BÁO CÁO " HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁ Ở MỘT SỐ HỒ CHỨA NHỎ THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI VÀ BÌNH PHƯỚC " - Pdf 12


354

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁ Ở MỘT SỐ HỒ CHỨA NHỎ
THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI VÀ BÌNH PHƯỚC
FISH EXPLOITATION AT SOME SMALL RESERVOIRS
IN DONG NAI AND BINH PHUOC PROVINCES

Lâm Ngọc Châu
(1*)
, Nguyễn Phú Hòa
(1)
, Lê Thanh Hùng
(1)
, Vũ Cẩm Lương
(1)

(1)
Khoa Thủy Sản Trường ĐH Nông Lâm, Tp. Hồ Chí Minh

(*)
Email:

TÓM TẮT

Các hồ chứa nhỏ (diện tích <1.000 ha) thuộc tỉnh Đồng Nai và Bình Phước được xây dựng
ngoài chức năng chính là điều tiết thuỷ lợi thì việc tận dụng mặt nước để khai thác thuỷ sản
mặt nước ở các hồ chứa hồ chứa đã được tiến hành trong nhiều năm qua và cho thấy vai trò
quan trọng đóng góp vào việc phát triển sản lượng thuỷ sản, tạo công ăn việc làm và nâng cao
thu nhập cho những người tham gia khai thác cá hồ chứa. Nhằm đánh giá lại hiện trạng quản
lý khai thác ở các hồ chứa nhỏ, đề tài điều tra “Hiện trạng khai thác ở một số hồ chứa nhỏ

khác nhau như quản lý nhà nước, tư nhân, Hợp tác xã, Tổ nuôi cá cộng đồng…Nhằm đánh giá
hiện trạng khai thác thuỷ sản ở các hồ chứa nhỏ hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Phước,
chúng tôi thực hiện đề tài khảo sát “Hiện trạng khai thác cá ở một số hồ chứa nhỏ thuộc
tỉnh Đồng Nai và Bình Phước” với sự hỗ trợ kinh phí từ dự án Aqua Fish CRSP. Kết quả đề

355

tài cung cấp thông tin khái quát hiện trạng khai thác thủy sản ở các hồ chứa nhỏ đến các nhà
quản lý để từ đó có đưa những chính sách quản lý thích hợp để phát triển nguồn lợi thủy sản
phù hợp trong điều kiện hiện nay.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011.

Địa điểm nghiên cứu: 3 hồ chứa thuộc tỉnh Đồng Nai và 5 hồ chứa thuộc tỉnh Bình
Phước (Hình 2.1).
Bảng 2.1: Danh mục hồ chứa được khảo sát trong nghiên cứu
DT Hiện trạng Năm xây dựng
Stt

Tỉnh Tên hồ chứa
(ha) nuôi -hòan thành
1 Hồ chứa Cầu Mới
320 Hồ nuôi tư nhân 2005-2007
2 Hồ chứa ĐaTôn
328 Hồ nuôi hợp tác xã 1987-1989
3

lý khai thác nuôi thủy sản ở 5 hồ chứa có nuôi
cá (Hồ Cầu Mới, Gia Ui, Đa Tôn, Đồng Xoài và
Xa Cát) thông qua phiếu điều tra.
Số lượng mẫu điều tra: nếu số lượng người
khai thác trong tháng nhiều hơn 30 người,
chúng tôi sẽ phỏng vấn 2/3 người khai thác
(không ít hơn 30 người). Nếu số lượng người
khai thác ít hơn 30 người thì chúng tôi sẽ điều
tra 100% số hộ khai thác.

Hình 2.1: Vị trí 8 hồ chứa trong nghiên
cứu (Nguồn: Google earth)

356

Một số phương pháp tính toán đã được áp dụng
Sản lượng khai thác thủy sản ở các hồ chứa được xác định dựa trên sản lượng khai thác
theo từng lọai ngư cụ đựơc thể hiện qua công thức sau:
Bảng 2.2: Bảng tính sản lượng khai thác trên hồ chứa
Ngư cụ
Tổng thời gian
khai thác (ngày)
CPUE
(kg)
Sản lượng
khai thác (kg)
Ngư cụ 1 T1 W1 S1
Ngư cụ 2 T2 W2 S2
Ngư cụ 3 T3 W3 S3
… … … …

