LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hiện nay, theo định hướng của Đảng và Nhà nước,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa được đánh giá là một trong những động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế và được ưu tiên khuyến khích phát triển. Do
đặc điểm riêng của loại hình này là hầu hết các doanh nghiệp có quy mô
nhỏ nhưng hiện tại vướng mắc lớn nhất mà các doanh nghiệp này gặp phải
chính là tạo được nguồn vốn để tái sản xuất kinh doanh. Đứng trước nhu
cầu đó ngân hàng thương mại đóng vai trò đáng kể cho sự phát triển và
hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt khác các Doanh nghiệp
nhỏ và vừa là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng sẽ mang lại nhiều
lợi nhuận cho các ngân hàng. Do đó trong thời gian tới các ngân hàng cần
phát triển và mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc
mở rộng cho vay này sẽ đem lại lợi ích cho cả hai phía ngân hàng và
doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Do đó Em đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển cho vay đối với
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi
nhánh Nam Hà Nội ” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Bố cục của đề tài: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo gồm có 3 chương
Chương I: Tổng quan về cho vay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương II: Thực trạng cho vay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân
hàng Đầu tư và phát triền chi nhánh Nam Hà Nội
Chương III: Giải pháp phát triển cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Nam Hà Nội
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo
ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Nam Hà Nội, cảm ơn
1
các anh chị phòng Tín dụng, phòng thẩm định, phòng kế hoạch nguồn
vốn, phòng dịch vụ, phòng kế toán và nhất là người hướng dẫn em Th.s
Nguyễn Văn Thái đã giúp em hoàn thành chuyên đề này. Em rất mong
nhận được những góp ý nhận xét để chuyên đề này được hoàn thiện hơn.
ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. Doanh nghiệp nhỏ và
vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để
lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Ngoài ra còn là trụ cột quan trọng của kinh tế địa phương. Nếu như
doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất
nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là
người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công
ăn việc làm ở địa phương
Mỗi một quan điểm sẽ nhìn nhận các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
dưới những giác độ khác nhau nhưng tóm lại: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa
là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người.”
Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký
kinh doanh và thoả mãn hai tiêu thức trên đều được coi là Doanh Nghiệp
nhỏ và vừa. Theo cách phân chia này, số Doanh Nghiệp nhỏ và vừa chiếm
khoảng 97% tổng số doanh nghiệp trong cả nước.
1.1.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Quy mô hoạt động nhỏ bé.
Phần lớn các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ bé. Do quy
mô nhỏ dẫn tới nguồn vốn cũng hạn hẹp, kéo theo những khó khăn về mặt
sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và năng lực quản lý hạn chế,
thiếu thông tin gây nhiều yếu kém trong sản xuất, trong đó thiếu vốn là
đặc điểm nổi bật.
- Sức cạnh tranh thấp.
Là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tư cho hoạt động
4
sản xuất kinh doanh còn ít làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp
nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm như sản lượng chưa
cao, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ còn yếu, do đó không mở rộng
thống doanh nghiệp Nhà Nước hiện đang trong quá trình cải cách, không
tạo thêm được nhiều việc làm mới, khu vực hành chính Nhà Nước đang
giảm biên chế và tuyển dụng mới không nhiều. Do đó, khu vực kinh tế tư
nhân mà đại bộ phận là các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa là nơi thu hút, tạo
việc làm mới cho xã hội.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng hầu hết các nhu cầu tiêu dùng xã
hội. Do hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh Nghiệp nhỏ và vừa
bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế nên có khả năng đáp ứng được mọi
nhu cầu của xã hội điều mà các doanh nghiệp lớn không làm được.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa tạo nên hệ thống phân phối sản phẩm
hiệu quả. Đặc điểm của Doanh Nghiệp nhỏ và vừa đem lại cho họ lợi thế
trong dịch vụ bán lẻ.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa góp phần to lớn trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đất nước, thúc đẩy sự phát triển của
các ngành thương mại, làm tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, thu hẹp dần tỷ
trọng của ngành nông nghiệp trong nên kinh tế quốc dân.
Doanh Nghiệp nhỏ và vừa là môi trường đào tạo, bồi dưỡng, rèn
luyện trong thực tế đội ngũ doanh nhân mới có trình độ, thích ứng với cơ
chế thị trường.
