Luận văn: Nghiên cứu văn hóa kinh doanh Ấn Độ - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA Luận văn

Nghiên cứu văn hóa kinh doanh Ấn Độ

Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
MUÏC LUÏC
Lời mở đầu
Chương 1. Văn hóa Ấn Độ
1.1 Văn hóa 4

2.2.3 Thời kỳ sau khi độc lập 33
2.2.4 Thời kỳ sau 1991 35
2.3 Quan hệ bang giao Việt Nam - Ấn Độ 39
2.3.1 Từ trong lịch sử 39
2.3.2 Thời kì sau 1945 tới nay (2011) 43
Chương 3. Bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam khi hợp tác kinh doanh với người
Ấn Độ
3.1 Trên góc độ vĩ mô 48
3.2 Trên góc độ vi mô 50
3.2.1 Hiểu về Ấn Độ 51
3.2.2 Lưu ý khi tiếp xúc với người Ấn Độ 53
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 2 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
3 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
phương Nam, những nơi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, và từ đó văn hóa Ấn Độ
một phần nào đó được hấp thu nhiều. Ngoài ra có thể kể đến Việt Nam đón nhận văn hóa
Ấn Độ qua tôn giáo (Phật giáo) và giao thương… Nhưng xét cho cùng có một điểm chính
yếu mà các sử gia đánh giá, đó là Việt Nam và Ấn Độ giao lưu văn hóa là do hợp tác,
dung hòa nhau. Khác hẳn cách Việt Nam hấp thụ văn hóa Trung Quốc, đa phần từ đối
đầu, thù địch. Mặc dù vậy, ảnh hưởng của Ấn Độ lên Việt Nam không nhiều như Trung
Quốc. Do vậy ngày nay, Ấn Độ vẫn xa lạ với nhiều người Việt Nam. Việc giao thương
cũng như các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về Ấn Độ cũng chưa thực sự nhiều. Điều
này cần phải thay đổi. Tư tưởng của nhân loại thật vĩ đại và phong phú. Người Việt Nam
nên biết nhiều hơn ngoài những cái cũ nát của tư tưởng phong kiến Trung Quốc. Nếu như
có thể tiếp nhận tư tưởng mới thì cũng là điều mà chúng ta đáng làm, sẽ có nhiều khác
biệt thú vị và nhiều điều để chúng ta so sánh.
Điều này ngày nay thực sự cần thay đồi. Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng.
Cả hai đều ở châu Á, giao lưu đã có từ rất lâu, cả hai trong thế kỉ XX đều bị thống trị bởi
ngoại bang và giành độc lập trong khoảng thời gian gần như nhau. Và quan trọng nhất là
ngày nay cũng giống như trong lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước vẫn là hợp tác và bổ
sung là chủ yếu. Trong bối cảnh Ấn Độ hiện nay đang trên đà phát triển mạnh và triển
vọng lớn trong tương lai, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, người Ấn Độ ngày nay nói
tiếng Anh là chủ yếu, khoảng cách địa lý lại không quá xa. Đó là các yếu tố mà doanh
nhân cả hai nước cần đặc biệt phải quan tâm.
Việc Việt Nam chậm trễ trong quan hệ kinh tế với Ấn Độ là một sai lầm về tầm nhìn.
Nhận thấy việc nghiên cứu về Ấn Độ có nhiều điều thú vị. Chúng ta biết quá ít về Ấn Độ
mà đã dành quá nhiều sự “ưu ái” không đáng cho Trung Quốc. Thực sự đây có thể là một
con đường mới dù rằng con đường này chúng ta nên đi từ lâu. Tức là Việt Nam ngày nay,
nhất là các doanh nhân cần hiểu nhiều hơn về Ấn Độ và hợp tác với họ. Trong mọi quan
hệ, nếu quan hệ kinh tế tốt đẹp thì có thể dẫn tới nhiều ích lợi khác. Giao thương ngay từ