khảo sát (Bảng 3.1). Trong đó hiện vẫn còn một số như cụ khai thác mang tính chất huỷ diệt
nguồn lợi như Đăng, Dớn, Lợp (với mắt lưới rất nhỏ như lưới dày hay 2a < 1cm) mà đối
tượng khai thác chính là nhóm cá con, cá nhỏ trong lòng hồ vẫn được sử dụng một cách phổ
biến ở các hồ chứa thuộc tỉnh Bình Phước.
Trong số 15 loại ngư cụ được ghi nhận trên có 5 loại ngư cụ được sử dụng khai thác trong
mùa khô như Đăng, Lợp bát quái, Lưới vây, Vó gạt, Đặt chà và 1 lọai ngư cụ khai thác chủ
yếu trong mùa mưa là Vó. So với hồ chứa lớn như hồ chứa Trị An, việc khai thác ở các hồ
chứa nhỏ chủ yếu sử dụng các loại ngư cụ thô sơ không kết hợp xuồng máy, dễ di chuyển và
thao tác.
Nhìn chung, ở các hồ chứa nuôi cá tập trung ở tỉnh Đồng Nai chỉ sử dụng một số loại ngư
cụ khai thác có chọn lọc (Vó gạt, Chà, Lưới vây) và chủ yếu mắt lưới lớn (Lưới 1 màng với
2a>8cm). Trong khi đó ở các hồ chứa thuộc tỉnh Bình Phước, các loại ngư cụ sử để khai thác
phổ biến hơn với các loại ngư cụ mắt lưới khác nhau và ngay cả ngư cụ cấm, có tính huỷ diệt
nguồn lợi thủy sản cao.

357

Bảng 3.1: Các loại ngư cụ được ghi nhận ở 8 hồ chứa khảo sát
Stt Ngư cụ BU SL HP DX XC CM ĐT GU
1 Câu cần/cắm * * * * * * * *
2 Câu giăng * * *
3 Chài * * * *
4 Đăng * *
5 Đặt đáy *
6 Dớn * *
7 Lợp (tép) * * * *
8 Lợp cá lóc *
9 Lưới 1 màng * * * * * * * *
10 Lưới 3 màng * * * * *
11 Vó *

nhiên cũng như khả năng tài chính mà lượng giống và thành phần loài thả nuôi khác nhau qua
các năm. Việc lựa chọn cơ cấu đàn cá thả cũng như số lượng cá thả ở các hồ chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm qua thời gian nuôi và dựa vào nguồn kinh phí hiện có chứ không dựa vào cơ sở
khoa học hay tư vấn của nhà chuyên môn.

358

Bảng 3.2: Tỉ lệ giống các loài cá ngoại lai được thả nuôi ở các hồ chứa năm 2010
Cầu Mới Đa Tôn Gia Ui Đồng Xòai Xa Cát
Lòai/Vị trí
Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Tỉ lệ %

Cá Mè trắng 36,89

36,67

37,50

Cá Mè hoa 36,89

55,09



26,67

25,00

Cá Trường giang * 6,56 Mật độ thả con/ha 4.193,20

2.239,60

1.113,20

70,40

629,20

Mật độ thả kg/ha 19,06

10,18

5,06

0,32

2,86

45,7kg/ha (Nguyễn Hải Sơn và ctv, 2005).
Bảng 3.3: Sản lượng khai thác ở 5 hồ chứa có thả cá năm 2010-2011
Tên hồ chứa
NS cá thả
(kg/ha)
% SL cá
thả
NS cá tự nhiên
(kg/ha)
% SL cá
tự nhiên
Năng suất
(kg)/ha/năm
Cầu Mới 640,93

95,67

29,02

4,33

669,95

Đa Tôn 472,60

90,00

53,60

10,00

Cá Mè * 69,50

2 Cá Chép * 10,44

Cá Trôi * 5,36

Cá Chép * 14,94

3 Cá Trôi * 9,41

Cá Chép * 4,75

Cá Rô phi ** 10,53

4 Cá Mè vinh 3,77

Cá Trắm cỏ * 2,98

Cá Trôi * 1,55

5 Cá Trắm cỏ * 2,00

Cá Rô phi ** 2,48

Cá Trắm cỏ * 1,53

6 Cá Bống tượng 1,90

Cá Chốt 1,74


trước đây cũng đóng góp một phần sản lượng khai thác ở các hồ chứa với 10,53% ở hồ chứa
Gia Ui và 2,48% ở hồ chứa Cầu Mới.
Việc khai thác cá tự nhiên với nhiều mục đích khác nhau như khai thác nhóm cá có giá trị
kinh tế để nâng cao doanh thu (như cá Bống tượng, cá Trèn, cá Mè Vinh, cá Rô đồng…), khai
thác một số loài cá dữ để đảm bảo tỉ lệ sống cá giống thả nuôi (như cá Lóc, cá Ngựa nam), và
khai thác các loài cá tạp để tạo điều kiện môi trường tốt hơn cho nhóm cá nuôi phát triển tốt
(như cá Sơn, cá Chốt).