6
1.2.CHO VAY ĐỐI VỚI DN NHỎ VÀ VỪA TẠI NHTM
1.2.1. Hình thức cho vay:
Hình thức cho vay phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của doanh
nghiệp với ngân hàng. Căn cứ vào một số tiêu thức sau để phân chia các
loại hình cho vay:
1.2.1.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng
bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã
được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
Có thể chia các loại hình cho vay theo thời gian như sau:
1.2.1.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay.
Các khoản vay vốn thường xác định cho một mục đích nhất định
tuỳ thuộc vào từng điều kiện sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp,
cá nhân. Thông thường các ngân hàng thường chia thành các khoản vay
theo các mục đích sau:
- Cho vay bất động sản: là hình thức cho vay để tài trợ cho việc mua
các tài sản như nhà cửa, căn hộ, trung tâm mua bán, khu văn phòng, nhà
kho và các cơ sở vật chất khác hay đất đai, bất động sản trong lĩnh vực
công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là hình thức cho vay vốn
kinh doanh cho các doanh nghiệp từ ngắn hạn đến dài hạn trong lĩnh vực
công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay các định chế tài chính: là hình thức cho vay cấp tín dụng
cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty
bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế khác…
- Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng như mua nhà cửa, đất đai, các vật dụng đắt tiền như xe máy, ôtô…
cho đối tượng khách hàng chủ yếu là cá nhân và hộ gia đình. Hình thức
cho vay này chủ yếu là cho vay trả góp, cho vay theo sổ tiết kiệm…
- Cho thuê: có hai hình thức là cho thuê tài chính và cho thuê vận
hành.
8
+ Cho thuê vận hành đáp ứng nhu cầu trong thời gian ngắn, người
đi thuê không có dự định mua tài sản đó để sử dụng lâu dài.
+ Cho thuê tài chính đáp ứng nhu cầu trong thời gian dài và người
đi thuê có quyền mua lại tài sản khi hợp đồng thuê kết thúc.
Hoạt động cho thuê phổ biến là cho thuê tài chính.
1.2.1.3 Căn cứ vào tài sản đảm bảo.
Tài sản đảm bảo thường là một trong những yêu cầu bắt buộc của
ngân hàng đối với khách hàng khi quyết định cấp tín dụng cho đối tượng
nhiên cũng phải phòng ngừa rủi ro đạo đức từ phía khách hàng vì vậy
những khoản cho vay này cần có hạn mức.
Các căn cứ trên chỉ mang tính tương đối nhưng việc phân chia là rất
quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng và hoạt đông cho vay. Nhờ đó
mà các ngân hàng có thể dễ ràng kiểm soát hoạt động cho vay của mình.
Các đối tượng vay vốn được quản lý chặt chẽ theo từng đối tượng và thời
hạn. Giúp các ngân hàng có những chính sách, những cơ sở để đưa ra
những chính sách thích hợp. Cùng với việc phân chia các loại cho vay
ngân hàng dễ dàng lấy được số liệu dư nợ của từng khách hàng để quản lý
khách hàng và đảm bảo tổng dư nợ luôn trong khả năng cho phép của
ngân hàng, đảm bảo các tỷ lệ an toàn của ngân hàng.
1.2.2. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHO VAY DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA
Hiệu quả cho vay là kết quả của một quá trình dưới sự kết hợp hoạt
động giữa những con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau
vì mục tiêu chung, phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng với sự thay
10
đổi của môi trường bên ngoài. Vì vậy, nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố.
1.2.2.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng.
- Chính sách tín dụng: mỗi ngân hàng có một chính sách tín dụng
riêng, bao gồm các chính sách đối với khách hàng, giới hạn cho vay, lãi
suất cho vay, mức lệ phí… Một chính sách linh hoạt, cụ thể và cập nhật sẽ
thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng . Việc thiết lập kế
hoạch kinh doanh dài hạn ổn định, chủ động là mục tiêu mà rất nhiều ngân
hàng đang hướng tới.
