lịch hoàn chỉnh thì phải trải qua 5 giai đoạn như sau
• Thiết kế chương trình du lịch và tính chi phí
• Tổ chức xúc tiến hỗn hợp
• Tổ chức kênh tiêu thụ
• Tổ chức thực hiện
• Các hoạt động sau kết thúc thực hiện
1.1.2.3. Các sản phẩm khác
Ngoài các sản phẩm kể trên thì doanh nghiệp kinh doanh lữ hành còn kinh
doanh một số sản phẩm khác và cũng đem lại lợi ích cho công ty:
• Du lịch khuyến thưởng.
• Du lịch hội nghị, hội thảo.
• Chương trình du học.
• Tổ chức các sự kiện văn hoá, kinh tế, xã hội, thể thao lớn.
• Các sản phẩm và dịch vụ khác theo hướng liên kết dọc nhằm phục vụ
khách du lịch trong một chu trình khép kín.
1.1.3. Thị trường khách của kinh doanh lữ hành
kinh doanh của các ngành sản xuất vật chất, từ đó dẫn đến đặc điểm hoạt động
tài chính của các doanh nghiệp lữ hành cũng khác biệt so với ngành sản xuất
vật chất. Để đánh giá đúng tình hình tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành thì nội dung phân tích gồm :
………………………………………………………………………
( 1 ) : Bài giảng của Th.S Phạm Rin - Đại học Duy Tân - Báo Tạp chí kế toán
1.2.1. Phân tích cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
18
Cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu về tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan
hệ cân bằng cấu trúc tài sản và cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp. Phân tích
cấu trúc tài chính là phân tích khái quát tình hình đầu tư và huy động vốn của
doanh nghiệp, chỉ ra các phương hướng tài trợ tài sản để làm rõ
những dấu hiệu về cân bằng tài chính. Nội dung phân tích cấu trúc tài chính bao
gồm : Phân tích cấu trúc tài sản và phân tích cấu trúc nguồn vốn.
1.2.1.1. Phân tích cấu trúc tài sản
Phân tích cấu trúc tài sản cho thấy mức độ biến động của từng loại tài sản
trong tổng tài sản, trên cơ sở đó nhận ra khoản mục nào có sự biến động lớn để
tập trung phân tích để tìm ra nguyên nhân. Mặc khác, còn phải tìm hiểu xu
hướng biến động các loại tài sản để đánh giá mức độ hợp lý của việc đầu tư.
Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp lữ hành thường ưu tiên đầu tư cho tài
sản cố định : xây dựng khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, mua sắm
phương tiện vận chuyển…Do đó cấu trúc tài sản của các doanh nghiệp này có
đặc điểm là tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-85% tổng giá trị tài
sản của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Phân tích cấu trúc nguồn vốn
Cấu trúc nguồn vốn thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp, liên quan
đến nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Nội dung phân
vốn lưu động ròng.
Nếu vốn lưu động ròng âm liên tục qua các năm thì doanh nghiệp sẽ mất cân
bằng tài chính, tình hình và khả năng thanh toán sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên để
có đánh giá cụ thể hơn cần thông qua chỉ tiêu ngân quỹ ròng. Nếu ngân quỹ
ròng âm, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phải huy động các khoản vay ngắn hạn để
bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lưu động ròng và tài trợ cho tài san cố định.
Cân bằng tài chính kém an toàn và bất lợi cho doanh nghiệp. Nếu ngân quỹ
ròng dương thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn vì doanh nghiệp không
phải vay để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lưu động ròng.
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
20
Hoạt động kinh doanh lữ hành không có tồn kho, không có sản phẩm dự trữ
cho tiêu thụ, không có sản phẩm dở dang, quá trình sản xuất cũng đồng thời là
quá trình tiêu thụ. Mặt khác, hoạt động cung cấp dịch vụ lữ hành phục vụ trực
tiếp cho nhu cầu của khách hàng không qua trung tâm mua bán, doanh thu cung
cấp dịch vụ phần lớn được khách hàng thanh toán bằng tiền nên nợ phải thu của
khách hàng của các doanh nghiệp lữ hành chiếm tỷ trọng thấp trong tổng tài sản
lưu động. Doanh thu bằng tiền thu được sẽ được tiếp tục chi ra cho chu kỳ kinh
doanh tiếp theo và được luân chuyển liên tục. Do vậy, khi phân tích cấu trúc tài
chính, phân tích cân bằng tài chính thông qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng và
ngân quỹ ròng cần chú ý đến đặc điểm này để có đánh giá đúng thực trạng.
1.2.3. Phân tích hiệu quả tài chính
Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, một doanh nghiệp
có hiệu quả tài chính cao thì sẽ có điều kiện tăng trưởng. Nghiên cứu hiệu quả
tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp so với tổng tài
sản mà doanh nghiệp có, đó là khả năng sinh lời của nguồn vốn chủ sở hữu.