360

Năng suất khai thác ở loại hình Tổ nuôi cá cộng đồng
Với hình thức Tổ nuôi cá cộng đồng, năng suất khai thác ở hồ chứa Đồng Xoài và Xa Cát
có sự chênh lệch khá lớn (Bảng 3.5), thấp ở hồ chứa Đồng Xoài (113,74 kg/ha) và cao ở hồ
chứa Xa Cát (456,48 kg/ha). Điều này là do diện tích hồ Đồng Xoài khá lớn (470 ha) trong
khi đó mật độ cá thả lại thấp nhất (0,32 kg/ha), kết hợp điều kiện khai thác khó khăn và việc
quản lý kém nên năng suất khai thác thấp. Trong khi đó với diện tích nhỏ (42 ha) và được thả
giống với mật độ cao hơn (2,86 kg/ha) là nguyên nhân chính giúp năng suất khai thác ở hồ
chứa Xa Cát cao hơn so với hồ chứa Đồng Xoài.
Bảng 3.5: Năng suất khai thác ở 2 hồ chứa có thả cá năm 2010-2011
Tên hồ
chứa
NS cá thả
(kg/ha)
% SL cá thả
NS cá tự nhiên
(kg/ha)
% SL cá tự
nhiên
Năng suất
(kg)/ha/năm

2 Cá Mè hoa * 15,04 Cá Mè hoa * 8,58
3 Cá Mè trắng * 11,42 Cá Mè trắng * 6,73
4 Cá Chép * 7,84 Cá Chép * 5,96
5 Tép 7,21 Tép 5,31
6 Cá Mè vinh 6,99 Cá Mè vinh 3,80
7 Cá Trê 4,94 Cá Mè lúi 3,09
8 Cá Lóc đồng 2,92 Cá Lóc đồng 2,86
9 Cá Trôi (Ấn Độ) * 1,78 Cá Sơn 2,42
10 Cá Hột mít 1,65 Cá Thát lát 2,38
Ghi chú: * : cá nuôi được thả hàng năm; **: cá nuôi được thả không thường xuyên.
Ngoài các loài cá nuôi được thả giống hàng năm được khai thác với tỉ lệ cao như cá Mè
hoa, Mè trắng và cá Chép thì đáng chú ý nhất là nhóm cá Rô phi chiếm tỉ lệ cao nhất so với tất
cả các loài cá khác được khai thác trong năm (Bảng 3.6).
Việc thả giống cá Rô phi đã không được thực hiện trong 3 năm gần đây như với tỉ lệ khai
thác chiếm ưu thế ở hồ chứa Xa Cát là 38,37% và 48,61% ở hồ chứa Đồng Xoài đã cho thấy
khả năng thích nghi rất tốt của loài này trong môi trường hồ chứa.
Năng suất khai thác ở các hồ chứa không thả nuôi
Năng suất khai thác dao động giữa các hồ tương đối lớn (từ 74 đến 198kg/ha/năm). Năng
suất trung bình ở 3 hồ chứa đạt 134,24 kg/ha/năm trong đó cao nhất ở hồ chứa Hưng Phú với

361

198,15 kg/ha/năm, kế đến là hồ chứa Suối Lai, 130,54 kg/ha/năm và thấp nhất là hồ chứa Bàu
Úm với 74kg/ha/năm.
Bảng 3.7: Năng suất khai thác thủy sản ở 3 hồ chứa không thả nuôi
Đơn vị: kg/ha/năm
Hồ chứa Năng suất khai thác % SL cá ngoại lai % SL cá hồ chứa
Bàu Úm
74,04 63,47 48,76
Hưng Phú