- Quy trình nghiệp vụ tín dụng: quy trình cho vay là những kỹ thuật
nghiệp vụ cơ bản, các bước phải tiến hành từ khi bắt đầu tới khi kết thúc
một món vay, khâu thẩm định đóng vai trò quan trọng nhất bởi vì nó sẽ
quyết định trực tiếp tới hiệu quả của món vay. Tuy thế, không nên tiến
Doanh nghiệp muốn vay vốn tại ngân hàng cần phải trình phương
án sản xuất kinh doanh của mình. Ngân hàng sẽ tiến hành phân tích
phương án của doanh nghiệp và chỉ khi quá trình phân tích cho thấy
phương án hiệu quả thì ngân hàng mới chấp nhận cho vay và tiến hành
giải ngân vốn cho doanh nghiệp đó.
Một phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện đảm
bảo chứng minh cho khả năng hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng của
doanh nghiệp. Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân
hàng.
* Triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp đang trên đà phát triển, hoạt động có hiệu quả,
sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, có tiềm năng trong tương
12
lai…là những thông tinh cần thiết phải phân tích, đánh giá để ngân hàng
quyết định cho vay. Một doanh nghiệp có tiềm năng sẽ là một khách hàng
tiềm năng cho chính ngân hàng trong tương lai. Tuy nhiên, để đánh giá
được tiềm năng của mỗi doanh nghiệp là chuyện không đơn giản, cần có
sự nghiên cứu phân tích, theo dõi và đánh giá kỹ càng bởi những người có
trình độ.
* Tài sản đảm bảo của doanh nghiệp.
Cho vay đối với Doanh Nghiệp nhỏ và vừa thường có độ rủi ro cao
nên ngân hàng thường bắt buộc họ phải có tài sản bảo đảm. Đây chính là
nguồn thu nợ cho ngân hàng khi doanh nghiệp gặp những biến cố không
có khả năng trả nợ.
* Đạo đức và uy tín của khách hàng.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, giữ được chữ tín là vô cùng
quan trọng, đây là cơ sở để tạo lập các mối quan hệ làm ăn lâu dài. Một
doanh nghiệp làm ăn có uy tín, trả nợ sòng phẳng thì luôn được ngân hàng
ưu đãi hơn trong mọi điều kiện cho vay.
Những trường hợp doanh nghiệp không sử dụng vốn hoặc sử dụng
hợp pháp và cạnh tranh bình đẳng. Từ đó nâng cao hiệu quả cho vay cuả
các ngân hàng.
* Môi trường kinh tế.
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh
các dịch vụ liên quan đến tiền, có quan hệ với tất cả các loại hình doanh
nghiệp hoạt động trên mọi lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế. Chính vì
vậy, môi trường kinh tế ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả cho vay của
ngân hàng. Nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng huy
14
động được nguồn vốn với giá rẻ, từ đó tăng khả năng mở rộng cho vay
nhất là tiếp cận với những đối tượng khách hàng mới như các Doanh
Nghiệp nhỏ và vừa. Doanh số cho vay tăng, kèm theo đó là lợi nhuận, uy
tín và sức cạnh tranh của ngân hàng cũng tăng lên. Nhiều khách hàng có
nhu cầu vay vốn, có triển vọng tín dụng tốt sẽ tìm đến với ngân hàng.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, không chỉ ngân hàng gặp khó khăn
trong công tác huy động và sử dụng vốn mà bản thân những khách hàng
cũng có thể làm ăn thua lỗ dẫn tới không hể trả nợ được ngân hàng.
15
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHO VAY CÁC DN NHỎ VÀ VỪA
TẠI BIDV NAM HÀ NỘI
2.1.VÀI NÉT VỀ BIDV NAM HÀ NỘI
2.1.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Tên đầy đủ: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Nam Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development of
Vietnam – Nam Ha Noi Branch
Tên viết tắt: BIDV Nam Hà Nội
Địa chỉ: số 1281 Đường Giải phóng - Quận Hoàng Mai, Hà Nội
Điện thoại: 04 8617042
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Nam Hà Nội: Ngày
1/11/2005, chi nhánh cấp 2 Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh
Thanh Trì đã được nâng cấp lên thành Chi nhánh cấp 1 Ngân hàng Đầu tư
và phát triển chi nhánh Nam Hà Nội. Hệ thống cơ sở vật chất được nâng
cấp, công nghệ mới được áp dụng cùng sự mở rộng về nhân lực (Tháng 11
năm 2007 đã có 93 nhân viên) nhằm giúp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam.
Cơ cấu tổ chức.
