TỔNG QUAN NGUỒN LỢI THỦY SẢN, CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM - Pdf 12



i

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
CENTRAL INSTITUTE FOR ECONOMIC MANAGEMENT
DỰ ÁN DANIDA
DANIDA PROJECT

Tel : (84-4) 8.453196
Fax: (84-4) 8.456795 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI THỦY SẢN, CHIẾN LƯỢC
VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN
VIỆT NAM

OVERVIEW OF FISHERIES RESOURCE,
DEVELOPMENT STRATEGY AND POLICY FOR
FISHERIES FACTOR IN VIETNAM

4.1. Diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng 12
4.2. Giá trị, giá bán và giá thành sản phẩm nuôi trồng 14
4.3. Lao động trong nuôi trồng thuỷ sản 15
5. Chế biến, thương mại thuỷ sản 15

6. Một số chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam 17

6.1. Khung thể chế liên quan đến quản lý thủy sản 17
6.2. Một số chính sách liên quan đến sự phát triển ngành thuỷ sản 19
6.2.1. Chính sách quản lý sự phát triển của NTTS 19
6.2.2. Chính sách khuyến ngư 21
6.2.3. Chính sách quản lý sự phát triển khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 21
7. Tài liệu tham khảo chính 22DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Figure 1: Diễn biến số lượng và công suất tàu thuyền khai thác thuỷ sản ở Việt Nam
(Trung tâm tin học thủy sản, 2008) 8

Figure 2: Diễn biến sản lượng và năng suất khai thác thủy sản ở Việt Nam
(FAO,2008) 9

Figure 3: Diễn biến sản lượng khai thác thủy sản ở Việt Nam theo đối tượng (FAO,
2008) 10

Figure 4: Diễn biến giá trị, giá bán và giá thành sản lượng khai thác ở Việt Nam (Tổng
cục Thống kê, 2007) 11

Figure 5: Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam

ĐDSH Đa dạng sinh học
HST Hệ sinh thái
KBTB Khu bảo tồn biển
USD Đô la Mỹ
CV Mã lực
GTGT Giá trị gia tăng
4

Bối cảnh chung
Việt Nam là quốc gia biển, có một vùng biển rộng, bờ biển dài và hội tụ nhiều
đảo, đa dạng về kiểu loại đất ngập nước với nhiều hệ sinh thái đa dạng sinh học cao, đã
tạo ra cho đất nước ta tính đa dạng hình về tiềm năng phát triển và nguồn lợi thuỷ
sinh… tiền đề cho sự phát triển một ngành thủy sản phát triển mạnh trên nhiều. Ngành
Thuỷ sản nước ta có thể phát triển mạnh ở các lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng và
hậu cần dịch vụ. Trong đó, có thể phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở tất cả các
vùng sinh thái khác nhau, từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo; việc
khai thác thủy sản ở hầu hết các thuỷ vực từ vùng ven bờ đến vùng khơi, hay sâu trong
nội địa; việc phát triển hệ thống cảng cá, bến cá ở các vũng vịnh, cửa sông và tuyến
đảo. Vì thế, sản xuất thuỷ sản nước ta được xem là một nghề truyền thống, gắn bố với
các cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và ven biển. Đưa nghề cá trong nước thành
nghề cá nhân dân, một ngành kinh tế đi đầu trong hội nhập kinh tế thế giới và đã phát
huy mạnh mẽ nhiều mô hình kinh tế “dân doanh” thu hút các thành phần kinh tế đầu tư
phát triển ngành.
Từ năm 1990 đến nay (năm 2007) tổng sản lượng thuỷ sản tăng gấp 4,1 lần, với
tốc độ tăng trưởng bình quân năm 8,11%/năm; đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng
18,5 lần, tương đương với tốc độ tăng trưởng bình quân năm 17,61%/năm; giá trị sản
xuất tăng gấp 5,7 lần, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân năm 10,19%/năm; giải quyết