hệ thống các giá trị và các giá trị giữa tòa nhà văn hóa”.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 5 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữa con người và con người, con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại
tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được
tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn
hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và
hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và
tinh thần mà do con người tạo ra.
1.1.2 Văn hóa kinh doanh
Chúng ta đều biết văn hoá là biểu hiện hành vi, tư duy và tình cảm đã ăn sâu hay bị ảnh
hưởng qua học hỏi và là điểm đặc thù của một nhóm người chứ không phải của một cá
nhân. Hành vi thể hiện ở các hành động, trong khi tư duy và tình cảm thể hiện nội tâm và
tri thức của con người. Ở một mức độ nhất định, văn hoá có liên quan đến các quy chuẩn
hay phong cách xử sự truyền thống của một nhóm người hình thành qua thời gian. Ở mức
độ sâu sắc hơn, văn hoá là những giá trị mặc nhiên được chia sẻ trong một nhóm người,
ấn định cái gì quan trọng, cái gì tốt và cái gì xấu. Những giá trị này nhất quán với quy tắc
nhóm, nghĩa là các quy tắc xử sự phản ánh các giá trị, và ngược lại, các giá trị phản ánh
quy tắc xử sự.
Với cách tiếp cận về văn hóa như trên, có thể hiểu: Văn hoá kinh doanh một hệ thống các
giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá
trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng
đồng hay khu vực nào đó.
Văn hoá kinh doanh là những giá trị văn hoá gắn liền với hoạt động kinh doanh. Các giá

đồng bằng Ấn-Hằng với hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) và vùng cao
nguyên Deccan.
Himalaya – “dãy núi định mệnh”
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 7 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Đây là dãy núi hùng vĩ nhất, nóc nhà của thế giới, trùng trùng điệp điệp suốt 2.600 km,
trong đó có hơn 40 ngọn cao trên 7 km. Đây chính là dãy núi định mệnh của Ấn Độ, là
Vạn Lý Trường Thành tự nhiên đã ban tặng cho đất nước này. Sừng sững án ngữ toàn bộ
phía Bắc, Himalaya trở thành bức tường thành tự nhiên đồ sộ, vững chắc tuy không phải
hoàn toàn bất khả xâm phạm vì vẫn có những đèo thấp như Khyber nhưng vai trò của
Himalaya giữ cho Ấn Độ nhiều thế kỷ bình yên, xây dựng nền văn hóa riêng của mình là
một điều chắc chắn. Biển rộng, núi cao là những chướng ngại tự nhiên đáng kể làm cho
Ấn Độ trở thành một khu vực văn hóa tương đối riêng biệt, chừng nào đó tách rời với thế
giới bên ngoài.
Ngoài những ảnh hưởng trên, núi rừng Himalaya còn tác động lớn lao tới tư duy của
người dân Ấn Độ. Ngay từ khi họ bắt đầu tư duy và mơ mộng, nhiều ngọn núi cao trong
trí tưởng tượng của họ đã trở thành nơi cư ngụ của thần linh, giống như Olympus với
người Hy Lạp. Cũng chính trong những núi rừng Himalaya này, những trường học tu tập
đã ra đời, nơi đây các thầy trò Upanishad thảo luận và tư duy về bí mật của nhân sinh, vũ
trụ. Qua nhiều thế kỷ, Himalaya cũng là nơi ghi lại nhiều dấu chân của những con người
từ bỏ cuộc sống trần tục để kiếm tìm và thực hiện khát vọng giải thoát (điều này được
xem như mục tiêu cao nhất của đời người). Himalaya dường như mãi mãi vẫn giữ sự xa
cách, thâm nghiêm, mãi mãi là một miền thần bí siêu thực và khêu gợi tâm linh với người
Ấn Độ. Con người càng trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ, bí ẩn, điều này khiến
cho đời sống tâm linh Ấn Độ trở nên phức tạp, đa dạng vô cùng. Trong kinh thánh Hindu,
Himalaya là nơi cư ngụ của thần Shiva và nàng Pavarti (con gái của Himalaya). Đứng

