Hiện trạng thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực sông cầu - Pdf 30


HIỆN TRẠNG THỦY SINH VẬT Ở MỘT SỐ NHÁNH SÔNG
TRONG LƯU VỰC SÔNG CẦU

Phan Thị Anh Đào
1
, Đỗ Thị Thanh Bình
2
Phan Văn Mạch
2
,
Trần Thị Thanh Bình
3
, Lê Xuân Tuấn
3
1
Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường
2
Viện Sinh Thái và Tài nguyên Sinh vật
3
Khoa Sinh-KTNN, Đại học Sư phạm Hà Nội

1. Mở đầu
Sông Cầu là phụ lưu cấp II của hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ tỉnh Bắc
Kạn, sau đó cùng với sông Thương, sông Lục Nam và sông Đuống chảy vào sông Thái
Bình và đổ ra biển. Sông Cầu có chiều dài trên 200 km với nhiều phụ lưu như Sông Công,
Sông Cà Lồ... Lưu vực sông Cầu có nhiều khu dân cư đông đúc, nhà máy, bệnh viện và
khu công nghiệp. Trước kia đây là con sông nổi tiếng v
ề vẻ đẹp tự nhiên cũng như chất
lượng nước sạch. Ngày nay do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt trong lưu vực nên sông
chịu áp lực lớn của lượng nước thải đổ vào với nhiều loại hình chất thải, từ nước thải sinh

/cm). Thu mẫu định tính và định lượng sinh vật đáy bằng lưới kéo đáy, vợt cầm tay.
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
102
Thu mẫu các nhóm côn trùng nước bằng vợt cầm tay và lưới Suber sampler kích thước
50 x 50 cm. Thu mẫu thực vật thuỷ sinh bao gồm cả hoa, lá, cành và quan sát phân bố
của chúng trong thuỷ vực.. Thu mẫu cá và phỏng vấn trên sông qua dân đánh cá, tại
các khu vực dân cư ven sông, các chợ trong khu vực. Mẫu sinh vật nổi, sinh vật đáy và
mẫu cá được cố định trong dung dịch formalin 5%. Mẫu thực vật thuỷ sinh được ngâm
trong formol hoặc phơi, ép khô đưa về phòng phân tích. Sơ đồ 1. Vị trí trạm lấy mẫu
(T1-T2: Trạm lấy mẫu)
S«ng
CÇu
S. Cµ Lå
T5
T4
T3
T2
Hå Nói Cèc
§¸p CÇu
S«ng
C«ng
T1
Th¸c Huèng


Nhiệt độ nước các trạm khảo sát dao động từ 25.2
o
C đến 26.1
o
C. Độ pH dao
động ở mức kiềm (7.45 - 7.68) và không chênh lệch nhau nhiều giữa các trạm. Độ đục
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
103
dao động từ 30 mg/l ở khu vực cầu Trần Quốc Bình (Thái Nguyên) đến 365mg/l ở khu
vực đò Quang Biểu (Bắc Ninh). Ngoại trừ điểm tại khu vực cầu Trần Quốc Bình là
khu vực mang tính chất suối, nền đáy đá, sỏi, nước không sâu, các khu vực khảo sát
khác, độ đục đều cao một phần do nước chảy mạnh, một phần do các hoạt động khai
thác cát, một phần do các hoạt động giao thông thu
ỷ. Độ dẫn điện dao động từ 115.4
µS/m - 223 µS/m. Độ muối (NaCL) dao động từ 0- 0.1%o. Tổng các chất khoáng hoà
tan (TDS) dao động từ 81.3 đến 115.7 mg/l. Hàm lượng ô xy hoà tan dao động từ 5.74
đến 7.15 mg/l. Hàm lượng ô xy là yếu tố khá quan trọng biểu thị chất lượng môi
trường nước. Các quá trình sinh học và hoá học tại khu vực có nhiều chất hữu cơ và vô
cơ xảy ra mạnh, tiêu tốn một lượng lớn ô xy hoà tan trong nước, làm hàm lượng ô xy
ở đó giảm đi, còn tại khu vực có hàm lượng ô xy hoà tan cao là do sự xáo trộn và các
quá trình sinh học, hoá học xảy ra không lớn nên lượng ôxy hoà tan không bị tiêu hao
nhiều và vẫn còn cao. Như vậy, trong một thuỷ vực, lượng ô xy hoà tan trong nước
thấp hay cao sẽ là chỉ số gián tiếp biểu thị lượng vật chất hữu cơ và vô cơ ở đó nhiều
hay ít. Hàm lượng ô xy hoà tan tại thời điểm khảo sát đều không vượt quá giớ
i hạn cho
phép theo tiêu chuẩn Việt nam với nước mặt.