5

trọng trong sử dụng các tiềm năng biển ven bờ, giảm sức ép đối với khai thác các vùng
ven bờ và góp phần tăng nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, giữ vững chủ
quyền vùng biển. Phát triển NTTS không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu trong ngành
thủy sản mà còn góp phần quan trọng trong chuyển dịch và phát triển kinh tế xã hội
nông thôn (nhất là từ khi có Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000
của Chính phủ). Đến nay, sản lượng nuôi ở nước ta đứng thứ 3 trên thế giới và đạt tốc
độ tăng trưởng thứ 2 thế giới. Hiện đã chủ động con giống phục vụ phát triển nuôi; sản
xuất tôm giống đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá với sản lượng khoảng 30 tỷ
con giống hàng năm, nhiều đối tượng khác đã thành công trong sản xuất nhân tạo.
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển nhanh và có thể coi là động lực cho
tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thủy sản. Chất lượng và
tính cạnh tranh được cải thiện không ngừng, tạo được uy tín trên thị trường thế giới.
Đến nay, cả nước đã có 439 nhà máy với tổng công suất 4.262 tấn/ngày, chuyển sang
sản xuất các mặt hàng thuỷ sản cao cấp bằng các dây chuyền tiến tiến. Hàng thuỷ sản đã
xuất khẩu sang trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ động trong các thị trường chủ
yếu là Hoa Kỳ, RU, Nhật Bản và Trung Quốc.Về an toàn vệ sinh thực phẩm hiện có
171 doanh nghiệp nằm trong danh sách 1 vào thị trường EU, Nhật Bản, 300 doanh
nghiệp đủ điều kiện vào Hoa Kỳ, 295 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn vào Trung Quốc và
251 doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh đối với thị trường Hàng Quốc.
Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều mặt hàng nội địa trên các chợ đầu mối, các nhà hàng,
khách sạn và siêu thị. Cùng với đẩy mạnh khai thác xa bờ (đánh bắt các đối tượng có
giá trị xuất khẩu) và phát triển nuôi trồng đã đẩy mạnh việc xuất khẩu và tăng thu ngoại
tệ đưa, giá trị xuất khẩu tăng gấp 18,5 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân năm
18,74%/năm.
Ngoài ra, phát triển của ngành cũng đã đóng góp vào việc giải quyết việc làm và
lao động cho hàng triệu người. Trong gần 2 tập kỷ qua, lao động việc làm luôn tăng 2,5
lần, với tốc độ tăng 5,26%/năm.
Tuy nhiên, với những thành tựu trên, ngành thủy sản còn gặp nhiều thách thức

phẩm. Cộng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, rủi ro do thiên tai, bảo đảm tính mạng, tài
sản ngư dân và cư dân ven biển là một trong những thách thức lớn đối với ngành trong
thời gian tới.

2. Tổng quan nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam
2.1. Số lượng và thành phần loài
Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình
Dương, có diện tích khoảng 3.448.000 km
2
, được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ
(Việt Nam, Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Thái Lan, Cămpuchia,
Xinhgapo và Đài Loan); là một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng
của cả khu vực và thế giới.
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000km
2
,
vùng biển đặc quyền kinh tế rộng 1 triệu km
2
với hơn 4.000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh,
đầm phá với tổng diện tích 1.160km
2
được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền. Trong
nội địa, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt tạo nên khoảng 1,7 ha mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản. Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) khá cao, cũng là nơi
phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới ấn Độ - Thái Bình
Dương với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện. Trong đó có khoảng 6.000
loài động vật đáy, 2.038 loài cá biển, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537
loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, hệ giáp xác biển có 1647 loài (225 loài
tôm biển), 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 14 loài cỏ biển, 298 loài san hô, 15 loài rắn
biển, 12 loài thú biển, 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước. Tuy nguồn lợi hải sản Việt

Xét theo nhóm cá có sự khác nhau theo vùng địa lý. Nhóm cá nổi nhỏ tập trung
nhiều ở khu vực biển miền Trung (chiếm 82,5%) và Vịnh Bắc Bộ (57,3%), nhưng càng
xuống thấp Vĩ độ thì tỷ lệ nhóm cá nổi nhỏ có xu hướng giảm.
Table 1
: Nguồn lợi hải sản Việt Nam
Trữ lượng Khả năng khai thác St
t
Vùng
Biển
Loài cá Độ
Sâu
Tấn Tỷ lệ (%)

Tấn Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ
(%)
Cá nổi nhỏ 390.000

57,3

156.000

57,3

<50m 39.204

5,7

15.682



16,3

Cá nổi nhỏ 500.000

82,5

200.000

82,5

<50m 18.494

3,0

7.398

3,0

>50m 87.905

14,5

35.162

14,5Cá đáy
Cộng 106.399

16,8

139.762

16,8

>50m 1.202.735

58,0

481.094

58,0Cá đáy
Cộng 1.551.889

74,8

620.856

74,8

3
Đông
Nam Bộ
Cộng 2.075.889

100,0


100,0

12,1

5 Gò nổi
Cá nổi nhỏ 10.000

100,0

2.500

100,0

0,2

6 Toàn
vùng biển
Cá nổi đại
dương (*)
300.000120.0007,2

Cá nổi nhỏ 1.740.000



Nguồn: Trung tâm Tin học thuỷ sản (2008)