ngã. Hơn tất cả các dòng sông khác, sông Hằng gắn bó với lịch sử văn hóa và đời sống
tinh thần của Ấn Độ. Người Ấn gọi sông Hằng là “sông mẹ” vì với họ, sông Hằng chính
là một bà mẹ giàu tình cảm, nước sông Hằng theo niềm tin Ấn Độ có khả năng tự thanh
lọc, vĩnh viễn trong trẻo thiêng liêng. Trong tiềm thức của người Ấn, sông Hằng vốn là
con sông trên trời. Nó chảy tung bọt dưới chân thần Vishnu nên nó tên là Vishnupadi,
chảy ngang qua núi Himavati, rồi tiếp tục chảy xuống thế giới âm phủ. Những người Ấn
Độ tin rằng đến được với sông Hằng, uống nước sông Hằng, tắm trong làn nước sông
Hằng hay được chết bên bờ sông Hằng thì được tẩy rửa mọi ô uế vật chất và tinh thần. Vì
phẩm chất thanh lọc đặc biệt đó mà việc tắm sông Hằng trở thành một hành vi tôn giáo.
Khi một người Ấn chết, họ mong được nhỏ vài giọt nước sông Hằng vào miệng trước khi
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 9 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
hỏa táng và tro thiêu được thả xuống dòng sông mong tìm được sự giải thoát linh hồn như
hòa vào với dòng sông mẹ. Với Ấn Độ, sông Hằng nói riêng, những linh giang nói chung
đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống, nhất là trong tâm linh mỗi con
người. Hầu như mọi nghi lễ tôn giáo trên đất nước này đều ít nhiều gắn với những dòng
sông, đặc biệt là sông Hằng.
Cao nguyên Deccan
Cao nguyên Đêcan (Deccan) chiếm 2/3 diện tích lãnh thổ, nằm ở phía nam Ấn Độ, có độ
cao trung bình từ 300 - 900 m. Hai rìa phía đông và phía tây của Đêcan là núi Gat Đông
và Gat Tây dốc đứng về phía đại dương. Phía đông bắc Đêcan và phía tây của dãy Gat
Tây là rừng gió mùa; vùng núi cao, có rừng hỗn hợp ở chân núi, lên cao hơn là rừng lá
kim rồi đến đồng cỏ núi cao. Theo nghiên cứu, đây chính là nơi mà 3 tôn giáo chính của
Ấn Độ cùng tồn tại bên nhau, đó là Hindu giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo.
1.2.3 Khí hậu – Tài nguyên thiên nhiên
Do địa thế rộng lớn, địa hình đa dạng, Ấn Độ có nhiều vùng khí hậu khác biệt. Trên nền

hưởng đến văn hóa của người Ấn, đó là: không nơi đâu trên thế giới như đất nước này
nhiều tôn giáo lại có thể chung sống hòa hòa hợp với nhau đến như vậy. Cả tôn giáo
bản địa lẫn những tôn giáo ngoại lai cùng tồn tại vì mục tiêu cao đẹp: giải thoát con
người, hướng tới sự tốt đẹp, hoàn thiện của con người. Nhìn chung sông núi, thiên
nhiên còn in đậm ảnh hưởng của mình lên văn hóa tâm linh Ấn Độ, một dân tộc
khuôn hình theo sông núi, một mảnh đất đầy rẫy thần linh và truyền thuyết.
1.3 Văn hóa Ấn Độ
Ấn Độ có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và họ luôn tìm cách giữ
gìn những truyền thống của mình trong suốt thời kỳ lịch sử trong khi vẫn hấp thụ các
phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân
nhập cư. Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phong tục và các công trình là những ví dụ
cho sự đan xen văn hóa qua hàng thế kỷ đó.
1.3.1 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một yếu tố hết sức quan trọng của văn hóa vì nó là phương tiện được sử
dụng để truyền thông tin và ý tưởng, giúp con người hình thành nên cách nhận thức về
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 11 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
thế giới và có tác động lên việc định hình văn hóa con người. Ngôn ngữ là một tài sản vô
giá. Và Ấn Độ phải tự hào rằng họ là quốc gia sử dụng nhiều loại ngôn ngữ nhất trên thế
giới. Theo thống kê, hiện có khoảng 7.000 ngôn ngữ đang tồn tại trên thế giới. Theo cuộc
điều tra dân số năm 2001, 1,16 tỷ dân Ấn Độ sử dụng tới 6.500 ngôn ngữ khác nhau.
Trong số đó, có khoảng 1.652 ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ mẹ đẻ. Tuy nhiên, đa số
ngôn ngữ đó xuất phát từ hai nhóm ngôn ngữ chính là Ấn-Aryan (chiếm 74% dân số sử
dụng) và Dravidian (chiếm 24%), 2% còn lại dựa trên các nhóm Nam Á và Tạng-Miến.
Hai ngôn ngữ phổ biến nhất được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Chính phủ và trong
giáo dục cao học là tiếng Hindi và tiếng Anh. Ngoài ra, 21 ngôn ngữ khác cũng được coi