Khả năng sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu ( ROE ) thể hiện qua mối quan hệ cuối
cùng của doanh nghiệp với nguồn vốn chủ sở hữu. ROE cao chứng tỏ doanh
nghiệp sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu có hiệu quả. Ngược lại, nếu tỷ lệ này
TC TV ………………………………………………………………………
( 2 ) : Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành- TS.Nguyễn Văn Mạnh, TS.Phạm
Hồng Chương
Trong đó :
H : hiệu quả tổng quát
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
22
TR : tổng doanh thu từ kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích
TC : tổng chi phí cho kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân tích
TV : tổng vốn đầu tư cho kinh doanh chương trình du lịch trong kỳ phân
tích
1.3.2. Chỉ tiêu doanh lợi, tỷ suất lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đơn vị tiền tệ chi phí bỏ ra hoặc một đơn vị
tiền tệ vốn cho kinh doanh chuyến du lịch thì đem lại bao nhiêu phần trăm lợi
nhuận.Nếu chỉ tính riêng chi tiêu doanh lợi bằng lợi nhuận trên chi phí thì chưa
phản ánh đầy đủ các chi phí có liên quan đến chương trình du lịch,trong đó có
khoản trong vốn đầu tư chưa được tính vào. Chi phí kinh doanh luôn nhỏ hơn
vốn đầu tư cho kinh doanh chương trình du lịch. Vì vậy, để đánh giá chính xác
khả năng sinh lợi của vốn đầu tư cho kinh doanh chương trình du lịch cần phải
tính chỉ tiêu này bằng lợi nhuận trên vốn ( gồm cả vốn cố định và vốn lưu
động). Hoặc tỷ suất lợi nhuận phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thuần với
tổng doanh thu từ kinh doanh các chương trình du lịch trong kỳ phân tích để
xác định mức độ đầu tư và khả năng chủ động, trực tiếp đảm bảo các dịch vụ
đầu vào để kinh doanh chương trình du lịch của doanh nghiệp.
1.3.3. Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một lao động trong doanh nghiệp thì thực hiện
1.3.4. Chỉ tiêu doanh thu trung bình một ngàykhách
Công thức :
R
a
= TR (Đơn vị tiền tệ / ngày khách)
TNK
Trong đó :
R
a
: Doanh thu trung bình một ngày khách trong kỳ phân tích
1.3.5 . Chỉ tiêu chi phí trung bình trên một ngày khách
Công thức :
C
a
= TC (Đơn vị tiền tệ / ngày khách)
TNK
Trong đó :
C
a
: chi phí trung bình một ngày khách trong kỳ phân tích
Kết luận : Với các chỉ tiêu trên giúp ích rất nhiều cho nhà kinh doanh lữ
hành quản lý doanh nghiệp của mình một cách tốt hơn, so sánh các chương
trình du lịch của mình với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành khác để có
những chiến lược, những bước đi phù hợp với từng loại chương trình để đạt
được lợi nhuận cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI DU LỊCH HÀ NỘI
Chuyên đề tốt nghiệp
SV: Lã Ngọc Hà - Du lịch 46A
24
25
phục vụ khách du lịch ( không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, quán
bar, vũ trường )
- Sản xuất, mua bán vật tư nông nghiệp và phân bón ( không bao gồm
thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú y )
- Kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá
- Kinh doanh các loại hình vận tải bằng ôtô như : Vận tải khách theo hợp
đồng, vận tải khách du lịch, vận tải khách bằng taxi, vận tải khách theo tuyến
cố định, vận tải hàng
- Dịch vụ giao nhận hàng hoá
- Sản xuất, mua bán, lắp ráp, bảo dưỡng hàng điện, điện tử, điện lạnh, điện
gia dụng, thiết bị tin học, thiết bị văn phòng, máy tính và linh kiện máy tính
- Kinh doanh thiết bị bưu chính viễn thông
- Dịch vụ xông hơi, xoa bóp ( không bao gồm dịch vụ châm cứu, day ấn
huyệt, xông hơi bằng thuốc y học cổ truyền )
- Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh
- Mua bán xe ôtô, xe máy mới và cũ các loại và thiết bị, phụ tùng của chúng
2.1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ
+ Chức năng kinh doanh
- Xây dựng, tổ chức và bán các chương trình du lịch trong và ngoài
nước cho kháchd du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
- Phục vụ nhu cầu lưu trú và ăn uống cho khách tham quan, khách
du lịch và dân cư địa phương
- Tổ chức các dịch vụ vận tái cho khách du lịch : xe, tàu hoả, tàu
thuỷ, máy bay.
- Tổ chức hội nghị, hội thảo cho các đơn vị, tổ chức theo yêu cầu
- In ấn lịch, tập gấp, tờ rơi và các dịch vụ liên quan đến in ấn ( theo
quy định của pháp luật ) .