3. Hiện trạng khai thác hải sản
3.1. Số lượng và công sất tàu thuyền khai thác hải sản
Trong vòng 15 năm qua (từ năm 1990 – 2007) số lượng tàu thuyền lắp máy đánh
bắt hải sản và công suất tàu thuyền ngày càng tăng theo tỷ lệ thuận với thời gian. Tổng
số tàu đánh bắt thuỷ sản có lắp máy ở nước ta tăng lên gấp 1,3 lần, với tốc độ tăng bình 8

quân năm 1,53%/năm; Nhưng tổng công suất tàu đánh bắt tăng gấp 6,4 lần và đạt tốc độ
tăng 10,87%/năm.
Rõ ràng, tốc độ tăng công suất tàu thuyền cao hơn gấp 10 lần so với tốc độ tăng số
lượng tàu. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nguồn lợi hải sản gần bờ giảm nhanh; từ sau
khi Chính phủ ban hành Quyết định 393/TTg ngày 25/5/1997 về việc cho vay vốn tín
dụng ưu đãi đóng tàu khai thác hải sản xa bờ, đã tạo thành phong trào trong ngư dân
đóng tàu công suất lớn ra khai thác xa bờ. Do đó, người dân có chiều hướng đóng
thuyền có công suất lớn nhằm vươn ra ngư trường ngoài khơi, nhiều gia đình đã thực
hiện việc cải hoán tàu thuyền khai thác, từ thuyền có công suất thấp sang thuyền có
công suất lớn hơn, khả năng ra khơi xa hơn.
Mặc dù, sự biến động số lượng tàu thuyền khai thác và công suất có sự biến động
khác nhau theo từng giai đoạn. Giai đoạn 1990-1996 số lượng tàu thuyền tăng lên rất
mạnh, nhưng tổng công suất tàu thuyền tăng không mạnh. Đến giai đoạn 1997 số lượng
tàu thuyền giảm giảm xuống rất mạnh (từ 97.700 chiếc xuống còn 71.500 chiếc), và duy
trì ổn định đến năm 1999; giai đoạn này công suất tàu thuyền không thay đổi nhiều.
Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay số lượng tàu thuyền và công suất có chiều hướng tăng,
nhưng tốc độ không cao.
Trong tổng số tàu khai thác thuỷ hải sản ở nước ta, tỷ lệ số tàu thuyền khai thác

2005
2006
2007
Total of horse Power (100 CV)
Total of number boat (1.000 boats)
Average of horse power per boat (CV/boat)

Figure 1: Diễn biến số lượng và công suất tàu thuyền khai thác thuỷ sản ở Việt Nam (Trung
tâm tin học thủy sản, 2008)

3.3. Sản lượng và năng suất khai thác hải sản
Qua đồ thị tương quan giữa năng suất khai thác với sản lượng có mối tương quan
nghịch. Trong 15 năm qua, sản lượng khai thác ngày càng tăng, trong khi năng suất 9

bình quân theo công suất ngày càng giảm và thể hiện rất rõ từ năm 1995 đến nay. Tốc
độ tăng trưởng về sản lượng khai thác đạt 6,12%/năm và năng suất khai thác theo đơn
vị thuyền đạt 4,51%/năm, nhưng nếu xét năng suất theo công suất tàu thuyền thì đạt tốc
độ tăng trưởng âm (- 4,29%).
Rõ ràng, việc tăng sản lượng khai thác chủ yếu do tăng tổng công suất tàu thuyền,
đưua sản lượng khai thác từ 0,71 triệu tấn năm 1990 lên đến 2,06 triệu tấn năm 2007.
Năng suất khai thác bình quân theo công suất đạt 897 kg/CV (năm 1990) xuống còn
408 kg/CV (năm 2007). Nếu xét năng suất khai thác theo đơn vị thuyền, thì có chiều
hướng ngày càng tăng từ 9,7 tấn/thuyền (năm 1990) lên đến 21,6 tấn/thuyền.
Mặc dù, sản lượng tăng không mạnh, nhưng nếu xét đến trữ lượng được phép khai
thác nhằm hướng tới phát triển bền vững đến 2007 đã vượt quá 122%; nhưng nếu so
sánh đến tổng trữ lượng nguồn lợi chỉ đạt 49%.
Nguyên nhân do đánh bắt các đối tượng gần bờ, có giá trị thấp ngày càng nhiều,