Mô hình tổ chức chi nhánh bao gồm có 4 khối: khối kinh doanh,
khối quản lý rủi ro, khối tác nghiệp, khối hỗ trợ và các phòng giao dịch
dưới sự quản lý và giám sát của ban giám đốc. Trong mỗi khối có các
17
phòng ban nhỏ hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ đã được qui định
trong quy chế hoạt động của ngân hàng như bao gồm:
• Phòng tín dụng
• Phòng thẩm định
• Phòng quản lý rủi ro
• Phòng kế toán giao dịch
• Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
• Phòng tiền tệ kho quỹ
• Phòng tổ chức hành chính
• Phòng thông tin điện toán
• Phòng tổng hợp
• Phòng tài trợ thương mại
• Phòng Kiểm tra nội bộ
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Nam Hà Nội
Trong những năm vừa qua, được sự chỉ đạo của Hội đồng quản trị,
của Ban lãnh đạo NHĐT&PTVN, sự hợp tác chặt chẽ của các bạn hàng và
sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ công nhân viên, BIDV Nam Hà Nội đã
đạt được những kết quả khả quan. BIDV Nam Hà Nội cũng giống như các
+ Tiết kiệm 240.457 220.880 216.842 -5,16 -0,92
+ Kỳ phiếu 168.826 204.591 230.878 15,52 6,04
+ Trái phiếu 107.242 347.270 449.527 61,47 12,83
3. Huy động khác 470.793 85.906 113.084 -61,26 13,66
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Nam Hà Nội)
Bảng 2: Kết quả huy động vốn tính đến hết quý III/2007
Đơn vị: triệu đồng.
19
(Nguồn: Phòng kế hoạch nguồn vốn )
Tính đến hết ngày 31/09/2007 (Quý III) đạt được 759.952 triệu
đồng, tăng 12,65% so với Quý II năm 2007 (589.222 triệu đồng), tăng
15% so với Quý I năm 2007 (561.263 triệu đồng).
* Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế:
Bước vào năm 2007, trước những thuận lợi cũng như những khó
khăn và thách thức của nền kinh tế trong và ngoài nước, BIDV Nam Hà
Nội vẫn giữ vững được vị thế của mình trên địa bàn Hà Nội trong công tác
huy động vốn. Mặc dù BIDV Nam Hà Nội phải đứng trước sự cạnh tranh
gay gắt từ các TCTD khác trên cùng địa bàn nhưng nguồn tiền gửi của các
TCKT tăng trưởng qua các năm, năm 2006 đạt 440.758 triệu đồng, tăng
8,65% so với năm 2005; tăng 22,78% so với năm 2004. Trong đó nguồn
tiền gửi không kỳ hạn của TCKT năm 2006 đạt 71.266 triệu đồng, giảm
6,53% so với năm 2005, tăng 12,31% so với năm 2004. Nguồn vốn huy
động từ nguồn tiền gửi có kỳ hạn của TCKT cũng tăng qua các năm, năm
2006 đạt 336.526 triệu đồng, tăng thêm 20,6 % so với năm 2004 và tăng
11,23% so với năm 2005. Có được kết quả này là do BIDV Nam Hà Nội
đã có những chủ trương kinh doanh hợp lý trong công tác thu hút khách
hàng, mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn cùng với việc triển
khai nhiều hình thức huy động vốn như chính sách lãi suất, chế độ ưu đãi
lãi suất đối với các khách hàng,… Cơ chế điều hành vốn được tập trung
hoá toàn ngành, việc quản lý tài sản Nợ – Có được xem xét và thực hiện
để đề phòng sự mất giá của đồng tiền. Bên cạnh đó, đời sống của người
dân ngày càng được cải thiện, do đó nhu cầu mua sắm và xây dựng của
người dân ngày càng tăng và chưa có xu hướng chậm lại. Sự biến động
của các thị trường trong và ngoài nước cũng là một trong những nguyên
nhân; như thị trường nhà đất, thị trường lãi suất trên thị trường tiền tệ nói
chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng,…
Trong 3 năm gần đây, tiền gửi tiết kiệm của dân cư tại BIDV Nam
Hà Nội hầu như không có sự tăng trưởng nào đáng kể. Năm 2006, tiền gửi
21
tiết kiệm của dân cư đạt 216.842 triệu đồng, giảm 0,92% so với năm 2005
và giảm 5.16% so với năm 2004.