Cá lòng
tong
2,09
8 Tép 5,75 Lòng tong 3,60 Cá rô biển 2,06
9 Cá lăng vàng 4,12 Cá trắm cỏ * 3,58
Cá Mè *
1,48
10 Cá trắm cỏ * 2,89 Cá trê 3,56 Cá mè vinh 0,52
Ghi chú: *: nhóm cá ngoại lai
Trong các loài cá ngoại lai khai thác trong hồ (Bảng 3.8), đáng chú ý nhất là loài cá Rô phi
luôn chiếm một tỉ lệ cao ở cả 3 hồ chứa (dao động từ 19,97% đến 44,11%), kế đến là nhóm cá
Chép Trung Quốc (cá Mè hoa, Mè trắng, Chép) hay nhóm cá ăn sống đáy động vật (cá Lóc,
cá Trê, cá Lăng…) và các nhóm cá tạp sống tầng mặt và ven bờ (cá Lòng tong, cá Sơn…).
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy hầu hết 5 hồ chứa được khảo sát thuộc tỉnh Bình Phước
đều có sự hiện diện ưu thế về số lượng của loài cá Rô phi trên cả 5 hồ. Nguyên nhân có thể do
mật độ và thành phần loài thuỷ tự nhiên trong hồ chứa quá ít so với nguồn thức ăn tự nhiên
nên chưa tận dụng hết nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn trong hồ chứa. Khi có sự xuất hiện của
cá Rô phi (bằng nhiều cách khác nhau), chúng tận dụng được khả năng thích ứng cao trong

362

môi trường hồ chứa để phát triển số lượng quần đàn, hình thành số lượng cá thể chiếm ưu thế
hơn so với các loài cá tự nhiên khác. Một số lý giải có thể phù hợp với điều kiện hồ chứa nhỏ
ở nước ta hiện nay đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở hồ chứa thuộc Sri Lanka, nơi có tỉ lệ cá
Rô phi khai thác hơn 90% so với các nhóm cá khác (Fernando và ctv, 1969; Fernando,1984).
Theo Ferando và ctv (1969) cho rằng mật độ cá Rô phi cao do diện tích mặt nước lớn với
nhiều khu vực có thuỷ sinh vật ngập cạn cũng như khả năng tái thành thục nhanh của nhóm cá
Rô phi. Theo Ferando và ctv (1991), do khả năng thích nghi cao của loài cá Rô phi ngoại lai
đối với môi trường sống của hồ chứa trong điều kiện thành phần cá tự nhiên của hồ chứa thiếu
đi một số loài sống ở khu vực ven bờ hay đầm lầy và chúng không thích hợp sống trong điều

Fernando, C.H. and H.H.A. Indrasena, 1969. The freshwater fisheries of Ceylon. Bulletin of
Fisheries Research Station, Ceylon 20: 101-134.
Fernando, C.H., Holcik, J., 1991. Fish in reservoirs. Internationale Revue gesamten
Hydrobiologie, 76: 149-167.
Fernando, C.H.,1984. Reservoirs and lakes of Southeast Asia (Oriental region). In: Taub, F.B.
(ed.). Lake and Reservoir Ecosystems. Elsevier, Amsterdam, The Netherlands.
Hồ Mạnh Tuấn, 2002. Effect of small reservoir management strategies on poor rural people’s
livelihood in Binh Phuoc province, Vietnam. In school of Environment and Resources
Development Thai Lan, August 2002.

363

Jiashou Liu, Zhongjie Li and Songguang Xie, 2009. Achievement, Achievements, Challenges
and Strategies for Reservoir Fisheries Development in China. Status of Reservoir Fisheries in
Five Asian Countries. Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific. 2009, 17-30.
Ngô Văn Sỹ and Lê Thanh Lưu, 2001. Status of Reservoir Fisheries in Vietnam. Proceedings
of an International Workshop on Reservoirs and culture based fisheries: Biology and
Management. Bangkok, Thailand 15-18 Feb 2000. (Eds. Sena S. De Silva). ACIAR
Proceedings No. 98, Thailand, pp 29-35.
Nguyen, H. S., Bui, A. T., Nguyen, D. Q., Truong, D. Q., Le, L. T., Abery, N.W., De Silva,
S.S., 2005. Culture-based fisheries in small reservoirs in northern Vietnam: effect of stocking
density and species combinations. Aquaculture Research, 36, 1037-1048.
Phan Dinh Phuc and J.D. Sollows., 2001. Status and Potential of Reservoir Fisheries in Dak
Lak Province, Vietnam. Effectiveness of stocking in Reservoirs in Vietnam. Proceedings of
an International Workshop on Reservoirs and culture based fisheries: Biology and
Management. Bangkok, Thailand 15-18 Feb 2000. (Eds. Sena S. De Silva). ACIAR
Proceedings No. 98, Thailand, pp 36-42.
Phan Đinh Phúc, Lý Ngọc Tuyên và Dương Tấn Phương, 2009. Khái quát về nghề nuôi cá hồ
chứa khu vực Tây Nguyên. 05/09/2010. <ULR:


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status