2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
25.0
Production of capture (1.000
tons)
Capture Productivity per
Horse power (kg/CV)
Capture Productivity per Boat
(Tons/boat)

Figure 2: Diễn biến sản lượng và năng suất khai thác thủy sản ở Việt Nam (FAO,2008)
10

0
500000
1000000
1500000

1998
2000
2002
2004
2006
Total productions of capture (tons)
Tuna-like fishes nei
Siamese crocodile
Natantian decapods nei
Natantian decapods nei
Marine molluscs nei
Marine fishes nei
Marine crabs nei
Lobsters nei
Freshwater fishes nei
Cephalopods nei
Aquatic invertebrates nei

Figure 3: Diễn biến sản lượng khai thác thủy sản ở Việt Nam theo đối tượng (FAO, 2008)
Sản lượng khai thác của 10 tỉnh ven biển vịnh Bắc Bộ từ Quảng Ninh đến Quảng
Trị chiếm 15,4% tổng sản lượng khai thác hải sản của cả nước. Các tỉnh miền Trung từ
Thừa Thiên - Huế đến Ninh Thuận gồm 8 tỉnh chiếm 24,4% sản lượng khai thác hải sản
của cả nước. Các tỉnh miền Đông Nam Bộ, trong đó Bà Rịa Vũng Tàu đứng thứ nhì và
Bình Thuận chiếm vị trí thứ 3 về sản lượng khai thác hải sản của cả nước; Tuy chỉ có 3
tỉnh nhưng chiếm tới 20,9% sản lượng cả nước. Các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long
chiếm tới 39,3% sản lượng của cả nước; Chỉ riêng sản lượng của tỉnh Kiên Giang đã
lớn hơn tổng sản lượng của 10 tỉnh Bắc Bộ. Nếu gộp cả Đông và Tây Nam bộ sản
lượng chiếm 60% sản lượng khai thác hải sản của cả nước.
Hiện tại nước ta chưa tổ chức điều tra cũng như chưa thống kê sản lượng theo 2
vùng biển gần bờ và xa bờ theo ranh giới dựa theo Nghị định 123/2006/NĐ-CP nên

cho thành viên trên tàu 2.808 đồng/kg.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này giá nhiên liệu trong nước tăng liên tục theo giá
dầu thế giới. Lần đầu tiên tăng giá ngày 19/6/2004 giá dầu diezen tăng từ 4.650 đồng/lít
lên 4850 đồng/lít. Tiếp theo là các lần tăng giá vào các ngày 29/3/2005, ngày 3/7/2005,
ngày 17/8/2005 đến ngày 27/4/2006 giá dầu diezen đã lên đến 7.900đ/lít và ngày
22/11/2007 đã tăng 8.500 đồng/lít; đến ngày 25/2/2008 giá dầu diezen tăng lên 13.950
đồng/lít; đã làm tăng tỷ trọng chi phí giá thành khai thác hải sản xa bờ khoảng 45-60%,
nghề câu khơi khoảng 22-30%, nghề chài chụp khoảng 37-40%.

14,738
28,687
13,901
8,873
14,912
6,566
-
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
35,000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Value of capture fisheries (Billion VND)
Selling price (VND/kg)
Cost price (VND/kg)

Figure 4: Diễn biến giá trị, giá bán và giá thành sản lượng khai thác ở Việt Nam (Tổng cục
Thống kê, 2007)

phần làm tăng vị thế của nuôi trồng. Nước ta hiện đã chủ động con giống phục vụ phát
triển nuôi; sản xuất tôm giống đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá với sản lượng
khoảng 30 tỷ con giống hàng năm, nhiều đối tượng khác đã thành công trong sản xuất
nhân tạo.
Đối tượng nuôi cũng đa dạng, nhưng tôm sú vẫn là đối tượng nuôi chủ đạo đối
với các loài nuôi mặn, lợ; cá tra là đối tượng xuất khẩu chính đối với nhóm loài thủy
sản nước ngọt. Công tác quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh đã có chuyển
biến ở các vùng nuôi. Các Trung tâm môi trường đã thực hiện khảo sát, phân tích dự
báo và cảnh báo môi trường ở các vùng nuôi trọng điểm, đã giúp ngư dân và người nuôi
chọn thời điểm thả giống tốt, kịp thời xử lý môi trường nước, hạn chế dịch bệnh phát
sinh.