và phát triển.
Giáo lý của đạo Hindu thời kỳ Bàlamôn giáo nằm trong tư tưởng Nhất nguyên luận – cho
rằng linh hồn vũ trụ (Brahman) đồng nhất là một với linh hồn cá thể (Atman). Linh hồn
vũ trụ hòa tan vào tất cả cũng giống như muối khi hòa tan vào nước, vĩnh viễn không thể
tách ra được nữa. Giáo lý nhất nguyên luận và triết lý bất tổn sinh (Ahimsa) của đạo
Hindu đã trở thành cơ sở nền tảng chi phối cách sống của người Ấn Độ, nền tảng cho sự
mở rộng tình yêu với đồng loại, với chúng sinh trong một cuộc sống hòa bình.
Triết lý bất tổn sinh Ahimsa từ thời Bàlamôn giáo của đạo Hindu đã được vận dụng trong
các tôn giáo khác của Ấn Độ và trở thành một dấu ấn đặc trưng của lối sống của con
người ở xứ sở này. Phật giáo phát triển Ahimsa thành nguyên lý cấm sát sinh, mở rộng
tình yêu thương đối với toàn thể chúng sinh trong tư tưởng nhất thiết bình đẳng. Đạo Jain
thì thực hành Ahimsa đến mức cực đoan (người theo đạo Jain có thói quen cầm chổi quét
đường phố trước mỗi bước chân để tránh không làm tổn thương các sinh vật, luôn bịt
khẩu trang để tránh hít thở và ngáp phải những sinh vật nhỏ, không làm nông nghiệp để
tránh sát sinh những côn trùng trong lòng đất ) Triết lý Ahimsa phát triển qua nhiều tôn
giáo đã tạo nên một đặc điểm chung trong tính cách con người là trân trọng sự sống của
mọi đồng loại. Có thể nói tinh thần hòa hợp khoan dung qua tư tưởng Ahimsa đã trở
thành truyền thống lớn của văn hóa Ấn và gần như trở thành phong cách Ấn.
Đạo Hồi
Mặc dù phần lớn dân số theo đạo Hindu nhưng Ấn Độ lại là nước có số lượng tín đồ Hồi
giáo đứng thứ 3 thế giới (con số ước tính hiện nay khoảng hơn 160 triệu người).
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 13 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Đạo Hồi đã đến với Ấn Độ lần đầu tiên vào năm 711, khi quân Hồi Giáo Ả Rập đánh
chiếm tỉnh Sind, nay là Pakistan. Đến thế kỷ XI, toàn miền Bắc Ấn theo đạo Hồi, trong
đó có tỉnh Ghaznawid, nay là nước Afganistan. Vào năm 1206, Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Ấn Độ

đã tự hào khi tuyên bố Đức Phật như bậc thánh vĩ đại của đạo Hindu, và như "người sáng
lập đạo Hindu hiện đại". Chúng ta không thể chối bỏ sự thật rằng, Phật giáo tiếp tục tồn
tại trong đạo Hindu, mà Hindu đã đồng hóa các giáo lý trung tâm của đạo đức và siêu
hình học của Phật giáo và đó là lý do tại sao Phật giáo đã chuyển hóa đạo Bà la môn cổ
thành đạo Hindu hoặc Tân Bàlamôn. Đức Phật được xem như vị thần Avatara là hóa thân
của thần Vishnu. Các đấng sáng tạo Hindu đã thêm vào các ý niệm hữu thần trong hệ
thống vô thần của Yoga, Samkhya và Phật giáo. Điều này hình như đã thành công trong
việc đem Yoga, Samkhya và Phật giáo vào trong đạo Hindu.
Sau khi Ấn Độ đã được độc lập, Chuyển pháp luân (Dharmacakra) của Phật giáo được
xem là biểu tượng của quốc gia và được gắn trên quốc kỳ Ấn Độ, cũng như đầu cột hình
sư tử nổi tiếng của vua A Dục đã trở thành con dấu của nước cộng hòa Ấn Độ. Những di
sản của Phật giáo này đối với đời sống hàng ngày của chúng ta phải được duy trì vô hạn.
Hãy để những biểu tượng của lý tưởng Hòa bình và Giác ngộ của Phật giáo là những ngôi
sao sáng để dẫn đường tất cả tư tưởng và hành động của chúng ta trong đời sống quốc gia
và trật tự quốc tế trên thế giới này.
Không chỉ là nơi đã sản sinh ra nhiều tôn giáo lớn trên thế giới như đạo Hindu, đạo
Phật Ấn Độ còn được biết đến như một xứ sở nổi tiếng với tinh hòa hợp tôn giáo từ
những truyền thống lâu đời. Chính tại nơi đây, những tôn giáo lớn hầu như đối nghịch
vẫn có thể chung sống hòa bình bên cạnh nhau.
“Những nhân cách lớn trong lịch sử Ấn từ Asoka, Harsha Vardhana đến Akbar đều là
những mẫu mực về tinh thần khoan dung tôn giáo. Một hệ quả của tinh thần khoan dung
là những hàng rào ngăn cách các tôn giáo ở Ấn Độ không bao giờ trở nên không thể vượt
qua. Tất cả chúng đều ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng lẫn nhau ” (Lương Duy Thứ, 1998)
1.3.3 Truyền thống - Phong tục
Phong tục, tập quán chính là những quy ước thông thường của cuộc sống hàng ngày, là
toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]