Mặc dù BIDV Nam Hà Nội đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao
khối lượng huy động tiền gửi từ các khoản tiết kiệm, như các chế độ ưu
đãi về lãi suất đối với các khách hàng, các phương thức trả lãi thoả thuận,
tích cực triển khai các sản phẩm mới theo chỉ đạo của Hội sở chính: Tiết
kiệm dự thưởng với quy mô giải thưởng rất lớn và hấp dẫn, tiết kiệm gửi
góp,… Mặc dù vậy vẫn không có sự thay đổi lớn, người dân chủ yếu
chuyển từ tài khoản tiết kiệm thông thường sang tiết kiệm dự thưởng,
không có thêm được nhiều khách hàng, do vậy vốn huy động từ các khoản
tiền tiết kiệm của dân cư hầu như không thay đổi, không có sự tăng trưởng
nào đáng kể, một phần cũng do các nguyên nhân đã trình bày ở trên.
Trong 02 năm 2005 và 2006, NHĐT&PTVN đã tiến hành việc phát
hành các đợt chứng chỉ tiền gửi (CDs) với mục đích nhằm huy động thêm
vốn để nâng cao năng lực tài chính, kích thích khả năng cạnh tranh trên thị
trường Ngân hàng trong nước, hướng đến mục tiêu là đích đến của nhiều
khoản đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới.
2.1.2.2. Công tác tín dụng:
Đến tháng 12/2006, các chỉ tiêu tín dụng của BIDV Nam Hà Nội đã đạt
được như sau:
22
năm 2007 dư nợ tín dụng ngắn hạn là 529.947 triệu đồng, tăng 24% so với
Quý II năm 2007 .
Dư nợ tín dụng năm 2006 của BIDV Nam Hà Nội tiếp tục có sự
phục hồi tiếp theo năm 2005. Năm 2004, do tình hình kinh tế trong và
ngoài nước có nhiều biến động và diễn biến phức tạp nên nền kinh tế Việt
Nam không có nhiều chuyển biến tích cực, các khoản đầu tư ngắn, trung
và dài hạn giảm. Các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước không có được
môi trường đầu tư thuận lợi, do vậy các khoản cho vay ngắn, trung – dài
hạn đã giảm. Tuy vậy, hoạt động tín dụng đã được cải thiện đáng kể cả về
quy mô cũng như chất lượng trong 2 năm 2005 và 2006, chất lượng thẩm
định được nâng cao, các nghiệp vụ tín dụng được cải thiện đã góp phần
thu hút thêm được các khách hàng đến giao dịch.
- Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2006 đạt 224.458 triệu đồng chiếm
tỷ trọng 31,77% trong tổng dư nợ, tăng mạnh so với 2 năm 2004 và 2005
lần lượt là 339,6% và 120,8%. Trong năm 2006, BIDV Nam Hà Nội cũng
đã tiến hành giải ngân các khoản vay, bảo lãnh theo hợp đồng hạn mức đã
ký; đồng thời ký các hợp đồng hạn mức với Công ty CP Dược phẩm
Mediplantex, Công ty CP Cơ khí số 7,… BIDV Nam Hà Nội cũng xem
xét về đề nghị vay vốn ngắn hạn của các khách hàng, giải ngân, kiểm tra
mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng; thẩm định các dự án cho vay
đối với các công ty: Công ty TNHH Thương mại và Du lịch Tiến Vũ,
Công ty CP Vật tư Kỹ thuật và Vận tải ôtô, Công ty TNHH Minh Trường
Sinh, Công ty vận tải viễn dương Vinashin…; tiếp cận một số công ty mới
có nhu cầu vay vốn ngắn hạn. Nhu cầu vay vốn ngắn hạn bằng VNĐ vẫn
24
chiếm tỷ trọng cao trong cả nhu cầu.
- Dư nợ tín dụng trung – dài hạn của BIDV Nam Hà Nội năm 2006
giảm so với 2 năm 2004, 2005. Năm 2006, chỉ tiêu này chỉ đạt 68.156
triệu đồng, chiếm tỷ trọng 9,6% trong tổng dư nợ, giảm 59,03% so với
năm 2004 (đạt 264.566 triệu đồng) và giảm 3,63% so với năm 2005 (đạt