4.1. Diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng
Vào hững năm 1990-2007 luôn có sự tăng trưởng cả về diện tích, sản lượng nuôi
trồng thuỷ sản. Trong giai đoạn 1990-1994 diện tích nuôi trồng luôn cao hơn so với sản
lượng nuôi. Nhưng giai đoạn 1995-2001giữa diện tích và sản lượng không có sự khác
biệt nhau. Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay sản lượng nuôi trồng đã vượt quá diện tích
nuôi. Trong khi đó năng suất nuôi có chiều hướng giảm từ năm 1990-1994; giai đoạn
1995-2001 năng xuất nuôi không tăng; giai đoạn từ 2002 đến nay năng suất nuôi luôn
tăng cao.
• Diện tích có khả năng: nước ta có một lợi thế rất lớn về điều kiện tự nhiên, môi
trường và vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản; được xem là vùng
có lợi thế cạnh tránh lớn trong khu vực và thế giới. Tổng diện tích có khả năng phát
triển NTTS của toàn quốc là 2.057.250 ha, trong đó nước mặn, lợ khoảng 1.000.000 ha
và nước ngọt 1.057.250 ha.
• Về diện tích nuôi: Nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta ngày càng được phát triển
mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu là mục tiêu để phát triển.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2007 tăng thêm gấp 2,0 lần so với năm 1990 và đạt
tốc độ tăng bình quân năm 4,07%/năm (toàn giai đoạn 1990-2007), đưa tổng diện tích
nuôi trồng thuỷ sản của cả nước đạt khoảng 1.008 nghìn ha (kể cả diện tích nuôi thuỷ

2002
2003
2004
2005
2006
2007
Aquaculture areas (1000 ha)
Production Aquaculture (1000 tons)
Productivity of Aquaculture (kg/ha)

Figure 5: Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam (FAO, 2008)

-
500,000
1,000,000
1,500,000
2,000,000
2,500,000
3,000,000
3,500,000
4,000,000
1950
1952
1954
1956
1958
1960
1962
1964
1966


Figure 6: Sản lượng nuôi trồng theo đối tượng ở Việt Nam (FAO, 2008)
• Về nuôi lồng: Hiện nay chủ yếu được nuôi theo 3 kiểu lồng chính đang được sử
dụng nuôi phổ biến ở nước ta gồm lồng nuôi trên biển và nuôi lồng trên các hồ chứa và
lồng trên sông. Đến năm 2007, trên toàn quốc có khoảng 83.446 lồng nuôi các loại,
trong đó lồng nuôi biển khoảng 55.972 lồng và 27.474 lồng nuôi nước ngọt. Đối với
lồng nuôi biển chủ yếu ở Phú Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hoà và Bà Rịa-
Vũng tàu; đối với nuôi lồng trên sông chủ yếu tập trung ở vùng ĐBSCL và nuôi trên
các hồ chứa rải rác ở các tỉnh miền núi.
• Về Sản lượng nuôi: Sản lượng thuỷ sản nuôi ở nước ta ngày càng tăng từ 0,723
triệu tấn năm 2000 lên đến 2,1 triệu tấn năm 2007, tăng gấp 3,4 lần và đưa tốc độ tăng
trưởng về sản lượng bình quân năm 14,3%/năm. Trong đó tôm mặn lợ (chủ yếu tôm sú) 14

0,37 triệu tấn, cá tra 1,1 triệu tấn. Vùng ĐBSCL luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu
sản lượng nuôi của toàn quốc (chiếm 68%).
• Năng suất nuôi trồng thuỷ sản:
Mức độ tăng năng suất nuôi từ năm 1990-2007 là 3,3 lần và đưa tốc độ tăng bình
quân năm 6,82%/năm, trong đó năng suât nuôi cao ở những năm 2002 đến nay. Trong
đó năng suất nuôi bình quân năm 1990 chỉ đạt 630 kg/ha/năm và đến năm 2007 đạt
2.069 kg/ha, trong đó nuôi nước ngọt khoảng 2,84 tấn/ha, nuôi mặn lợ khoảng 0,96
tấn/ha. Nguyên nhân sự tăng trưởng mạnh về năng suất nuôi ở những năm 2002 đến nay
là do đẩy mạnh phong trào nuôi cá tra ao hầm cho ở Đồng bằng sông Cửu Long;
phương thức nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá rô phi cũng chuyển dần từ nuôi quảng
canh cải tiến sang nuôi bán thâm canh, thâm canh; nuôi nhuyễn thể từ nuôi quảng canh
tự nhiên sang nuôi quảng canh cải tiến có bổ sung con giống và quảng lý chăm sóc.
Vùng có năng suất nuôi trung bình cao nhất vẫn là ĐBSCL đạt bình quân 5,7
tấn/ha (đặc biệt trong nuôi cá tra bãi bồi đạt năng suất bình quân 100 tấn/ha/năm, cá biệt