3.2. Đặc điểm thuỷ sinh vật
3.2.1.
Thực vật thủy sinh (Macrophyte)

Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
104
qua các công đoạn xử lý khác, làm giảm ô nhiễm cho thuỷ vực. Trên sông Cầu, sông
Cà Lồ, sông Công, nơi nước chảy mạnh và ở những nơi các hoạt động giao thông diễn
ra với cường độ cao, thực vật thuỷ sinh không phát triển nhiều. Ven sông chỉ thấy có
một vài nhóm thực vật thuỷ sinh sống thành đám như cây nghể nước Polygonum
hydropiper tại khu vực gần ngã ba sông Công, sông Cầu. Tại khu vực các bãi ven
sông, người dân địa phươ
ng trồng một vài loài thực vật thuỷ sinh làm thực phẩm rau
xanh, chăn nuôi gia súc như khoai nước, bèo cái, rau muống và rau cần theo thời vụ.
3.2.2.
Thực vật nổi (Phytoplankton)
Có 113 loài thực vật nổi thuộc 6 ngành tảo là Tảo Silic (Bacillariophyta), Tảo
Lục (Chlorophyta), Tảo lam (Cyanophyta), Tảo Mắt (Euglenophyta), tảo Vàng ánh
(Chrysophyta) và tảo Giáp (Pyrrophyta) đã được xác định trong các đợt khảo sát bổ sung.
Th¸ng 9
T

o L

c
T

o Silic
T

o Lam
T

o M

ng thời kỳ. Về sự nhạy cảm đối với ô nhiễm có thể liệt kê các
chi có mặt tại các trạm khảo sát như: Straurastrum, Pinnularia, Surirella, Cocconeis.
Các chi Euglena, Oscillatoria, Scenedesmus, Chlorella, Nitzschia là những chỉ thị
thường xuyên được sử dụng để chỉ thị sự ô nhiễm nước (Dương Đức Tiến, Võ Hành,
1997) tại đây cũng thấy xuất hiện. Các loài tảo thuộc các chi Euglena, Scenedesmus,
Oscillatoria, Nitzschia là những nhóm thường có m
ặt trong các thuỷ vực ô nhiễm hữu
cơ và được đánh giá là có khả năng chịu đựng ô nhiễm cao. Một số loài tảo trong các
chi trên cũng ưa sống trong môi trường giầu chất hữu cơ.
Mật độ thực vật nổi dao đông từ 3174 tb/l đến 6238 tb/l vào thời kỳ tháng 9 và
dao động từ 1870 tb/l đến 9750 tb/l vào thời kỳ tháng 11. Mật độ số lượng thực vật nổi
cả hai thời k
ỳ đều do 3 nhóm tảo Silic, tảo Lam và tảo Lục quyết định. Nhóm tảo Mắt
tại khu vực trạm 1, 2 và 5 cao hơn các trạm khác cho thấy các khu vực này mức độ ô
nhiễm là cao hơn các khu vực khác. Trong khi tảo Silic không cao có thể thấy các khu
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
105
vực này có xu hướng bị ô nhiếm hơn. Khi thuỷ vực bị ô nhiễm, tính đa dạng và mật độ
của quần xã tảo trong thuỷ vực bị biến đổi. Tại khu vực không ô nhiễm, số lượng loài
thường cao nhưng mật độ cá thể trong một loài lại thấp. Ngược lại, quần xã tảo tại nơi
ô nhiễm được đặc trưng bởi số lượng loài ít nhưng mậ
t độ cá thể lại cao hơn hẳn.
3.2.3.
Động vật nổi (zooplankton)
Xác định được 56 loài động vật nổi thuộc các nhóm Giáp xác Chân chèo
Copepoda, Giáp xác Râu ngành Cladocera Trùng Bánh xe Rotatoria, giáp xác
Ostracoda và Ấu trùng côn trùng tại các trạm khảo sát trên lưu vực sông Cầu.
Th¸ng 9
Giáp xác Dâu
Giáp xácchân chèo

khác nhau. Các trạm càng về phía hạ lưu, thành phần loài càng phong phú hơn và mật
độ cũng cao hơn. Tại hầu hết các khu vực tại hai thời điểm, nhóm giáp xác Râu ngành
hầu như có số lượng loài cao hơn cả, sau đến nhóm giáp xác Chân chèo và nhóm Trùng
bánh xe.
Mật độ động vật nổi dao đông rất lớn tại các khu vực khác nhau, dao động từ 6
con/m
3
tại khu vực cầu Trần Quốc Bình, Thái Nguyên đến 7847 con/m
3
tại khu vực
đò Quang Biểu, Bắc Ninh vào tháng 9 và dao động từ 29 con/m
3
tại khu vực Cầu
dường sắt Đa Phúc, Thái Nguyên đến 3020 con/m
3
ở khu vực đò Quang Biểu, Bắc
Ninh vào tháng 11. Như vậy, cả hai thời điểm, mật độ động vật tăng dần vè phía hạ
lưu và mật độ động vật nổi đều do hai nhó Râu nhành và Chân chèo thay nhau chiếm tỉ
lệ cao nhất và quyết định mật độ động vật nổi.
Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 - Viện KH KTTV & MT
106


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status