16 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Người Ấn nổi tiếng với phong cách nấu nướng dùng rất nhiều gia vị. Đối với người Ấn,
gia vị được xem là yếu tố cực kì quan trọng để tạo ra món ăn ngon. Chúng có tác dụng
làm sánh đặc thức ăn ở dạng bột thường được làm từ ngũ cốc như ngô, lúa mạch, đỗ.
Loại gia vị tạo hương thơm đặc trưng và không thể thiếu trong nhiều món ăn là lá càri.
Người Hồi giáo kiêng ăn thịt lợn trong khi người Hindu giáo lại không dùng thịt bò. Do
đó, thịt gà, dê, cừu và các loại thuỷ hải sản là loại thông dụng nhất.
Cơm là món ăn chính trong bữa ăn của người Ấn. Tuy nhiên, khác với cách nấu của
người Việt, người Ấn lấy gạo xào với dầu hay bơ trước, sau đó mới cho nước vào nấu.
Khi cơm gần chín, cho nhiều hương liệu khác như tiêu, hạt cumin, quế… Bên cạnh món
cơm chiên còn có cơm nấu với cá, thịt gà, rau củ. Người Ấn dùng món càri trong bữa ăn
với nhiều khẩu vị khác nhau: càri trứng, thịt băm càri, càri bắp cải khô… và thường được
nấu ở dạng khô
Theo phong tục của người Ấn, trong các buổi tiệc cưới hỏi, lễ lạt quan trọng không thể
thiếu món cừu nấu với hạnh nhân, món thịt cừu nướng.
Nước sữa và nghệ tây là một trong những thức uống phổ biến nhất. Được chế biến từ
hạnh nhân, hạt pít-tat, sữa, thảo quả, nghệ tây, cho thêm chút rượu. Thường được dùng
như một thức uống giải khát thường thấy trong các lễ hội hoa đăng, lễ hội mùa xuân…
1.4 Văn hóa Ấn Độ theo 5 khuynh hướng văn hóa của Geert - Hofstede
Để tìm hiểu văn hóa doanh nghiệp Ấn Độ nói chung hoặc một doanh nghiệp nói riêng
không thể không xem xét các nguồn tác động vào văn hóa doanh nghiệp, trong đó phải kể
đến nguồn từ văn hóa dân tộc, văn hóa vùng và văn hóa cá nhân - đặc biệt là văn hóa của
người đứng đầu tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp trước hết ảnh hưởng rất sâu đậm bởi văn
hóa dân tộc. Do đó, khi muốn làm ăn với đối tác từ Ấn Độ, ta cần tìm hiểu kỹ lưỡng văn
hóa dân tộc họ.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ]


Indonesia
78
India
77
Vietnam
70
United States
40
South Korea
60
Poland
68
Phillipines
94 (Nguồn: ITIM - Culture and Management consultants)
Qua đó ta thấy Ấn Độ được đánh giá là nước có khoảng cách quyền uy khá lớn với số
liệu định lượng là 77. Thật vậy, ở Ấn Độ, địa vị thường được quyết định bởi tuổi tác,
trình độ học vấn, nghề nghiệp. Ngoài ra, việc làm ở các cơ quan nhà nước được xem là có
uy tín hơn những công việc ở các cơ quan tư nhân. Điều này cũng thể hiện ở việc tuy chỉ
có khoảng 30% dân số sống ở thành thị nhưng ở Ấn Độ lại xuất hiện những tỉ phú thuộc
vào dạng giàu có nhất thế giới, trong khi phần lớn dân số sinh sống ở nông thôn, đói
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 18 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
nghèo và mù chữ vẫn là hiện tượng dễ bắt gặp ở nước này. Theo thống kê thì Ấn Độ là

Country
PDI
Country
PDI
China
66
Russia
36
Japan
95
United Kingdom
66
Thailand
34
France
43
Indonesia
48
India
56
Vietnam
40
United States
62
South Korea
39
Germany
66
Phillipines
64