canh 47.400 đồng/kg, tôm quảng canh cải tiến 51.300 đồng/kg), tôm thẻ chân trắng 45-
50.000 đồng/kg. Đối với ngao biển giá thành luôn chiếm 40-55% giá trị, tức luôn ở mức
6.000-7.000 đồng/kg. 15
• Giá bán sản phẩm:
Nhìn chung giá bán sản phẩm từ nuôi trồng ở nước ta có chiều hướng tăng theo
thời gian, nhưng với mức độ không cao (4,39%/năm) và thấp hơn giá thành
(8,11%/năm). Năm 2000 giá bán bình quân cho tất cả các đối tượng được nuôi ở Việt
Nam 19.948 đồng/kg và đến năm 2007 đạt 28.130 đồng/ha. Nguyên nhân của việc tăng
giá bán sản phẩm chủ yếu do sự biến động với chiều hướng tăng cao chung của nền
kinh tế thế giới và sự lạm phát trong nước.
Nhìn chung, giá cá tra bình quân hàng năm biến động từ 9.000-9.500 đồng/kg
(năm 2005) đến 15.000 – 15.500 đồng/kg (năm 2007). Trong 4 tháng đầu năm 2008, giá
cá tra bình quân 14.000-14.500 đồng/kg, giá cá thịt trắng cao hơn cá thịt vàng khoảng
1.000đ/kg.

11,761
58,659
28,130
19,948
24,192
12,966
-
10,000
20,000

16

nhuận cao, nó đã tạo ra một động lực mạnh cuốn theo sự phát triển của các lĩnh vực
khác của ngành thủy sản.
Kim ngạch xuất khẩu từ các mặt hàng thuỷ sản ở nước ta ngày càng tăng, từ 0,21
tỷ USD năm 1990 lên đến 3,8 tỷ USD năm 2007 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
năm về xuất khẩu 18,74%/năm. Trong khi đó tốc độ tăng sản lượng thuỷ sản của ngành
đạt bình quân năm 8,61%/năm, có nghĩa giá trị xuất khẩu luôn tăng hơn 2,1 lần so với
sản lượng. Điều này cho thấy, xu hướng sử dụng các sản phẩm từ nuôi, khai thác cho
chế biến xuất khẩu ngày càng được chú trọng; đã chuyển đổi dần các đối tượng có giá
trị kinh tế thấp sang các đối tượng có giá trị xuất khẩu.
Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển nhanh và có thể coi là động lực cho
tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác và nuôi trồng thủy sản. Chất lượng và
tính cạnh tranh được cải thiện không ngừng, tạo được uy tín trên thị trường thế giới.
Đến nay, cả nước đã có 439 nhà máy với tổng công suất 4.262 tấn/ngày, chuyển sang
sản xuất các mặt hàng thuỷ sản cao cấp bằng các dây chuyền tiến tiến. Hàng thuỷ sản đã
xuất khẩu sang trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ động trong các thị trường chủ
yếu là Hoa Kỳ, RU, Nhật Bản và Trung Quốc.Về an toàn vệ sinh thực phẩm hiện có
171 doanh nghiệp nằm trong danh sách 1 vào thị trường EU, Nhật Bản, 300 doanh
nghiệp đủ điều kiện vào Hoa Kỳ, 295 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn vào Trung Quốc và
251 doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh đối với thị trường Hàng Quốc.
Bên cạnh đó, xuất hiện nhiều mặt hàng nội địa trên các chợ đầu mối, các nhà hàng,
khách sạn và siêu thị.
Tình hình nhập nguyên liệu thủy sản để tái xuất: Việt Nam hiện đang nhập khẩu
thủy sản từ 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch nhập khẩu khoảng từ 90-100
triệu USD/năm, tương đương từ 4 đến 5% kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Thị trường
cung cấp thuỷ sản chính cho Việt Nam là các nước châu Á như Ấn Ðộ (chiếm 26%),
Trung Quốc (18%), Nhật Bản (11%), Hongkong (9%), ASEAN (18%), Ðài Loan
(6%) Các mặt hàng thủy sản nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là tôm đông lạnh, cá
đông lạnh, trong đó, tôm đông lạnh chiếm trên 70%, cá đông lạnh chiếm 10-16%, còn

1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
-
1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00
7.00
Total of Export Quantity of fishes (tons)
Total Export Value of fishes (1000 USD)
Selling price (USD/kg)



Figure 9
: cơ cấu tổ chức của Bộ Thuỷ sản theo Nghị định 43/2003/NĐ-CP

V
ụ Kế hoạch

Tài chính

V
ụ Pháp chế

C
ục Khai thác &
V
ụ Tổ chức cán bộ

V
ụ Hợp tác quốc tế

Vi

ỷ sản

T
ạp chí Thuỷ sản

Trung tâm khuy
ến ng
ư

V
ụ Nuôi trồng thuỷ sản

UBND Tỉnh

Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ Thuỷ sản
Thanh tra B


C
ục Quản lý CL, AT, VS ,
V
ă
n phòng B


Chi c
ục quản lý CL, AT,
VS, TY TS

Chi c

chế phẩm sinh học cho NTTS, các chính sách về chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng
trong sản xuất nông-lâm-ngư có liên quan đến NTTS, các chính sách về vốn, tín dụng
và đầu tư cho NTTS.
Nhìn chung các chính sách này đều có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng
của NTTS, đặc biệt là lĩnh vực nuôi nước lợ, nhằm mục đích tăng hiệu quả kinh tế từ
NTTS, tạo nguyên liệu sạch, an toàn cho chế biến xuất khẩu, tăng cường sự đóng góp
của NTTS vào tổng thu nhập của ngành thuỷ sản cũng như nền kinh tế quốc dân. Về
vấn đề tạo công ăn, việc làm và xoá đói giảm nghèo, mặc dù các chính sách này không
đề cập một cách trực tiếp nhưng các chính sách này khi được thực thi có hiệu quả thì
đều có tác dụng tăng hiệu quả sản xuất của các hoạt động sản xuất và kinh doanh thuỷ
sản, nên tạo điều kiện cho người nuôi mở rộng các mô hình sản xuất và tạo thêm việc
làm cho người lao động ăn theo, gián tiếp góp phần vào xoá đói giảm nghèo. Như vậy,
đã đề cập gián tiếp đến công tác tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo cho các vùng nông
thôn.
• Các chính sách về việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng các hoá chất, thuốc
kháng sinh và chế phẩm sinh học cho NTTS:
Chỉ thị số 07/2001/CT-BTS của Bộ trưởng Bộ thủy sản ngày 24 tháng 9 năm
2001 (cấm sử dụng chloramphenicol và quản lý việc dùng hóa chất, thuốc thú y trong
sản xuất thủy sản); Quyết định 18/2002/QĐ-BTS ngày 03/6/2002 của Bộ trưởng Bộ
thủy sản (ban hành Quy chế khảo nghiệm giống thủy sản, thức ăn, thuốc, hóa chất và
chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản); Quyết định 15/2002/QĐ-BTS ngày
17/5/2002 (ban hành Quy chế kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong động vật và
sản phẩm động vật thủy sản nuôi), Quyết định 640/1999/QĐ-BTS của Bộ trưởng Bộ
thủy sản (ban hành Quy chế kiểm soát an toàn vệ sinh trong thu hoạch nhuyễn thể hai
mảnh vỏ).
Các quyết định này về cơ bản đã thể hiện và đề cập được tính cấp thiết của công
tác quản lý việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm này trong NTTS. Hiện nay, khi
phong trào phát triển NTTS được mở rộng, diện tích nuôi thuỷ sản không ngừng tăng
lên, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ, đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực
sản xuất kinh doanh các dịch vụ về hoá chất cho NTTS, các sản phẩm sản xuất trong