đáo trong văn hóa Ấn Độ, đồng thời có thể gây những trở ngại cho các doanh nghiệp,
doanh nhân đến làm ăn tại quốc gia này.
Cũng theo kết quả nghiên cứu này, chỉ sô LTO của Ấn Độ được đánh giá là 61 điểm, có
nghĩa là văn hóa Ấn Độ mang định hướng dài hạn. Điều này là hoàn toàn chính xác. Từ
hàng ngàn năm trước, Ấn Độ đã hình thành và xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng
biệt, do vị trí địa lý, địa hình… mà trở nên tách biệt với bên ngoài. Nhưng sau quá trình
thương mại, giao lưu văn hóa cùng sự xuất hiện xâm chiếm của ngoại bang đã khiến văn
hóa Ấn Độ dần thay đổi, điều chỉnh dần phù hợp hơn với cuộc sống hiện đại. Người Ấn
xưa thường có khuynh hướng hòa hợp hơn là chinh phục, họ cho rằng không nhất thiết
phải đấu tranh mà để cho mọi việc diễn ra một cách tự nhiên, và điều đó giường như vẫn
còn ảnh hưởng cho đến tận bây giờ. Nền văn hóa mang tính dài hạn còn thể hiện ở việc
sẵn sàng phục vụ người khác. Chúng ta đều biết, người Ấn rất hiếu khách, nhất là đối với
du khách nước ngoài. Chính vì lẽ đó mà du lịch ở Ấn Độ rất phát triển và mang lại nguồn
thu lớn cho quốc gia mỗi năm.
Tóm lại, theo các tiêu chí của Geert – Hofstede, Ấn Độ được đánh giá là quốc gia có
khoảng cách quyền lực cao, đồng thời có nền văn hóa mang tính cứng rắn và dài hạn.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 21 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Chương 2
Con người Ấn Độ và mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

trong đó có nghiều công trình nổi tiếng thế giới như Taj Mahal gắn liền với truyền thuyết
tình yêu nổi tiếng của vua Môgôn Shāh Jahān và hoàng hậu Mumtaz Mahal, đền Ajanta
và hang động Ellora… Các điệu múa Ấn Độ như Bharatnatyam, Odissi, Kathakali,
Kuchipudi, Mohiniattam làm say lòng người. Mỗi điệu múa này là một cách biểu đạt cảm
xúc như yêu thương, ao ước, buồn đau… được thể hiện qua động tác và chuyển động của
cơ thể, cánh tay, ngón tay, khuôn mặt, đôi mắt.
Nói chung do có tính sáng tạo mạnh mẽ nên nền nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ từ xưa đã
rất phát triển. Đến thời hiện đại, có nhiều nhà văn của Ấn Độ đã đoạt giải Nobel như
Tagore. Còn trong lịch sử, nền văn học Ấn Độ ảnh hưởng nhiều bởi truyền thống văn
chương Hindi. Văn học cổ Ấn Độ cũng có lịch sử lâu đời và được truyền miệng phổ biến
trước khi hệ thống văn viết ra đời. Điều này cũng giống như lịch sử văn học của nhiều
nước khác.
Khả năng trí tuệ của người Ấn Độ
Triết học Ấn Độ: Ðời sống, tôn giáo và nền triết học gồm nhiều triết hệ của tiểu lục địa
Ấn Ðộ phô diễn một hỗn hợp phong phú và đầy kinh ngạc. Ðược phát triển từ hơn ba
ngàn năm trước, chúng gồm các ý tưởng, các thực hành và các phong tục xã hội. Tại Ấn
Độ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc nhất; đúng
hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn Ðộ cũng như Ấn
giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảo lưu một cách rộng rãi, trong đó
một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởng khác tới cả ngàn năm.
Quản trị Kinh doanh Quốc tế
[NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẤN ĐỘ] 23 | P a g e
Quả n t r ị K i n h d o a n h Q u ố c t ế
Có thế nói, các tư tưởng tôn giáo và nghệ thuật… phần nào đó bắt nguồn từ tư tưởng triết
học và cũng có thể coi chúng như là hệ thống tư tưởng triết học. Ấn Độ có lịch sử giao
thương, giao lưu từ rất lâu nên nhiều người quan niệm Ấn Độ mang nhiều đặc điểm của
giao lưu văn hóa Đông - Tây. Tôn giáo Ấn Độ ra đời từ sớm. Đạo Bàlamôn xuất hiện từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status