án khuyến khích phát triển giống thuỷ sản do ngân sách nhà nước bảo đảm.
• Vấn đề về kinh doanh và xuất nhập khẩu thuỷ sản:
Các chính sách có liên quan là Nghị định 86/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày
16 tháng 11 năm 2001 (điều kiện kinh doanh các ngành nghề thủy sản); Quyết định
344/2001/QĐ-BTS của Bộ trưởng Bộ thủy sản (quản lý xuất nhập khẩu hàng thủy sản
chuyên ngành năm 2001-2005); Quyết định 649/2000/QĐ-BTS ngày 04/8/2000 (ban
hành Quy chế kiểm tra và công nhận cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thay thế Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số
01/2000/QĐ-BTS ngày 03/1/2000); Thông tư số 03/2000/TT-BTS ngày 22/9/2000 của
Bộ Thủy sản hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ngày 30 tháng 8 năm 1999 (ban hành Quy chế nhãn hàng hóa lưu thông trong nước
và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hóa thủy sản); Quyết định
251/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 1998 (phê duyệt
chương trình xuất khẩu thủy sản đến năm 2005).
Các chính sách này đã đề cập đến việc kinh doanh các dịch vụ phụ trợ cho NTTS
như giống, thức ăn, hoá chất và kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm thuỷ sản,
nhằm mục tiêu thúc đẩy việc chế biến và tiêu thụ tốt các sản phẩm thuỷ sản, đảm bảo
đầu ra và hiệu quả cho các hoạt động sản xuất. Đặc biệt, Quyết định 251/1998/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 1998 đã phê duyệt Chương trình xuất
khẩu thủy sản đến năm 2005, nhằm mục đích thúc đẩy lĩnh vực xuất khẩu thuỷ sản,
tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản và đưa kinh tế thuỷ sản phát triển thành ngành mũi
nhọn trong nền kinh tế đất nước.
• Vấn đề về quy hoạch phát triển NTTS và chuyển dịch cơ cấu, vật nuôi cây
trồng trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, trong đó có liên quan đến NTTS:
Nghị Quyết 09/2000/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 về Một số chủ trương và
chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Thông tư số 91/2000/TT-BTC ngày 06 tháng 9 năm 2000 về Hướng dẫn thực
hiện Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về miễn thuế GTGT và thuế TNDN trên khâu lưu
thông để khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Quyết định 150/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 về Phê duyệt quy

phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn).

6.2.2. Chính sách khuyến ngư
Quyết định 18/2003/QĐ-BTS ngày 05/8/2003 về việc Quy định chức năng,
nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia
Nghị định 56/2005/NĐ-CP ngày 26/4/2005 về Khuyến nông, khuyến ngư.
Thông tư 60/2005/TT-BNN ngày10/10/2005 về Hướng dẫn Nghị định 56.
Thông tư 01/2005/TTLT-BTS-BNV ngày 03/2/2005 về Hướng dẫn chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về thuỷ sản.
Thông tư liên tịch 30/2006/TTLT-BTC-BNN&PTNT-BTS ngày 06 tháng 4 năm
2006 về Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt
động khuyến nông, khuyến ngư

6.2.3. Chính sách quản lý sự phát triển khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
• Chính sách hỗ trợ giảm bớt khó khăn trong khai thác hải sản
Thực hiện các Quyết định số 289/QÐ-TTg ngày 18-3-2008 và Quyết định số
965/QÐ-TTg ngày 21-7-2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ nhằm giảm bớt
khó khăn cho ngư dân trong khai thác thủy sản. Ngay sau khi có Quyết định số
289/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 6-5-2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã ban hành Quyết định số 1381/2008-BNN-KTBVNL về việc quy định tiêu
chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật với tàu cá được hỗ trợ theo Quyết định 289 của Thủ
tướng Chính phủ, đồng thời phối hợp Bộ Tài chính xây dựng, ban hành Thông tư số 22

35/2008/TT-BTC về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 289 của Thủ tướng Chính
phủ. Cuối tháng 7, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 71/2008/TT-BTC hướng dẫn
thực hiện Quyết định 965/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

7. Tài liệu tham khảo chính
1)
Nguyễn Chu Hồi và Cao Lệ Quyên, 2005
. Rapid overview on the nature and
distribution of benefits from fresh-water aquaculture in the Red River Delta in
Viet Nam. Technical report, WorldFish Center.
2)
Bộ Thuỷ sản, 2006.
Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện chương trình phát triển
NTTS giai đoạn 2000-2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010.
3)
FAO, 2008.
The state of the World Fisheries and Aquaculture 2006
4)
FAO, 2008
. Aquaculture Production Statistics.
5)
FAO, 2008
. Aquaculture Trade Statistics
6)
FAO, 2008
. Aquaculture Value Statistics
7)
Lê Thanh Lựu, 2006
. Xu thế phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới và Việt
Nam những vấn đề cần quan tâm. Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1.
8)
Hồ Công Hường, 2006
. Hiện trạng nuôi biển và một số vấn đề trong quy hoạch
phát triển ở Việt Nam. Hội Nghị về nuôi biển toàn Quốc, Hạ Long 9-10/2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status